ĐH Kinh Tế & QTKD K4 KTĐT A
LỜI MỞ ĐẦU
Khi nói đến đầu tư quốc tế, người ta luôn nói đến công nghệ và chuyển giao công
nghệ. Vì khi nhà đầu tư đến một nơi nào đó để đầu tư, ngoài việc chuyển vốn đến địa
điểm đầu tư, nhà đầu tư còn mang theo công nghệ để áp dụng vào công việc sản xuất
kinh doanh của mình nhằm rút nhắn thời gian khởi động và duy trì nguồn cung cấp cho
bạn hàng truyền thống. Đối với bên tiếp nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển,
tham gia vào quá trình chuyển giao công nghệ còn là cơ hội đổi mới kỹ thuật, tiếp cận
với công nghệ mới từ các nước công nghiệp phát triển. Chuyển giao công nghệ là một
trong những đặc điểm nổi bật của sự phát triển kinh tế thế giới trong những thập kỷ gần
đây. Kinh nghiệm phát triển kinh tế của các nước thành công nhất cho thấy, việc tiếp
nhận một cách có hiệu quả công nghệ nước ngoài là một trong những yếu tố quan trọng
đảm bảo phát triển kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển đi trước.
Do yêu cầu giải phóng, bảo vệ và xây dựng đất nước, ôtô đã được sử dụng ở Việt
Nam khá sớm và có nhu cầu ngày càng mạnh. Những năm gần đây, Việt Nam đã tự sản
xuất và cung cấp được khá nhiều loại xe sử dụng trong nước, giảm số lượng xe nhập
khẩu, tiết kiệm cho Nhà nước một lượng ngoại tệ đáng kể. Tuy nhiên, mục tiêu chính mà
Việt Nam đặt ra không phải chỉ cung cấp một lượng xe cho thị trường hay tiết kiệm ngoại
tệ cho đất nước mà là xây dựng một ngành công nghiệp ôtô độc lập. Muốn thực hiện
được mục tiêu này, Việt Nam cần mở cửa thị trường ôtô nội địa cho các nhà đầu tư nhằm
vào các mục đích sau:
- Thu hút vốn.
- Nhận chuyển giao công nghệ
- Tiếp thu phương thức sản xuất mới
- Tạo việc làm.
Ở giai đoạn hiện nay, cả 4 mục tiêu trên đều rất quan trọng với Việt Nam, nhưng
nếu xét về lâu về dài và tính toán cả lợi ích của ngành công nghiệp ôtô thì mục tiêu công
nghệ có ý nghĩa hàng đầu.
Với mục đích nghiên cứu tình hình và tìm giải pháp cho hoạt động chuyên giao
công nghệ trong ngành công nghiệp ôtô Việt Nam, em xin chọn đề tài: "Tình hình chuyển
nguồn lực tự nhiên thành sản phẩm hàng hóa
1.2Các yếu tố cấu thành công nghệ:
Bất cứ một công nghệ nào từ đơn giản tới phức tạp đều bao gồm bốn thành
phần trang thiết bị (T), con người (H), thông tin (I), tổ chức (O). Có mối liên hệ
chặt chẽ tác động qua lại với nhau. Điều đó được thể hiện qua sơ đồ sauSinh viên: Ngô Thị Thúy Hường - 2 -
ĐH Kinh Tế & QTKD K4 KTĐT A
Phần cứng: là máy móc thiết bị, công cụ, nhà xưởng, phương tiện vận
chuyển…, những yếu tố này cho biết khả năng tái sản xuất mở rộng của doanh
nghiệp, của quốc gia.
Phần mềm bao gồm:
- Con người: là tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng tạo ra công nghệ
mới, kỹ năng, kỹ thuật điều khiển, vận hành thiết bị, khả năng lãnh đạo,…Đây là
yếu tố trung tâm của công nghệ, vì thực tế cho thấy nhiều quốc gia tuy không có
tài nguyên hoặc ít tài nguyên (điển hình là Nhật Bản), nhưng có nguồn lực con
người sáng tạo ra công nghệ, biết ứng dụng công nghệ, nên tiềm lực kinh tế vẫn
mạnh hơn một số nước có nguồn tài nguyên giàu có.
- Thông tin: là bản vẽ, thuyết minh, thiết kế; công thức mô tả kỹ thuật,
sáng chế…, cho biết khả năng tiết kiệm thời gian và chi phí sử dụng công nghệ.
- Tổ chức: Bao gồm những liên hệ, bố trí sắp xếp, đào tạo đội ngũ cán bộ
cho các hoạt động như phân chia nguồn lực, tao mạng lưới, lập kế hoạch, kiểm tra
điều hành.
1.3Phân loại công nghệ:
Hiện nay số lượng loại công nghệ nhiều tới mức không thể xác định chính
xác, do đó việc phân loại chính xác, chi tiết là điều rất khó khăn. Tuỳ theo mục
đích, có thể phân loại công nghệ như sau:
Theo tính chất: Công nghệ sản xuất, công nghệ thông tin, công nghệ đào
tạo- giáo dục.
đến môi trường, sử dụng các nguồn nguyên liệu thô và năng lượng hợp lý.
Theo đặc thù của công nghệ có thể chia thành hai loại: công nghệ cứng và
công nghệ mềm. Cách phân loại này xuất phát từ quan niệm công nghệ gồm bốn
thành phần trong đó kĩ thuật là phần cứng còn ba yếu tố còn lại là phần mềm. Một
công nghệ mà phần cứng của nó được đánh giá là vai trò chủ yếu thì công nghệ
đó được coi là công nghệ phần cứng và ngược lại. Cũng có quan niệm coi công
nghệ cứng là công nghệ khó thay đổi; còn công nghệ mềm là công nghệ có chu
trình sống ngắn phát triển nhanh.
Theo đầu ra của công nghệ, có công nghệ sản phẩm và công nghệ quá
trình: công nghệ sản phẩm liên quan thiết kế sản phẩm (thường bao gồm các phần
mềm) và việc sử dụng, bảo dưỡng sản phẩm (thường bao gồm các phần mềm sử
dụng sản phẩm); trong khi công nghệ quá trình để chế tạo ra sản phẩm đã được
thiết kế (liên quan tới bốn thành phần công nghệ).
Sinh viên: Ngô Thị Thúy Hường - 4 -
ĐH Kinh Tế & QTKD K4 KTĐT A
2 Những vấn đề chung về chuyển giao công nghệ:
2.1 Khái niệm
Theo APCTT (Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á-Thái Bình
Dương): Chuyển giao công nghệ (CGCN) là hoạt động mua hoặc bán theo pháp
luật giữa các tổ chức, trong đó đối tượng mua bán là công nghệ. Bản chất của
chuyển giao công nghệ quốc tế là công nghệ được di chuyển qua biên giới một
quốc gia.
Theo luật quốc tế về chuyển giao công nghệ: CGCN là quá trình chuyển
giao một hệ thống kiến thức giữa bên giao và bên nhận để:
- Chế tạo ra một sản phẩm.
- Áp dụng một quy trình trong sản xuất.
- Cung cấp một dịch vụ.
Một số khái niệm khác:
- CGCN là sự di chuyển công nghệ từ đơn vị này sang đơn vị khác, quá
trình này bao gồm 2 chủ thể là bên giao và bên nhận công nghệ, trong đó
nhiều màu sắc. Nhãn hiệu hàng hóa phải được xác nhận bằng văn bản bảo
hộ do cục SHCN cấp.
- Tên gọi xuất xứ hàng hóa: là tên địa lý của nước, địa phương dùng để
chỉ xuất xứ mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng
này có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo
và ưu việt bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp của hai yếu tố
đó.
Quyền sở hữu đới với SHCN có thể được xác lập theo văn bằng bảo hộ do
cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước cấp nếu Chủ sở hữu nộp đơn yêu cầu.
Bí quyết kiễn thức kĩ thuật về công nghệ dưới dạng phương án công nghệ,
các giải pháp kĩ thuật,quy trình công nghệ, fần mềm máy tính, tài liệu thiết kế,
công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật có hoặc không kèm máy móc
thiết bị
Các giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ.
Các hình thức dịch vụ kĩ thuật hỗ trợ chuyển giao công nghệ, hỗ trợ lựa
chọn công nghệ, tư vấn quản lý công nghệ, tư vấn pháp lý kinh doanh, hướng dẫn
thực hiện quy trình công nghệ và chuyển giao, đào tạo, huấn luyện, nâng cao trình
độ của công nhân và cán bộ quản lý, cán bộ kĩ thuật để nắm vứng công nghệ được
chuyển giao.
Sinh viên: Ngô Thị Thúy Hường - 6 -
ĐH Kinh Tế & QTKD K4 KTĐT A
2.3 Phân loại chuyển giao công nghệ:
Căn cứ theo chủ thể tham gia chuyển giao công nghệ
- Chuyển giao công nghệ trong nội bộ công ty hoặc tổ chức.
- Chuyển giao công nghệ trong nước.
- Chuyển giao công nghệ nước ngoài.
Căn cứ theo luồng chuyển giao công nghệ
- Chuyển giao dọc (thường diễn ra trong nội bộ công ty): là sự chuyển
giao các công nghệ hoàn toàn mới mẻ đòi hỏi phải có một sự đồng bộ từ
nghiên cứu thí nghiệm tới sản xuất thử rồi sản xuất hàng loạt để đảm bảo
công nghệ phát triển nhanh, chu trình sống của công nghệ rất ngắn, những người
đi sau trong công nghệ này muốn có công nghệ đã xuất hiện trên thị trường
thường thông qua chuyển giao.
Hoạt động đầu tư quốc tế phát triển. Xu thế mở rộng hợp tác, khuyến khích
thương mại tạo điều kiện cho mua, bán kể cả mua bán công nghệ.
Không quốc gia nào trên thế giới có đủ mọi nguồn lực để làm ra tất cả các
công nghệ cần thiết một cách kinh tế, do nhiều nước muốn có một công nghệ
thường cân nhắc về phương diện kinh tế giữa mua và làm.
Sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia trên thế giới về công
nghệ (85% các sáng chế công nghệ nằm trong tay sáu nước), nhiều nước
không có khả năng tạo ra công nghệ mà mình cần, buộc phải mua để đáp ứng
các nhu cầu cấp thiết.
2.5 Vai trò của chuyển giao công nghệ:
Chuyển giao công nghệ có vai trò to lớn đối với nền kinh tế thế giới nói
chung và nền kinh tế của mỗi nước nói riêng. Chuyển giao công nghệ có lợi cho
cả hai bên bên giao và bên nhận. Ngày nay trong xu thế quốc tế hoá nền kinh tế
thế giới cùng với trình độ phân công lao động, chuyên môn hoá ở tầm chuyên sâu
đến từng chi tiết sản phẩm. Hoạt động chuyển giao công nghệ góp phần thúc đẩy
thương mại quốc tế phát triển cho phép khai thác lợi thế so sánh giữa các quốc
gia. Mặt khác nó còn làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế thế giới theo hướng gia tăng
tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp. Công nghệ tạo năng xuất lao động cao hơn cùng
sự phong phú về chủng loại sản phẩm phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của thị
trường. nó là vũ khí cạnh tranh của các doanh nghiệp, các nền kinh tế, có vai trò
to lớn đối với vấn đề môi trường trong quá trình khai thác nguồn tài nguyên thiên
nhiên và quá trình chế tác, sử dụng.
Sinh viên: Ngô Thị Thúy Hường - 8 -
ĐH Kinh Tế & QTKD K4 KTĐT A
2.5.1 Đối với bên chuyển giao công nghệ:
Nhà cung cấp công nghệ thường ở những nước phát triển
- Có điều kiện đổi mới công nghệ nhờ thu hồi vốn từ chuyển giao công
- Tiếp thu công nghệ mới và kỹ năng phức tạp nhằm nâng cao chất lượng
của đội ngũ lao động.
- Tiếp thu công nghệ mới có thể tạo ra loại sản phẩm hoàn toàn mới.
- Nếu thành công có cơ hội rút năng thời gian công nghiệp hóa đồng thời
đi tắt vào các công nghệ hiện đại nhất.
- Thiết lập quan hệ với đối tác nước ngoài và thị trường nước ngoài.
Tuy nhiên công ty có thể gặp phải một số rủi ro trong quá trình chuyển giao
công nghệ.
Bảng 1: Những rủi ro trong CGCN đối với bên nhận CN và cách đề phòng
Những rủi ro Chiến lược đề phòng
1 Không nắm được công nghệ Chú ý đến chất lượng của đội ngũ lao động
2 Phụ thuộc và công nghệ nhập
khẩu
Trong hợp đồng CGCN phải có những
điều khoản ràng buộc bên giao phải
chuyển giao công nghệ trọn gói trước khi
hết thời hạn hợp đồng.
3 Bên giao không có đủ năng lực
CGCN (các đối tượng được
chuyển giao không đồng bộ)
Tìm hiểu kỹ về đối tác và công nghệ trước
khi ký kết hợp đồng. Tham khảo thêm ý
kiến những khách hàng trước đây của đối
tác.
4 Sự thất bại của công nghệ
(không phù hợp với điều kiện
hiện tại của bên nhận công
nghệ)
Nghiên cứu kỹ điều kiện vận hành của
công nghệ và khả năng thích ứng của bên
nói riêng:
Công nghiệp ô tô là một ngành công nghiệp khổng lồ mang tính toàn cầu.
Hàng năm, khu vực công nghiệp này chế tạo khoảng 50 triệu xe với giá trị
khoảng 600 tỷ USD. Mỹ, Nhật và Tây Âu là các trung tâm lớn chế tạo và tiêu thụ
ôtô nhiều nhất.
Công nghiệp ôtô là ngành công nghiệp tổng hợp mà việc xây dựng và phát
triển ngành này không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu thị trường trong nước về
phương tiện giao thông vận tải mà còn tạo ra một ngành công nghiệp then chốt
của nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ: cứ 1
đồng vốn bỏ vào công nghiệp ôtô thì phải đầu tư 8 đồng vốn cho các ngành công
nghiệp phụ cận. Một xe du lịch hiện đại thì có trên 13.000 chi tiết. Các thống kê
cho thấy ngành công nghiệp ôtô tiêu thụ 77% cao su thiên nhiên, 50% cao su tổng
hợp, 67% thì <40% máy công cụ, 25% thủy tinh, 64% gang rèn và 20% các vật
liệu bán dẫn (các linh kiện điện tử trong ô tô con đã chiếm giá trị tới 900 USD,
cao hơn giá trị của thép ôtô), các vật liệu nhẹ sử dụng trong công nghiệp ôtô ngày
càng tăng do con người ngày càng yêu cầu cao đối với độ bền đẹp, hiện đại và
tiện nghi của ôtô. Hàng năm, ở Nhật có 4,5 - 5 triệu ôtô bị thải loại không sử dụng
được, trong đó 75% phế liệu là có thể tái chế.
Ôtô là sản phẩm hàng tiêu dùng, vừa là phương tiện sản xuất, có giá trị cao
nhất trong đời sống xã hội của con người (chỉ sau các bất động sản) và được sản
xuất với số lượng lớn. Trong tương lai, khi nhu cầu sản lượng tới vài trăm ngàn
xe ôtô một năm thì ngành công nghiệp ôtô cùng các ngành sản xuất phụ tùng sẽ
đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước. Chính vì vậy, công nghiệp ôtô
Sinh viên: Ngô Thị Thúy Hường - 11 -
ĐH Kinh Tế & QTKD K4 KTĐT A
tuy chỉ là ngành sản xuất phương tiện giao thông, nhưng sự phát triển của nó lại
thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành khác, nên công nghiệp ôtô sẽ cung cấp
việc làm trên diện rộng và sự tăng trưởng cao cho cấu trúc công nghiệp, góp phần
làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
một chương trình do đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nhằm đưa