Sáp nhập, mua lại làm tăng giá trị cho
các cổ đông như thế nào?
Việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư làm tăng giá trị cổ phần cho các cổ đông là
một trong những mục tiêu quan trọng nhất của các nhà quản trị doanh
nghiệp, đồng thời đây cũng là một trong những tiêu chuẩn hàng đầu mà các
nhà đầu tư tìm kiếm ở các cơ hội đầu tư.
Sáp nhập và mua lại (M&A) được xem là một trong những cách thức được các nhà
quản trị sử dụng để thực hiện mục tiêu ấy. Với sự bùng nổ của các vụ M&A trên
thế giới và ở Việt Nam trong thời gian qua đã chứng tỏ được phần nào sức hút
mạnh mẽ của hoạt động M&A. Hẳn nhiên thế giới M&A không hoàn toàn chứa
những điều kỳ diệu, không phải phi vụ M&A nào cũng thành công như mong đợi.
Thậm chí, có thể số vụ thất bại còn gấp nhiều lần so với số vụ M&A thành công.
Thế nhưng một khi thành công, M&A lại có khả năng làm tăng giá trị cho các cổ
đông đến kinh ngạc. Do vậy, có thể hiểu vì sao M&A tiếp tục chứng tỏ sức hấp
dẫn của mình trên thị trường.
Bằng cách nào mà giá trị của các doanh nghiệp có thể tăng lên đáng kể thông qua
việc mua lại hoặc sáp nhập với một công ty khác. Nói cách khác, giá trị của các cổ
đông đã gia tăng như thế nào qua việc thực hiện M&A?
Định giá các công ty M&A
Gía trị của một doanh nghiệp được nhà đầu tư đánh giá thông qua các kỳ vọng về
doanh nghiệp đó trong tương lai. Một cách đơn giản nhất để thực hiện định giá
một doanh nghiệp đó chính là việc đưa tất cả các dòng tiền kỳ vọng trong tương
lai chiết khấu về hiện tại với mức lãi suất chiết khấu hợp lý. Tuỳ theo mức đòi hỏi
tỷ suất sinh lợi khác nhau của từng nhà đầu tư mà họ sẽ quyết định đầu tư hay
không? Cổ đông của doanh nghiệp luôn luôn kỳ vọng vào khả năng sinh lợi hiệu
quả khi quyết định đầu tư vào các cơ hội đầu tư có nhiều rủi ro. Chi phí sử dụng
vốn đựơc xem xét như một yếu tố then chốt khi các nhà quản trị thực hiện quyết
định đầu tư. Chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp có ý nghĩa như là tỷ suất sinh
tăng thị phần, mở rộng thị trường. Cách thức thường gặp trong trường hợp này là
một doanh nghiệp muốn thực hiện việc bán hàng hiệu quả hơn kết hợp với một
doanh nghiệp chuyên về marketing. Các nhà quản trị sẽ tạo nên mối liên kết giữa 2
doanh nghiệp như việc đề xuất những nhân viên bán hàng xuất sắc nhất và giao
nhiệm vụ cho những nhà quản trị marketing tài năng nhất để họ có thể có những
phối hợp tốt nhất thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp bán hàng. Ngược lại, hoạt
động mua lại cũng giúp các doanh nghiệp có thể cắt giảm các nhân sự bán hàng
hoặc các sản phẩm không hiệu quả. Như vậy, quy trình huấn luyện và bán hàng
mới đã làm tăng tổng doanh thu cho doanh nghiệp thông qua đẩy nhanh hàng hoá
với người tiêu dùng. Những phối hợp kiểu như trên không chỉ giới hạn trong lĩnh vực bán hàng và
marketing, nó có thể được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực mà các doanh nghiệp
có thể kết hợp với nhau. Các nhà quản trị đã rút ra nhận định, thông thường các vụ
mua lại và các phối hợp như vậy sẽ thành công với các công ty trong lĩnh vực
nhân sự, công nghệ thông tin, tài chính, hay các công ty sản xuất với nhau... Việc
xúc tiến và tăng cường áp dụng các quy trình tối ưu trong các bộ phận khác nhau
đã làm cho một tổ chức trở nên mạnh hơn. Và dĩ nhiên là, chẳng có gì đáng ngạc
nhiên khi các công ty kinh doanh hiệu quả như vậy được thị trường đánh giá cao.
Giá cả cạnh tranh
Một số công ty chủ động thực hiện hoạt động M&A nhằm mục đích mở rộng thị
trường. Thị phần cao hơn sẽ dẫn đến hiện tượng sức mua tăng cao hơn khả năng
cung cấp. Các đơn đặt hàng gia tăng, doanh nghiệp phải sản xuất nhiều sản phẩm
hơn, và do đó giá cả nguyên vật liệu sẽ giảm xuống, cho phép công ty có thể có
được một giá cả cạnh tranh hơn. Khi nhà cung cấp thoả mãn với chi phí biên giảm
trên mỗi đơn vị, họ cũng sẵn lòng thực hiện các khoản chiết khấu nhiều hơn cho
khách hàng. Điều này cho thấy vòng quay sản phẩm và dịch vụ của họ đang tăng
nhau sẽ có nhiều biện pháp để giảm hoặc hạn chế các bộ phận giống nhau hoặc
các chức năng chồng chéo nhau. Ví dụ, lĩnh vực luật, tài chính và bộ phận nguồn
nhân lực có thể kết hợp sẽ có thể làm giảm chi phí.
Thay lời kết
Nói một cách ngắn gọn thì các công ty lớn hơn thường sẽ có khuynh hướng mong
muốn được thị trường định giá cao hơn. Một doanh nghiệp nhỏ với doanh thu
khoảng 10 triệu USD và biên lợi nhuận ròng khoảng 10% thì sẽ được định giá thấp
hơn một doanh nghiệp có doanh thu 100 triệu USD có cùng biên lợị nhuận ròng là
10%. Các công ty lớn hơn được nhà đầu tư mặc định là có rủi ro doanh nghiệp ít
hơn. Bởi vì các dòng tiền hoạt động lớn hơn sẽ cho phép các nhà quản trị đủ khả
năng đáp ứng nghĩa vụ đối với các chủ nợ. Cũng như lúc đầu đã đề cập, việc định
giá một doanh nghiệp phụ thuộc vào kỳ vọng dòng tiền trong tương lai mà nhà đầu
tư mong đợi cho khoản đầu tư của mình. Do đó, các nhà quản trị luôn cố gắng để
gia tăng hoặc ít nhất là duy trì tỷ suất sinh lợi tối thiểu cho cổ đông thông qua việc
mua lại các doanh nghiệp khác, hi vọng với các phương thức khác nhau có thể làm
gia tăng dòng tiền tương lai.