MỤC LỤC
I. Lí do chọn đề tài………………………………………………………………..trang 2
II. Nội dung sáng kiến.
1. Cơ sở lí luận…………………………………………………………………...trang 3
2. Thực trạng vấn đề……………………………………………………………...trang 3
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề………………………….......trang 4
III. Hiệu quả đạt được…………………………………………………………...trang 18
IV. Kết luận……………………………………………………………………..trang 20
V. Đề xuất và kiến nghị…………………………………………………………trang 21
Tài liệu tham khảo………………………………………………………………trang 23
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
GV: Trương Thị Tuyết Hân
Sáng kiến kinh nghiệm
Do hưởng ứng chủ trương đổi mới phương pháp dạy học được xác định từ trong
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1/1993); Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
(12/1996) và được thể chế trong Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (năm 2005, sửa đổi năm 2009, 2010,…..): “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh; phù hợp với
đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh” (Điều 28.2)
Do thực trạng trong xã hội ngày nay, học sinh rất ít quan tâm đến các mơn xã hội,
trong đó có mơn sử. Bởi theo các em, học các mơn tự nhiên dễ chọn ngành nghề
về sau. Cịn học các mơn xã hội thì khơng nhiều ngành nghề để lựa chọn và thu
nhập từ các ngành nghề nhóm xã hội không cao. Hơn nữa, việc giảng dạy các
môn xã hội, nhất là môn sử chưa tạo được hứng thú học tập cho học sinh bởi
nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nên tâm thế học sinh khi học lịch sử
cung cấp sự kiện để tạo biểu tượng lịch sử, hình thành khái niệm, rồi mới nêu
được quy luật, rút ra bài học kinh nghiệm và vận dụng vào thực tiễn. Việc cung
cấp sự kiện lịch sử cho học sinh càng cụ thể, giàu hình ảnh bao nhiêu thì các em
càng hứng thú học tập và hiểu biết lịch sử bấy nhiêu.
Ngày nay nhờ vào cơng nghệ thơng tin, giáo viên có thể dễ dàng giúp học sinh đi
“từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, hiểu đúng bản chất của sự kiện,
hiện tượng lịch sử, từ đó có tư tưởng tình cảm đúng đắn và phát triển tồn diện ở
các em. Bởi vì, theo các chuyên gia giáo dục, nếu cứ áp dụng phương pháp dạy
học truyền thống thì 90% tri thức của học sinh được tiếp nhận qua tai, 10% qua
mắt sau một thời gian ngắn sẽ rơi vào tâm trạng mệt mỏi, giảm sự chú ý, nhưng
nếu các em vừa được nghe, vừa được nhìn thơng qua hình ảnh, kết hợp với các
hoạt động (tức là huy động cùng một lúc nhiều giác quan) thì kết quả ghi nhớ
kiến thức của học sinh đạt hơn 90%.
Vận dụng những tính năng vượt trội của cơng nghệ thơng tin. Trong những năm
qua, tôi đã mạnh dạn áp dụng bài giảng điện tử trong trong dạy học lịch sử, đặc
biệt là trong các tiết dạy lịch sử địa phương An Giang nhằm cung cấp cho các em
nhiều hình ảnh trực quan, những thước phim sinh động,…tạo hứng thú trong học
tập, giúp các em khắc sâu kiến thức lịch sử của địa phương mình. Qua đó, hình
thành cho học sinh tình u quê hương và có thái độ đúng đắn trong việc bảo vệ
di sản văn hóa của địa phương mình.
2. Thực trạng vấn đề.
Từ năm 2012, khi chuyển về công tác tại trường THPT Ung Văn Khiêm được
phân công phụ trách dạy môn lịch sử. Tôi nhận thấy trong phân phối chương
trình mơn lịch sử cấp trung học phổ thơng chỉ dành thời lượng 1 tiết để dạy lịch
sử địa phương An Giang cho mỗi khối lớp. Do thời lượng ít, tư liệu phục vụ cho
việc dạy lịch sử địa phương An Giang chưa nhiều và lịch sử địa phương thường
không nằm trong nội dung thi cử nên giáo viên chưa đầu tư đúng mức cho tiết
dạy hoặc dành thời gian để dạy nội dung khác vì vậy nhận thức về văn hóa, lịch
sử địa phương của học sinh có phần hạn chế.
Từ năm học 2012 đến 2015, trong các tiết dạy lịch sử địa phương, tôi vẫn áp
các hoạt động trên lớp, minh họa cho bài giảng nhằm tạo hứng thú học tập cho
học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử địa phương An Giang.
Dưới đây tôi xin chia sẻ cách thiết kế và giảng dạy một tiết lịch sử địa phương An
Giang ở lớp 10.
Bài 4 TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI AN GIANG DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
(1802-1867).
Khi giới thiệu vào bài mới, tôi chèn một đoạn bài hát “Về An Giang” do Trần
Chương sáng tác: Có ai về An Giang xem cây lúa trổ bơng. Có ai về An Giang
xem sắn khoai đầy đồng. Về An Giang nghe cơ hai lý...lý con sáo sang sơng. Hị
ơi... là hị ơi .....Mái chèo thoan thoắt trên sơng, sơng Tiền, sông Hậu cá tôm đầy
khoan. Mau về quê mẹ trái cây đầy vườn. Long Xuyên ơi, Châu Đốc ơi. Em là
con gái Tân Châu đánh giặc giữ nước trồng lúa cũng hay. Đánh giặc giữ nước
dệt lụa...càng khéo ta. An giang ơi! Câu hị bến nước xơn xao. Tri Tơn Bảy Núi
anh hùng cịn đây. Ai về có nhớ hôm nay, riêng ta về ta nhớ ... người mà ta yêu.
GV: Trương Thị Tuyết Hân
Sáng kiến kinh nghiệm
Mục đích của việc đưa bài hát này vào nhằm tạo khơng khí vui tươi giúp học sinh
sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới.
Dưới đây là hình ảnh slide minh họa chèn âm thanh.
Sau khi học sinh nghe xong một đoạn bài hát. Tôi đặt câu hỏi để lôi cuốn học sinh
vào bài mới: Bài hát trên nhắc đến vùng đất nào? Ngày xưa vùng đất này có
gọi là gì? Tên gọi An Giang chính thức có từ khi nào?
Học sinh nhớ lại kiến thức cũ để trả lời.
Từ câu trả lời của học sinh, tôi dẫn dắt vào bài mới: Hơm nay, cơ trị chúng ta sẽ
ngược dịng lịch sử để tìm hiểu về vùng đất An Giang xưa, để cùng tìm hiểu về
tình hình kinh tế, xã hội và văn hóa An Giang dưới triều Nguyễn (1802-1867).
Như vậy, nếu tính theo địa giới ngày nay thì tỉnh An Giang của chúng ta chỉ là
một phần của tỉnh An Giang dưới triều Nguyễn.
Tôi giảng thêm: Vùng đất An Giang xưa rất hoang vu, chủ yếu là rừng rậm,
những lưu dân đến đây khai phá vùng đất này đã ghi lại cảm giác của mình như
sau:
Ở đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ,
Con cá vùng cũng kinh
Chèo ghe sợ sấu cắn chân
Xuống bưng sợ đỉa
GV: Trương Thị Tuyết Hân
Sáng kiến kinh nghiệm
Lên rừng sợ ma
Những người có cơng trong việc khai phá vùng đất Nam bộ nói chung và vùng
đất An giang nói riêng như Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Văn Thoại (đào kênh
Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế), Đoàn Minh Huyên…
Từ những hoạt động khai hoang, mở đất, lập làng ….đã làm cho hoạt động kinh
tế ở An Giang dưới triều Nguyễn có những chuyển biến.
Từ chuyển ý trên, tơi dẫn dắt học sinh vào tìm hiểu mục 1 của bài.
1. Tình hình kinh tế.
Nhằm giúp học sinh chủ động nắm được những nét cơ bản về tình hình nơng
nghiệp, thủ cơng nghiệp và thương nghiệp của nhân dân An Giang dưới triều
Nguyễn.
Đồng thời để giúp học sinh rèn kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng trình bày nên ở
mục này tơi sử dụng phương pháp cho học sinh thảo luận theo nhóm.
Việc phân nhóm và câu hỏi thảo luận được thiết kế và thể hiện trên slide sau:
Ngoài ra, nhân dân An Giang còn trồng các loại rau, củ, cây ăn quả…
Ở nội dung thủ công nghiệp, để minh họa cho các ngành nghề thủ công ở An
Giang. Tôi thiết kế và cho các em xem slide gồm nhiều hình thể hiện một số nghề
thủ cơng nổi tiếng ở An Giang. Dưới đây là hình ảnh slide minh họa.
Học sinh được u cầu quan sát hình để nói tên những nghề thủ cơng truyền
thống cịn tồn tại đến ngày nay và nghề thủ cơng đó thuộc huyện nào của tỉnh An
Giang.
Tôi kết nối với một đoạn clip ngắn (khoảng hơn 1 phút) giới thiệu về nghề mộc ở
chợ Thủ (huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang) nhằm giúp cho học sinh hiểu thêm về
nghề truyền thống của quê hương. (Clip được cắt ra từ kí sự Sơng nước miệt
vườn của đài truyền hình Nhân Dân)
GV: Trương Thị Tuyết Hân
Sáng kiến kinh nghiệm
Dưới đây là hình ảnh đoạn clip minh họa.
Sau khi học sinh xem xong đoạn clip, tơi hỏi: Em có nhận xét gì về làng nghề
mộc ở Chợ Thủ?
Học sinh trình bày suy nghĩ của bản thân về nghề thủ cơng truyền thống ở địa
phương. Qua đó, rèn luyện cho học sinh kĩ năng nhận định, đánh giá một vấn đề
nào đó.
Ở nội dung thương nghiệp. Tơi thiết kế, trình chiếu và giới thiệu cho các em một
số hình ảnh, tư liệu về hoạt động thương nghiệp ở An Giang dưới triều Nguyễn.
Cung cấp cho học sinh thông tin : Giữa thế kỉ XIX, vùng Nam Kỳ lục tỉnh có 93
chợ lớn nhỏ, trong đó An Giang có 12 chợ (theo Đại Nam nhất thống chí). Theo
ranh giới hành chính hiện nay, trong 12 chợ thì An Giang chỉ có 1 chợ Tú Điền
thuộc huyện Đông Xuyên (nay là Chợ Thủ ở xã Long Điền A, huyện Chợ Mới).
GV: Trương Thị Tuyết Hân
Sáng kiến kinh nghiệm
Tơi thiết kế và trình chiếu slide thể hiện Bản đồ khởi nghĩa Thất Sơn (18411842) và yêu cầu một học sinh lên trình bày tóm tắt cuộc khởi nghĩa trên bản đồ
(cho thời gian để các em tìm hiểu trước khi xác định trên bản đồ).
Khi học sinh trình bày tốt tôi cho điểm trực tiếp hoặc cho điểm cộng để khích lệ
tinh thần học tập của các em. Tôi nhấn mạnh lại những nội dung quan trọng và
kết luận: Khởi nghĩa Thất Sơn tuy thất bại nhưng đã nói lên tinh thần đấu tranh
chống lại cường hào, ác bá của nhân dân An Giang ngay buổi đầu khai phá.
Như vậy ở mục 2 này, khi tôi dạy theo phương pháp truyền thống sẽ gặp khó
khăn trong việc chuẩn bị bản đồ. Vì bản đồ về cuộc khởi nghĩa Thất Sơn (18411842) hầu như phòng thiết bị của trường khơng có. Hoặc là giáo viên vẽ, hoặc
photo nhưng chất lượng và hiệu quả sử dụng khơng cao bởi hình ảnh mờ, kích
thước nhỏ. Nhưng với bài giảng điện tử, thì những hình ảnh, bản đồ được phóng
to, học sinh dễ dàng trực quan. Cùng với phương pháp cho học sinh trình bày
diễn biến trên bản đồ sẽ giúp các em rèn luyện kĩ năng thuyết trình, giúp các em
tự tin hơn, tích cực hơn.
GV: Trương Thị Tuyết Hân
Sáng kiến kinh nghiệm
Tơi chuyển ý để dẫn học sinh vào tìm hiểu mục 3.
3. Tình hình văn hóa, giáo dục.
Để học sinh chủ động nắm kiến thức. Ở mục này tôi cho học sinh làm việc theo
nhóm để hồn thành phiếu học tập với nội dung tìm hiểu những nét văn hóa tiêu
biểu của An Giang dưới thời Nguyễn. Phiếu học tập được phát cho các nhóm (2
bàn quay lại thành 1 nhóm). Ngồi ra tơi cịn thiết kế phiếu học tập trên slide để
Tơi tiếp tục gọi một nhóm khác trình bày lĩnh vực “văn học” và “nghệ thuật dân
gian”. Các nhóm khác nhận xét và bổ sung nếu có.
Sau đó tơi làm hiệu ứng trên slide để phản hồi thông tin.
GV: Trương Thị Tuyết Hân
Sáng kiến kinh nghiệm
Dưới đây là hình ảnh slide minh họa.
Đồng thời tơi kết nối để trình chiếu và giới thiệu đơi nét về các loại hình nghệ
thuật ở An Giang dưới triều Nguyễn như nghệ thuật tuồng, các điệu múa và lễ hội
của người Chăm, người Khơme.
Dưới đây là hình ảnh slide minh họa.
GV: Trương Thị Tuyết Hân
Sáng kiến kinh nghiệm
Tiếp tục tơi mời 1 nhóm khác trình bày về lĩnh vực “kiến trúc”. Các nhóm cịn lại
bổ sung. Sau đó tơi làm hiệu ứng trên slide để phản hồi thơng tin.
Dưới đây là hình ảnh slide minh họa.
Tơi kết nối với slide hình ảnh những cơng trình kiến trúc tiêu biểu ở An Giang
như Lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An (Châu Đốc), đình Châu Phú.
Dưới đây là hình ảnh slide minh họa.
GV: Trương Thị Tuyết Hân
GV: Trương Thị Tuyết Hân
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Trương Thị Tuyết Hân
Sáng kiến kinh nghiệm
Do đến lớp 11 học sinh mới học tiếp lịch sử địa phương An Giang. Vì vậy, giáo
viên chỉ dặn học sinh về xem lại bài đã học và xem trước bài 27 Quá trình dựng
nước và giữ nước trong sách giáo khoa lịch sử lớp 10.
III. HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1. Về cảm nhận của học sinh.
Qua khảo sát thái độ của học sinh khi học tiết lịch sử địa phương An Giang ở lớp
10 (Bài 4 Tình hình kinh tế-xã hội An Giang dưới triều Nguyễn (1802-1867)) qua
3 năm học 2014-2015; 2015-2016; 2016-2017.
Cách tiến hành như sau: Tôi chọn mỗi năm học 1 lớp với số lượng 38 học sinh.
Sau mỗi tiết dạy, tôi phát cho học sinh phiếu đánh giá mức độ thích thú khi học
tiết lịch sử địa phương An Giang. Trong phiếu thể hiện 3 mức độ cảm nhận:
Nhàm chán, bình thường và thích thú.
Kết quả thu được:
Đánh giá
Nhàm chán
Bình thường
Thích thú
47.4 %
NH 20162017
2 HS
10 HS
26 HS
Tỉ lệ
5.3 %
26.3 %
68.4 %
(38 học sinh)
Ghi chú:
- Từ viết tắt: NH: năm học; HS: học sinh.
GV: Trương Thị Tuyết Hân
Sáng kiến kinh nghiệm
- Năm học 2014-2015: dạy tiết lịch sử địa phương An Giang ở lớp 10 theo
phương pháp truyền thống.
10 HS
5 HS
Tỉ lệ
26.3%
34.2%
26.3%
13.1%
NH 2015-2016
13 HS
15 HS
8 HS
2 HS
Tỉ lệ
34.2%
39.5%
Sáng kiến kinh nghiệm
với những hình ảnh, clip trực quan sinh động giúp các em khắc sâu kiến thức bài
học.
IV. KẾT LUẬN
Trên đây là kinh nghiệm thiết kế và giảng dạy một tiết lịch sử địa phương An
Giang ở lớp 10 bằng bài giảng điện tử. Trong q trình thực hiện, tơi đã giải
quyết được những vấn đề sau:
- Chọn được những tranh ảnh, tư liệu, công nghệ phù hợp cho bài giảng.
- Bài giảng được thiết kế tương đối có hệ thống, giúp học sinh dễ dàng tiếp thu
kiến thức.
- Nâng cao hiểu biết của bản thân về công nghệ thông tin.
- Từ kết quả đạt được thúc đẩy tôi tiếp tục đổi mới, sáng tạo trong soạn giảng.
- Trong quá trình giảng dạy, học sinh được trực quan, được thảo luận và trình bày
ý kiến, chơi giải ơ chữ,.....từ đó học sinh thích thú, chủ động học tập.
- Với cách thiết kế và giảng dạy này, học sinh khơng cịn thụ động nghe giảng
kiến thức nữa. Các em phải tham gia vào quá trình giảng dạy, chủ động nắm kiến
thức. Vì vậy, kiến thức các em nắm được sẽ khắc sâu hơn.
- Cũng với cách thiết kế và giảng dạy này, tiết lịch sử địa phương An Giang ở lớp
10 không cịn nhàm chán, khơ khan nữa. Học sinh cảm thấy tiết học sinh động
hơn, vui vẻ, nhanh hiểu bài hơn. Nhờ đó, học sinh có được những kiến thức nhất
định về lịch sử, văn hóa quê hương An Giang. Từ đó, các em u q hương
mình hơn, có thái độ tơn kính đối với những người có cơng trong việc khai phá,
xây dựng và phát triển vùng đất An Giang. Các em có nhận thức đúng đắn trong
việc bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa của q hương mình.
Đối với đồng nghiệp có dạy lịch sử ở khối 10, có thể sử dụng bài giảng này để
giảng dạy trong các tiết dạy lịch sử địa phương An Giang. Hoặc sử dụng tranh,
ảnh, tư liệu, clip...trong bài giảng để thiết kế lại cho phù hợp với đặc điểm của
- Cần mạnh dạn tự tin trình bày ý kiến thảo luận của nhóm hoặc quan điểm của
bản thân về một vấn đề nào đó được giáo viên đưa ra.
* Đối với nhà trường:
- Thư viện trường cần trang bị thêm nhiều sách về lịch sử, văn hóa địa phương An
Giang để giáo viên, học sinh tham khảo.
- Các phịng máy chiếu ln đảm bảo hoạt động tốt để việc giảng dạy bằng bài
giảng điện tử khơng bị gián đoạn.
- Khuyến khích giáo viên trong tổ chia sẻ kinh nghiệm thiết kế giáo án và giảng
dạy lịch sử địa phương có hiệu quả.
- Hội đồng bộ môn cần xây dựng ngân hàng bài giảng điện tử để giáo viên trong
tỉnh có thể học hỏi hoặc chia sẻ kinh nghiệm.
GV: Trương Thị Tuyết Hân
Sáng kiến kinh nghiệm