Tài liệu Đề tài “Hoàn thiện chính sách xuất khẩu mặt hàng chè của Công ty TNHH TM Đại lợi ” - Pdf 87



LUẬN VĂN “Hoàn thiện chính sách xuất
khẩu mặt hàng chè của Công ty
TNHH TM Đại lợi ”
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI NÓI ĐẦU

Xuất phát từ tình hình đổi mới của nền kinh tế thế giới, với những kinh
nghiệm thực tiễn và bài học của nhiều nước trên thế giới. Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI đã đề ra ba chương trình mục tiêu lớn: “ Lương thực, thực
phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”. Khẳng định vị trí hàng đầu của
ngành nông nghiệp nước ta trong vài thập kỷ tới. Tiếp đến Đại hội VIII và IX
lại khẳng định lại một lần nữa ba chương trình kinh tế trên trong đó nông lâm
nghiệp phải phát triển sản xuất hàng hoá theo hướng thị trường gắn với công
nghiệp chế biến đáp ứng nhu cầu trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu, phát huy
lợi thế so sánh, bảo vệ tài nguyên môi trường…
Trong số 10 mặt hàng nông sản, sản xuất, xuất khẩu thì chè đang có xu
hướng ngày càng gia tăng. Cây chè được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía
bắc và Lâm Đồng. Sản xuất chè trong nhiều năm qua đã phần nào đáp ứng
được nhu cầu về chè uống trong nước, đồng thời còn xuất khẩu đạt kim ngạch
hàng chục triệu USD mỗi năm. Tuy có những thời điểm giá chè giảm làm cho
đời sống của những người trồng chè gặp không ít khó khăn nhưng nhìn tổng
thể thì cây chè vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần
tạo việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận đáng kể nhân dân vùng trung du,
miền núi, vùng cao, vùng xa và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Vì vậy
việc sản xuất và chế biến chè xuất khẩu là một hướng quan trọng nhằm thúc
đẩy tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp và kinh tế nông thôn nước ta.

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 6 năm 2005.
2
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU VÀ XUẤT KHẨU MẶT
HÀNG CHÈ CỦA CÔNG TY TNHH TM ĐẠI LỢI I . BẢN CHẤT CỦA XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
1.1. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu hàng hoá
1.1.1. Khái niệm:
Một số tác giả cho rằng XNK chính là mở rộng của hàng hoá mua bán
trao đổi ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia. Ngày nay xuất khẩu hàng hoá
chính là một hoạt động kinh doanh ở phạm vi quốc tế, là lĩnh vực sôi động
nhất trong nền kinh tế hiện nay.
Nên có thể nói kinh doanh XNK là mối quan hệ trao đổi hàng hoá dịch
vụ giữa một quốc gia với một quốc gia khác, là một bộ phận của quan hệ kinh
tế quốc tế của một nước với một nước khác trên thế giới.
Theo một cách chung nhất thì khi nào có bất cứ một lượng tiền nào đó
được dịch chuyển qua biên giới một quốc gia để chi trả cho một lượng hàng

- Xuất khẩu là điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận
lợi
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước đồng thời xuất khẩu tạo tiền đề
kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao nguồn lực sản xuất trong nước.
- Thông qua xuất khẩu hàng hóa nước ta tham gia cạnh tranh trên thị
trường thế giới cả về giá cả và chất lượng, cuộc cạnh tranh này buộc chúng ta
phải tổ chức lại sản xuất trong nước, hình thành cơ cấu thích nghi với thị
trường thế giới.
Thứ 3: Xuất khẩu tác động tích cực tới công ăn việc làm cải thiện đời
sống nhân dân.
Xuất khẩu là công cụ giải quyết nạn thất nghiệp trong nước. Theo số liệu
international Trade 1986 – 1990 ở Mỹ các nước công nghiệp phát triển sản
xuất tăng lên được 1 tỷ USD thì sẽ tăng lên khoảng 35.000 - 40.000 chỗ làm,

4
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
còn ở Việt Nam có thể tạo ra hơn 50.000 chỗ làm. Đặc biệt xuất khẩu hàng
hoá nông sản xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động tạo ra nguồn vốn để nhập
khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân.
Thứ 4: Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối
quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế nước ta gắn chặt với lao động.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động chủ yếu, cơ bản là hình thức ban đầu
của kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu và quan hệ đối ngoại có tác động qua lại và
phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là nội dung quan trọng của nền kinh tế đối
ngoại, nó tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế đối ngoại khác phát triển như
du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế… Ngược lại sự phát triển của ngành này
cũng tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu phát triển.
Qua đây ta thấy để đất nước phát triển tất yếu phải đẩy mạnh hoạt động
XK.

lại đi lại thúc đẩy hoạt động hướng về xuất khẩu. Và hướng về xuất khẩu
cũng là chiến lược phát triển của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn tới để
nền kinh tế nước ta tăng trưởng và phát triển kịp với các nước phát triển
trong khu vực và thế giới.
1.2. Các hình thức xuất khẩu.
Xuất khẩu không phải là hành vi mua bán đơn lẻ mà là cả hệ thống quan
hệ mua bán, đầu tư từ trong nước ra đến bên ngoài nhằm mục đích thúc đẩy
hàng hoá chuyển đổi cơ cấu kinh tế cho phù hợp và từng bước nâng cao đời
sống của nhân dân. Ngày nay, trên thế giới, tuỳ điều kiện hoàn cảnh mỗi quốc
gia cũng như từng chủ thể giao dịch khác nhau để tiến hành hoạt động một
cách hiệu quả nhất. Căn cứ vào đặc điểm sở hữu hàng hoá trước khi xuất
khẩu, nguồn hàng nhập khẩu người ta có thể chia ra thành một số loại hình
thức xuất khẩu. Sau đây là một số loại hình thức xuất khẩu mà các doanh
nghiệp chi nhánh thường sử dụng.
* Xuất khẩu trực tiếp.

6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Xuất khẩu trực tiếp: Là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà sản
xuất, các Công ty trực tiếp ký kết hợp đồng bán hàng cung cấp dịch vụ cho
các doanh nghiệp cá nhân nước ngoài.
Với hình thức này các doanh nghiệp trực tiếp quan hệ với khách hàng và
bạn hàng, thực hiện việc bán hàng hoá ra với nước ngoài không qua bất kỳ
một tổ chức trung gian nào.
Để thực hiện được hoạt động của xuất khẩu này doanh nghiệp phải đảm
bảo một số điều kiện như : Có khối lượng hàng hoá lớn, có thị trường ổn định
có năng lực thực hiện xuất khẩu.
- Xuất khẩu trực tiếp có ưu điểm là:
+ Tận dụng được hết tiềm năng, lợi thế để sản xuất hàng xuất khẩu.
+ Giá cả, phương tiện vận chuyển, thời gian giao hàng, phương thức

nhất định. Do đó sử dụng họ người uỷ thác sẽ tiết kiệm được vốn.
+ Người trung gian thường hiểu biết thị trường, pháp luật, tập quán địa
phương, do đó họ có khả năng đẩy mạnh việc buôn bán và tránh bớt rủi ro cho
người uỷ thác.
+ Trung gian có thể làm dịch vụ và lựa chọn, phân loại, đóng gói, giảm
chi phí vận chuyển.
+ Hình thành mạng lưới tiêu thụ rộng khắp tạo điều kiện cho việc chiếm
lĩnh thị trường đặc biệt là thị trường mới.
- Tuy nhiên hình thức này cũng có những nhược điểm nhất định đó là:
+ Mất liên hệ trực tiếp của doanh nghiệp với thị trường buôn bán.
+ Kinh doanh phụ thuộc vào năng lực phẩm chất của người trung gian.
+ Lợi nhuận bị chia sẻ.
Hình thức xuất khẩu gián tiếp này áp dụng trong trường hợp một doanh
nghiệp có hàng hoá mới xuất khẩu mà doanh nghiệp không được phép xuất
khẩu trực tiếp hoặc không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp.
* Phương thức mua bán đối lưu.

8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Đây là phương thức giao dịch mà trong đó việc mua bán gắn liền với
nhau tức người mua đồng thời là người bán, lượng hàng hoá trao đổi thường
có nhiều giá trị tương đương.
Trong quá trình buôn bán, ký hợp đồng, thanh toán vẫn phải dùng tiền
làm vật ngang giá chung.
Theo hình thức buôn bán này cần quan tâm đến sự cân bằng về mặt hàng
hoá, giá cả về tổng giá trị hàng hoá giao cho nhau vể cả điều kiện giao hàng
và điều kiện thanh toán.
Phương thức mua bán đối lưu góp phần vào thúc đẩy mua bán cho các
trường hợp mà những phương thức mua bán không vượt qua được, ví dụ như
khi bị cấm vận hoặc trong trường hợp Nhà nước tiến hành quản chế ngoại hối.

Đây là phương thức giao dịch trong đó hàng hoá mua về với mục đích
phục vụ tiêu dùng trong nước. Trong phương thức này tối thiểu phải có ba
bên tham gia là nước tái xuất, nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.
Hình thức này có tác dụng có thể xuất khẩu được những mặt hàng mà
doanh nghiệp trong nước chưa đủ khả năng sản xuất để xuất khẩu và có thu
ngoại tệ. Phương thức này góp phần thúc đẩy buôn bán đặc biệt các nước bị
cấm vận vẫn có thể tiến hành buôn bán được với nhau.
Nhược điểm của hình thức này là các doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều
vào nước xuất khẩu về giá cả, thời gian giao hàng, sự thay đổi về giá ảnh
hưởng đến công tác nhập khẩu. Đồng thời số ngoại tệ thu về rất ít trong tổng
kim ngạch xuất khẩu.
Ngoài ra còn có một số hình thức xuất khẩu khác như giao dịch tại cơ sở
giao dịch ở đây người ta mua bán với khối lượng lớn có tính chất đồng loạt và
phẩm chất có thể thay thế được cho nhau. Giao dịch ở sở giao dịch chủ yếu là
giao dịch khống. Còn có cả xuất khẩu theo nghị định như thường là trả nợ
thực hiện theo nghị định thư giữa chính phủ hai nước. Qúa cảnh hàng hoá
cũng là một nước gửi đi qua lãnh thổ của một nước và được sự cho phép của
chính phủ nước đó.

10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1.3. Nội dung của xuất khẩu hàng hóa.
Xuất khẩu là việc bán hàng ra nước ngoài nhằm tạo lên một nguồn thu
lớn. Nhưng việc bán hàng ở đây tương đối phức tạp như: Giao dịch với những
người có quốc tịch khác, thị trường mua bán rộng lớn, khó kiểm soát, mua
bán qua trung gian chiếm tỉ trọng lớn đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh,
hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia. Do vậy cần phải tuân thủ các
tập quán cũng như thông lệ quốc tế.
Hoạt động xuất khẩu được tổ chức thực hiện với những nhiệm vụ, nhiều
khâu khác nhau, bắt đầu từ khâu nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước

+ Nghiên cứu dung lượng thị trường.
Cần xác định nhu cầu thật của khách hàng kể cả lượng dự trữ xu hướng
biến động của nhu cầu trong từng thời điểm để từ đó có kế hoạch xuất khẩu
thích hợp.
1.3.2. Lựa chọn bạn hàng, lựa chọn đối tác.
- Lựa chọn bạn hàng: Mục đích của việc này là tìm bạn hàng khả dĩ, công
tác được an toàn và có lãi.
Các bạn hàng được lựa chọn phải có đầy đủ về khả năng thanh toán, tiêu
thụ, khả năng về hợp tác dài hạn.
- Lựa chọn đối tác: Hình thức cũng giống như lựa chọn bạn hàng, nhưng
đối tác để các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá phải là những đối tác có uy
tín, hoạt động kinh doanh của họ từng bước phát triển.
1.3.3. Lựa chọn sản phẩm xuất khẩu:
Việc lựa chọn sản phẩm đem ra xuất khẩu là việc làm hết sức quan trọng
vì trước khi xuất khẩu một mặt hàng nào đó các doanh nghiệp hoặc nhà nước
đòi hỏi phải xem xét kĩ thị trường tiêu thụ, sản phẩm đó đang cần ở thị trường
nào và khả năng cung ứng ra sao, liệu có thể đem lợi nhuận cho doanh nghiệp
không khi sản phẩm đó đem ra xuất khẩu.
Bên cạnh đó sản phẩm đem xuất khẩu phải đảm bảo về mặt chất lượng,
hình dáng, phẩm chất và mẫu mã cần phải lựa chọn thật kĩ để khi xuất khẩu sẽ
tạo ra uy tín cho bạn hàng cũng như thuận lợi hơn khi mang ra thị trường khác

12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
tiêu thụ. Phải lựa chọn những sản phẩm đang cần trên thị trường tiêu thụ
nhằm kinh doanh phù hợp với các thị trường đó.
1.3.4. Các hình thức giao dịch:
Gồm các hình thức giao sau: Giao dịch trực tiếp, giao qua thư tín, giao
qua điện thoại, giao thông qua bên thứ ba.
Để đi đến kí kết hợp đồng hai bên phải tiến hành giao dịch đàm phán với

yếu tố cơ bản sau:
- Giá cả sản phẩm chè hàng hoá trên thị trường:
Trong đại đa số trường hợp, giá cả đóng vai trò là tham số điều chỉnh
quan hệ cung cầu và theo đó điều chỉnh dung lượng và nhịp độ tiêu thụ của thị
trường.
- Giá cả của sản phẩm cạnh tranh : Sự xuất hiện các sản phẩm mới, sản
phẩm thay thế, và giá cả của chúng sẽ ảnh tới lượng cung của sản phẩm chè
hàng hoá trên thị trường.
- Giá cả các yếu tố đầu vào.
- Trình độ chuyên môn hoá và tập trung hoá sản xuất nông nghiệp.
Ngoài ra vốn, công nghệ cũng ảnh hưởng tới cung sản phẩm chè hàng
hoá trên thị trường. Sự phát triển của công nghệ chế biến và mức độ tiếp cận
với công nghệ và kỹ thuật chế biến tiên tiến trên thế giới đã tạo ra những giá
trị sử dụng mới, chất lượng cao hơn, tạo ra những quan hệ mới trong cung -
cầu, kích thích mở rộng và phát triển thị trường .
- Các nhân tố về cơ chế, chính sách lưu thông sản phẩm chè của chính
phủ trong từng thời kỳ và hiệu lực của chúng.
- Môi trường tự nhiên mà trước hết là đất đai và khí hậu.
2.2. Cầu về sản phẩm chè.
Nhu cầu về sản phẩm chè của xã hội có rất nhiều loại khác nhau. Đó là
nhu cầu chè cho tiêu dùng trong nước và nhu cầu chè xuất khẩu.
Về phương diện kinh tế mà xét chúng ta thấy có hai loại nhu cầu sau:
Một là: Nhu cầu tự nhiên mà thực chất là nhu cầu về sản phẩm chè của
dân cư tính theo số lượng dân số. Đây là phương diện mà các nhà chính sách
cần tính tới nhằm thiết lập giải pháp để cân bằng cung cầu trong phát triển.

14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Hai là: Nhu cầu kinh tế, được hiểu là nhu cầu có khả năng thanh toán,
hay là cầu về sản phẩm chè mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn sàng mua

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
(trên 600.000 tấn), Srilanca (trên 270.000 tấn), Kênya (250.000 tấn),
Indônêsia (140.000 tấn).
BẢNG 1 : SẢN LƯỢNG CHÈ THẾ GIỚI 1999-2004 ( 1000 TẤN)
Tên nước
1999 2000 2001 2002 2003 2004
Thổ Nhĩ Kỳ 114,540 155,517 185,405 190 187 199
Azerbaijan 2,7 1,8 0,9 0,6 0,8 1,1
Georgia 8 10 12,5 15,3 15,8 13
Đông âu 125,24 167,317 198,805 205,9 203,6 213,1
Brundi 5,728 4,189 6,668 6,865 7 7,5
Cameron 3,581 4,189 3,937 6,865 4,1 4,9
Ethiopia 2,6 3,8 3,806 2,692 3 2,7
Kenya 257,162 220,722 294,165 248,708 250 243,65
Malawi 38,312 43,930 40,360 38,400 39,26 38,756
Mauritius 2,4961 1,787 1,488 1,473 1,5 1,395
Mozamibiquie 1,5 1,6 2 2,8 2,6 2
Ruwanda 9 13,228 14,875 11,980 12 13,65
Nam Phi 9,062 8,207 10,250 10,5 9,56 9,251
Tazania 19,768 22,475 24,333 23,49 24,1 21,96
Uganda 17,418 21,075 26,422 24,670 23 24,89
Zaida 3 2,5 2 1 1,8 1,3
Zimbabwe 16,822 17,098 17,754 20,388 21 19
Châu Phi
368,499 364,800 448,058 397,697 398,82
390,952
Argentina 43 55 53 51 54 53,56
Brazin 4,2 4 3,8 4 3 5
Ecuado 2 2 2 2 2,5 2,62
Peru 2 2 2 2 2 2,1

Á và chiếm 66,37% tổng sản lượng của toàn thế giới. Việt Nam chỉ chiếm
2,72 % của Châu Á. Từ năm 1963 - 1995 diện tích chè thế giới tăng 95% còn
sản lượng tăng 156,5% ( hơn 2,5 lần ). Như vậy cứ sau mỗi chu kỳ 20 năm thì
sản lượng chè thế giới tăng gấp 2 lần. Năm 1950 sản lượng chè là 613,6 ngàn
tấn, năm 1970 là 1196,1 ngàn tấn, năm 1990 là 2522 ngàn tấn.
III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH MẶT HÀNG XUẤT KHẨU.
3.1. Quy định về danh mục mặt hàng:
Những quy định này được phép hoạt động hoặc không được phép lưu
thông những mặt hàng hạn chế hay kinh doanh có điều kiện.
- Danh mục hàng hoá cấm lưu thông, các dịch vụ và dịch vụ thương mại
không được thực hiện sẽ được chính phủ công bố. Đó là những sản phẩm gây

17
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, truyền thống lịch
sử, văn hoá đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam, môi trường sinh thái, sản
xuất và sức khoẻ của nhân dân.
- Chính phủ công bố danh mục các mặt hàng này trong từng thời kì cùng
với các mặt hàng hạn chế kinh doanh hoặc được phép kinh doanh với những
điều kiện nhất định.
- Chính phủ cũng công bố các mặt hàng cung ứng cho đối tượng tiêu
dùng thuộc diện chính sách xã hội.
- Ngoài các danh mục mặt hàng quy định trên, các mặt hàng còn lại pháp
luật không cấm nên được lưu thông tự do trên thị trường nội địa.
- Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chính sách về cạnh
tranh thấp để xác định thời gian hội nhập, mở cửa phù hợp cũng như bảo hộ
sản xuất trong nước hợp lý.
3.2. Đánh giá hiện trạng và chính sách mặt hàng xuất khẩu.
Để đánh giá hiện trạng và chính sách mặt hàng xuất khẩu quốc gia cần
xác định rõ mục tiêu chính sách xuất khẩu của mình, xét về nguồn lực, nhân

- Mục tiêu xã hội: Khi tổ chức và thực hiện chính sách mặt hàng phải
đảm bảo:
+ Thực thi chính sách không làm vỡ môi trường sinh thái.
+ Thực thi chính sách không vi phạm các tiêu chuẩn dân tộc, xã hội.
+ Thực thi chính sách đảm bảo tính tích cực trong giáo dục giáo dưỡng
nhu cầu thị trường.
+ Thực thi chính sách đảm bảo tính văn minh thương mại, kết hợp với tính
hiện đại, tính dân tộc, phát triển bản sắc văn hoá dân tộc cho người tiêu dùng.
- Mục tiêu an toàn: Khi đưa ra các chính sách mặt hàng xuất khẩu cần
phải nhìn rõ sự chắc chắn khi xuất khẩu có thu được lợi nhuận về không hoặc
có thể thu được từ khách hàng không, tránh những rủi ro không đáng có.
3.5. Các chính sách mặt hàng xuất khẩu.
* Chính sách đối với hàng hoá xuất khẩu:
- Mục tiêu:

19
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
+ Không ngừng gia tăng tỉ trọng mặt hàng xuất khẩu chế biến năm 2001
(60% - 40%) đến năm 2003 (75% - 25%) qua đó đòi hỏi phải đủ, kế hoạch
vào quá trình sản xuất chế biến.
+ Mặt hàng gia công xuất khẩu tỉ lệ nội địa hoá cho sản phẩm gia công (
vẫn tăng xuất khẩu), đạt hiệu quả quá trình sản xuất.
+ Nhóm mặt hàng nông - lâm - thuỷ - hải sản: Phải chú ý đến cây giống,
con giống, công nghệ sản xuất chế biến để có được cạnh tranh cao hơn (có
tiêu chuẩn ISO) đáp ứng tốt xâm nhập thị trường có tiềm năng, quy mô lớn.
+ Môi trường quan trọng chủ yếu là chính sách tạo mặt hàng xuất khẩu.
Cần hình thành hệ thống ngân hàng dữ liệu quốc gia để cung cấp thông tin
cho người sản xuất, người tiêu dùng, người kinh doanh, công nghệ chế biến,
cung cấp thông tin thị trường đầu ra, thị trường xuất khẩu, thông tin liên quan
đến môi trường…

chính sách phát triển nguồn lực với mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 2,5 tỉ USD.
* Chính sách đối với các dịch vụ xuất khẩu:
Đầu tư phát triển hệ thống để xuất khẩu dịch vụ như dịch vụ vận chuyển
hành khách, hàng không, dịch vụ cảng biển và các dịch vụ vận tải nhằm có
một hoạt động xuất khẩu thuận tiện hơn. Chuyên nghiệp hoá, nâng cao chất
lượng và sức cạch tranh xuất khẩu hàng hoá để làm được chúng ta cần tham
gia các hiệp hội quốc tế sản xuất kinh doanh, nâng cao sức sản xuất kinh
doanh sản phẩm dịch vụ. Mở rộng loại hình dịch vụ xuất khẩu, phát triển hình
thức xuất khẩu dịch vụ.

CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
XK MẶT HÀNG CHÈ CỦA CÔNG TY TNHH TM ĐẠI LỢI

I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ KINH DOANH CỦA CÔNG
TY TNHH TM ĐẠI LỢI.
1. Lịch sử hình thành và phát triển:
1.1. Giới thiệu về công ty TNHH TM Đại Lợi.

21
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Công ty được thành lập vào tháng 11/ 2001, trên cơ sở máy móc và công
nghệ của Liên Xô như là: Công nghệ ORTHODOX để chế biến chè đen.
Năm 2004, Công ty được cải tạo hoàn chỉnh và với ưu thế về thiết bị
công nghệ cao, đã sản xuất được nhiều sản phẩm khác nhau cung cấp cho cả
thị trường trong và ngoài nước.
Tháng 3/ 2004, Công ty đã thành lập văn phòng đại diện tại phố Hào
Nam, Thành phố Hà Nội.
Hiện nay, Công ty có dây chuyền tự động của Ấn độ, Nhật bản, Trung
quốc…, theo công nghệ CTD để sản xuất các loại chè khác nhau.

phận
kế

Phó
giám
đ
ốc
Giám đốc
Phó
giám
đốc

Hội đồng sáng
lập
Phòng
kinh
doanh
Bộ
phận



Cơ cấu tổ chức đơn giản, không cồng kềnh, có báo cáo rõ ràng, do vậy
thông tin được truyền đi một cách nhanh chóng đến các phòng ban, tiết kiệm
được thời gian cùng với đội ngũ lãnh đạo có kinh nghiệm và tương đối trẻ.
1.3. Mặt hàng kinh doanh xuất khẩu của Công ty:
STT Tên danh mục mặt hàng
1. Chè đen OTD (ORTHODOX) gồm 7 loại: OP, FBOP, P, PS,
F, D, BPS.
Chè đen CTC: BOP, BP, O, D, PF.
2. Chè xanh: Chè xanh sơ chế, chè xanh thành phẩm 24

Trích đoạn Chớnh sỏch hỗ trợ tỡm kiếm thụng tin thị trường, xỳc tiến thương mại mặt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status