Ngành nông nghiệp và khảo cổ học miền bắc việt nam
Mở đầu
Sau khi di dời từ Sài Gòn ra Hà Nội năm 1901, Trường Viễn Đông Bác Cổ đã giúp phát
triển hoạt động khảo cổ ở Việt Nam, đặc biệt Miền Bắc trong giai đoạn ban đầu. Năm
1906
, cuộc khai quật đầu tiên được thực hiện ở hang Thẩm Khoách, phố Bình Gia, tỉnh
Lạng Sơn (Viện Khảo Cổ Học, 1998). Một số công trình khảo cổ có tầm quốc tế phát
xuất từ Trường Bác Cổ này. Nền văn hóa Hòa Bình là một thí dụ. Nền văn hóa có tên
Hòa Bình (Hoabinhian) có đặc tính nổi bật là các di vật đá cuội và đá mài, được tìm thấy
không những ở tỉnh Hòa Bình lần đầu tiên, mà còn ở nhiều nước Đông Nam Á sau này.
Trong hơn một thế kỷ vừa qua, ngành khảo cổ đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm do
tình hình chính trị và chiến tranh trong nước, nhưng đã vượt qua nhiều thử thách của con
người và thời cuộc để đạt được một số thành quả đánh giá cao. Mặc dù còn cần đến nhiều
cuộc khai quật và nghiên cứu sâu rộng hơn, ngành khảo cổ học Miền Bắc đã có cái nhìn
tổng quan, khái niệm khá rõ rệt về các thời kỳ tiến hóa và đời sống của con người trên đất
nước này cách nay ít nhứt khoảng 30.000 năm.
Trong Chương này, sự tương quan giữa ngành nông nghiệp và các nền văn hóa khảo cổ
cùng các giai đoạn tiến hóa của cư dân sống ở Miền Bắc Việt Nam trong thời sơ cổ (đá
mới và kim khí) sẽ được đề cập đến. Tiếp theo văn hóa Ngườm (30.000-23.000 năm cách
ngày nay) và văn hóa Sơn Vi (18.000-11.000 năm cách ngày nay) còn hoàn toàn hoang
dã, các nền văn hóa nối tiếp khác được phát hiện một cách tổng quát, theo thứ tự như sau:
• Văn hóa Hòa Bình (11.000 - 8.000 năm cách ngày nay)
• Văn hóa Bắc Sơn (7.000 - 6.000 năm cách ngày nay)
• Văn Hóa Hạ Long (ven biển Miền Bắc: 5.000 - 4.000 năm cách ngày nay)
• Văn Hóa Phùng Nguyên (4.000 - 3.500 năm cách ngày nay)
• Văn Hóa Đồng Đậu (3.500 - 3.000 năm cách ngày nay)
• Văn hóa Gò Mun (3.100-2.800 năm cách ngày nay)
• Văn hóa Đông Sơn (2.800 - 1.800 năm cách ngày nay)
Ngành Nông Nghiệp Trong Thời Đại Đá Mới (Viện Khảo Cổ Học, 1998)
Sau thời kỳ Cánh Tân hay đá cũ chấm dứt với kỹ nghệ Ngườm và văn hóa Sơn Vi ra đời,
thời kỳ Toàn Tân nối tiếp cho đến nay, trong đó thời đại đá mới xuất hiện trong 2 nền văn
họ Cà Phê (Rubiaceae)
ở hang Con Moong. Ngoài ra, các di tích của nền văn hóa Hòa Bình còn có các loài hạt
quả
như hạt gắm (Gnetum montanum), hạt cọ (Livistona cochinchinensis), hạt côm
(Elaeocarpus sylvestris), hạt me (Phyllanthus emblica L.), hạt trà (Thea sp.), trám tre
(
Canarium tonkinensis) và trám (Canarium sp.). Tại các di chỉ Hạ Sơn (Thái Nguyên)
trong tổng số 38 hạt, dương xỉ có tới 9 hạt, phấn hoa thực vật hạt kín là 20 hạt, chủ yếu
là: Lithoiagus, Quercus, Magnolia, Corylus, Betula, Graminae, Araceae (Nguyễn Địch
Dỹ và Đinh Văn Thuận, 1981).
Ở hang Ma (Spirit cave), miền biên giới Thái Lan và Miến Điện, nhà khảo cổ
học Chester Gorman (1969) đã tìm thấy được 28 loại bào tử phấn hoa của các loài cây ăn
trái khác nhau và phỏng đoán nền nông nghiệp đã bắt đầu xuất hiện trong văn hóa Hòa
Bình của nước này khoảng 6.000 - 8.000 năm. Ngoài ra, các nhà khảo cổ còn tìm thấy
dấu vết vỏ trấu trên những mảnh gốm ở Non Nok Tka thuộc vùng Korat với niên đại
Theo nghiên cứu tìm thấy ở Trung Đông, nhà khảo cổ Phillip Edwards của trường
Đại Học Trobe, Úc báo cáo con người phải trải qua giai đoạn
độ 1.000 năm trồng các
cây hoang dại trước khi họ bắt đầu nhân giống, trồng trọt một cách hệ thống và con người
Trung Đông đã bắt đầu định cư vào niên đại 9.600 - 9.300 năm cách ngày nay (1950 sau
CN) (Nguyễn Sinh, BBC News, 2006).
2.2. Nền văn hóa Bắc Sơn (7.000-6.000 năm cách ngày nay)
Cuộc khai quật đầu tiên ở Miền Bắc được thực hiện tại hang Thẩm Khoách, phố Bình
Gia, tỉnh Lạng Sơn vào năm 1906. Sau nhiều năm nghiên cứu, nền văn hóa Bắc Sơn được
xác định nối tiếp văn hóa Hòa Bình và gắn liền với tên tuổi của nhà nghiên cứu địa chất
người Pháp H. Mansury. Nền văn hóa này nằm vị trí chủ yếu ở những núi đá vôi Bắc Sơn
với độ cao trung bình 400-500 m, gồm một số huyện ở Lạng Sơn và Thái Nguyên
(Mansury,1909 và1920). Cư dân Bắc Sơn vẫn còn sống ở hang động. Cần chú ý độ cao
hiện nay không thể là độ cao của 8.000-6.000 năm trước, vì chịu ảnh hưởng của hiện
tượng bào mòn trong vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều. Cũng vậy, các thung
từ bầy người đến băng người gồm một nhóm độ 20-30 người của một số gia đình chiếm
một vùng đất nào đó để kiếm ăn hàng ngày. Sau đó có sự gặp gỡ giữa các băng nhóm với
nhau qua quan hệ hôn nhân, nên
bộ lạc ra đời. Theo tài liệu dân tộc học, các bộ lạc
thường sống với nghề nông, chủ yếu làm vườn; nhưng cũng có nhiều bộ lạc còn hái lượm
và săn bắt hoạt động khá mạnh trên các sườn đồi, rừng núi. Các bộ lạc ít di chuyển
thường xuyên hơn các bầy người và băng nhóm.
Trong văn hóa Bắc Sơn, các nhà khảo cổ tìm thấy một bức họa đầu người trên
vách hang Đồng Nội, một số
viên đá hoặc mẫu xương có khắc những hình lá cây và
động vật
. Hình lá cây này có những gân song song thuộc loài Hòa thảo (theo Bà M.
Colani); nhưng trong loài cây lương thực, cây lúa có lá hình dáng giống như thế (Bùi Huy
Đáp, 1980). Ngoài ra, các nhà khảo cổ còn tìm thấy bàn nghiền hạt (Hình 2), cối và chày
Hình 2: Bàn nghiền bằng đá (5.000-7.000 năm trước) (Ảnh: N. K. Quỳnh)Hình 3: Cuốc đá có vai và cuốc đá có nấc (5.000-7.000 năm trước) (Ảnh: N. K. Quỳnh)
Hình 4: Cuốc đá đôi vai (5.000-7.000 năm trước) (Ảnh: N. K. Quỳnh)
Vào cuối nền văn hóa Bắc Sơn, những bộ lạc trồng lúa bắt đầu xuất hiện ở Việt
Nam và nhiều nước Đông Nam Á như, Thái Lan, Indonesia, Philippines. Tại Việt Nam,
những bộ lạc trồng lúa xuất hiện từ Miền Bắc đến Miền Đông Nam Việt (Nguyễn Phan
Quang & Võ Xuân Đàn, 2.000). Cư dân có đời sống cố định hơn và bắt đầu tụ tập ở các
đồng bằng, dọc theo các thung lũng, lưu vực sông ngòi, bờ biển. Từ thời đại đá mới tiến
dần đến thời đại kim khí (5.000 năm cách ngày nay), nền nông nghiệp gồm trồng lúa, cây
đậu, cây có củ, đánh cá, bắt ốc… bắt đầu khởi sắc, phát triển mạnh hơn để sản xuất đủ
thực phẩm cung cấp cho dân số gia tăng ngày càng nhiều.
Những di vật khảo cổ tìm thấy được ở Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện,
Về cấu trúc xã hội, di tích của văn hóa Hạ Long cho thấy người Hạ Long đã cư trú tập
trung theo hình thức ngôi “làng” sơ khai, qui tụ từ vài gia đình đến hàng chục gia đình.
Hậu kỳ của nền văn hóa này bắt đầu vào thời đại kim khí.
3. Ngành Nông Nghiệp Trong Thời Đại Kim Khí (Viện Khảo Cổ Học, 1999)
Tiếp theo thời đại đá mới, thời đại kim khí bắt đầu từ văn hóa Phùng Nguyên đến Đồng
Đậu, Gò Mun và Đông Sơn (tất cả ở miền Bắc và bắc Trung Phần). Ngoài ra, còn có một
số nền văn hóa khác xuất hiện đồng thời trong thời đại kim khí ở các vùng khác trong
nước như: văn hóa Sa Huỳnh (ven biển miền nam Trung Phần), văn hóa Biển Hồ (cao
nguyên Tây Nguyên), thời đại kim khí miền Đông Nam Phần và văn hóa Óc Eo. Trong
thời đại kim khí, đời sống của con người đã tiến bộ nhiều. Sinh hoạt của cộng đồng có tổ
chức hẳn hoi.
Sau khi biển lùi, cư dân tiến xuống tập trung sống thành từng nhóm, làng ở đồng
bằng, ven sông, cửa biển, ven biển và gò đồi cao. Đời sống cố định hơn với nghề nông
nghiệp phát triển mạnh nhờ các công cụ sản xuất bằng đá, đồng và sắt, chủ yếu trồng trọt
cây củ, đậu, ngũ cốc, đánh cá, bắt ốc sò, chăn nuôi và săn bắt. Cần lưu ý trong thời kỳ
này vẫn còn một bộ phận cư dân còn sống rải rác trên các cao nguyên, đồi núi ít tiến bộ
hơn và sinh hoạt hàng ngày của họ chủ yếu vẫn còn hái lượm và săn bắt. Cũng còn nhiều
bộ lạc trồng lúa rẫy sống ở đó. Chúng ta thấy cháu chắc của họ như dân tộc Tày-Mường
còn tiếp tục đời sống thiên nhiên hàng ngàn năm trên các núi rừng, vùng trung-thượng du
Bắc Việt ngày nay.
3.1. Nền văn Hóa Phùng Nguyên (4.000-3.500 năm cách ngày nay):