SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG,
BẢN SẮC DÂN TỘC VÀ
PHÁT TRIỂN HIỆN ĐẠI
Cải lương ra đời cách đây chưa tới một trăm năm. Ngay
từ lúc mới ra đời, cải lương đã chịu ảnh hưởng có tính chất
quyết định của hai dòng sân khấu: sân khấu tuồng truyền thống
của Việt Nam và sân khấu kịch hiện đại của Pháp.
Sân khấu tuồng Việt Nam mang đặc trưng chung của sân khấu châu
Aá là cấu trúc kịch bản, vở diễn theo kiểu tự sự và sân khấu kịch Pháp mang
đặc trưng chung của sân khấu châu Âu là cấu trúc kịch bản, vở diễn theo
kiểu A-ri-xtốt. Vì vậy, cải lương cũng đã có hai kiểu vở diễn rất khác nhau,
nhưng cả hai lại có chung một nguồn âm nhạc. Các bài bản âm nhạc của cải
lương đậm chất dân tộc, có đầy đủ để thể hiện tâm trạng nhân vật với tất cả
các trạng thái khác nhau, tạo điều kiện cho diễn viên ca hát kết hợp với diễn
xuất dù biểu diễn theo kiểu tuồng Việt Nam hay theo kiểu kịch Pháp.
Trong quá trình phát triển, các bài bản cải lương đã được bổ sung
thêm từ nguồn dân ca, hò, lý. Và khi tiếp cận, giao lưu với sân khấu kịch hát
Quảng Đông (Trung Quốc) và tân nhạc của phương Tây, cải lương cũng đã
chọn lọc một số bài bản, dân tộc hóa để làm giàu thêm vốn âm nhạc sẵn có.
Cùng lúc bổ sung thêm các bài bản, dàn nhạc dân tộc của cải lương đã biết
cách tiếp nhận các nhạc cụ hiện đại. Những cây đàn vi-ô-lông, măng-đô-lin,
ghi-ta của phương Tây được các nghệ sĩ Việt Nam khoét phím để khi chơi
đàn, cung bậc và giai điệu phù hợp với dàn nhạc dân tộc đã có sẵn. Cho tới
nay, cây đàn ghi-ta phím lõm là nhạc cụ chính của cải lương và đã trở thành
cây đàn dân tộc của Việt Nam.
Một thời gian khá dài, hai kiểu biểu diễn trong hai loại vở diễn của cải
lương tồn tại gần như độc lập nhau và cuộc đấu tranh giữa việc giữ gìn bản
sắc dân tộc với việc phát triển hiện đại diễn ra chủ yếu trong lĩnh vực âm
nhạc.
Những bài bản sẵn có của cải lương khó về nhạc lý, một số bị trùng
lắp cho nên các nghệ sĩ đã thu ngắn, giảm dần khi sử dụng trên sân khấu,
tố múa không được chú trọng ở dạng vở diễn này dù thể hiện đề tài cổ.
Ở hai kiểu cấu trúc tưởng chừng trái ngược nhau đó, cải lương lại tạo
được vùng giao thoa, tạo được cho mình một kiểu cấu trúc, mở thoáng của
tuồng cùng lúc với cấu trúc khép, chặt của kịch A-ri-xtốt. Được như vậy, vì
cải lương không chỉ kế thừa sân khấu tuồng truyền thống và tiếp nhận sân
khấu kịch hiện đại là hai thực thể độc lập như nhiều người đã làm, mà hai
yếu tố này còn được nhìn nhận và giải quyết như là hai mặt đối lập, tồn tại
thống nhất, biện chứng trong một tác phẩm. Và sự thống nhất biện chứng
giữa hai yếu tố kế thừa truyền thống của sân khấu tuồng và yếu tố tiếp nhận
hiện đại của sân khấu kịch sẽ tạo điều kiện cho sân khấu kịch sẽ tạo điều
kiện cho sân khấu kịch sẽ tạo điều kiện cho sân khấu cải lương luôn luôn
phát triển hiện đại mà vẫn giữ trong nó bản sắc của sân khấu dân tộc.
Theo quan niệm này, trong một tác phẩm (kịch bản, vở diễn) cải
lương luôn bao gồm hai yếu tố truyền thống và hiện đại tồn tại trong sự
thống nhất biện chứng và trong một tác phẩm âm nhạc cải lương luôn bao
gồm hai yếu tố định hình và phát triển tồn tại trong sự thống nhất biện
chứng. Có như vậy, trong quá trình phát triển cả về biểu diễn và âm nhạc,
cải lương luôn giữ trong mình tố chất dân tộc với bản sắc riêng. Và bản sắc
dân tộc có được bao nhiêu tùy thuộc vào bản lĩnh những người sáng tạo giải
quyết các mối quan hệ biện chứng đã được đề cập trong từng tác phẩm.