LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Dãy số thời gian trong việc phân
tích và dự đoán thống kê về Du Lịch”
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu.................................................................................................... 1
Chương I. Du lịch và vai trò của thống kê trong việc nghiên cứu về
du lịch.......................................................................................... 2
I. Thực trạng về du lịch thế giới và nước ta trong những năm gần đây. ...... 2
II. Vai trò của thống kê trong việc nghiên cứu về du lịch ........................... 3
Chương II. Những vấn đề lý luận chung về phương pháp dãy số
thời gian ...................................................................................... 5
I. Khái niệm dãy số thời gian, ý nghĩa và cấu tạo. ...................................... 5
1) Khái niệm: ......................................................................................... 5
2) Ý nghĩa của dãy số thời gian .............................................................. 5
3) Cấu tạo của dãy số thời gian............................................................... 5
4) Các dạng dãy số thời gian .................................................................. 5
ngành du lịch phục vụ......................................................................... 26
1. Phân tích đặc điểm sự biến động số lượt khách ngành du lịch
phục vụ............................................................................................. 26
2. Phân tích xu hướng biến động của số lượt khách ngành du lịch
phục vụ qua thời gian. ...................................................................... 27
3. Dự đoán chỉ tiêu số lượt khách ngành du lịch phục vụ...................... 28
Kết luận và kiến nghị ................................................................................. 29
Tài liệu tham khảo ..................................................................................... 32
§Ò ¸n lý thuyÕt thèng kª
Phan Qu¸n Thµnh – Tkª40A
1
LỜI NÓI ĐẦU
Theo xu hướng phát triển chung của thế giới, nền kinh tế của nước ta
đang ngày một đổi mới .Từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung ,quan liêu bao cấp
chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, chúng ta đã
gặt hái được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực mà nổi bật là lĩnh vực kinh tế .
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta phát triển rất nhanh nhịp
độ tăng trưởng khá cao . Tuy nhiên đó chỉ là con số tưng đối , còn thực tế thì
chưa cao . Bởi lẽ nền kinh tế nước ta có xuất phát điểm rất thấp so với các
nước trên thế giới . Do đó kết quả mà chúng ta đạt được về mặt lượng thực sự
vẫn chưa cao . Vì vậy để đưa nền kinh tế nước ta vào giai đoạn mới , hoà
nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực , chúng ta cần phải nỗ lực nhiều .
Du lịnh nước ta là một trong những nghành kinh tế con non trẻ , nhưng
được xem là một nghành kinh tế mũi nhọn . Tỷ xuất doanh lợi của nghành Du
Lịch thường cao hơn rất nhiều lần so với các nghành khác . Lợi nhuận mang
lại từ hoạt động của nghành Du Lịch chiếm một tỷ trọng rất lớn trong thu
nhập quốc dân . Đấy là một dấu hiệu tốt , song trong thực tế thì những gì
Quan hệ kinh tế quốc tế đang chuyển từ lưỡng cực sang đa cực, thế
giới đã và đang hình thành các trung tâm kinh tế và liên kết kinh tế mới. Xu
hướng đối thoại và hợp tác đang thay cho xu hướng đối đầu và biệt lập. Do
vậy các quốc gia vừa phải biết chủ động tham gia và khai thác các mặt tích
cực, vừa phải biết đấu tranh và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của quá
trình này. Tuy nhiên khối lượng hàng hoá dịch vụ trao đổi giữa các quốc gia
và hoạt động du lịch quốc tế, kể cả giữa các quốc gia có chế độ chính trị khác
nhau, đều tăng lên hàng năm. Kinh tế dịch vụ du lịch của mỗi nước phát triển
đều gắn liền với xu thế vận động của nền kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế
quốc tế : Hiện nay trên thế giới có 8 cường quốc phát triển mạnh mẽ về kinh
tế du lịch :Mỹ, Italia, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Đức, Autralia và Trung Quốc.
Riêng về Trung Quốc hiện xếp thứ 8 vì trước khi cải cách mở cửa thì Trung
Quốc là quốc gia khép kín mọi mặt, không những không mở cửa giao lưu
kinh tế mà còn hạn chế khách nước ngoài vào thăm. Năm 1978, trước cải cách
mở cửa một năm, trên đất nước mênh mông đầy danh lam thắng cảnh và các
di tích lịch sử-văn hoá này, chỉ có 1,8 triệu lượt khách với thu nhập vỏn vẹn
260 triệu USD. Nhờ cải cách mở cửa, Trung Quốc đã phát huy được tiềm
năng to lớn và phong phú của ngành du lịch. Ngày nay, nghành “công nghiệp
không khói” của Trung Quốc đã trở thành một trong những nghành có nhịp
độ tăng trưởng nhất. Số du khách đến thăm Trung Quốc năm 1997 là 57,588
triệu lượt người, tăng 31 lần so với năm 1978, số ngoại tệ thu được đạt 12,1 tỷ
USD. Từ một nước chậm mở cửa nghành du lịch, sau 20 năm cải cách, Trung
Quốc đã đứng hàng thứ 8 trên thế giới vì thu nhập do du lịch mang lại.
§Ò ¸n lý thuyÕt thèng kª
Phan Qu¸n Thµnh – Tkª40A
3
Thế còn du lịch của nước ta thì sao? Thực tế sau đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI trong cuộc thực hiện đổi mới,trong sự chuyển mình đi lên
chung của cả nước,cả sự phát triển năng động đáng tự hào về kinh tế Văn hoá
quy luật vận động của các hiện tượng.
Trong thống kê để nghiên cứu sự biến động của hiện tượng,người ta
dưa vào dãy số thời gian.Với việc thống kê các hiện tượng số lớn qua thời
gian cùng với các phương pháp phân tích thống kê chúng ta sẽ tìm ra quy luật
vận động của mỗi hiện tượng.Vì vậy việc phân tích thống kê các hiẹn tượng
sôthông qua thời gian có vai trò rất quan trọng trong việc tìm ra các quy luật
biến động của hiện tượng.Qua dãy số thời gian ta có thể nghiên cứu về đặc
điểm,về sự biến động của hiện tượng từ đó vạch rõ xu hướng và tính quy kuật
của sự phát triển đồng thời qua đó ta cũng có thể dự đoán mức độ của hiện
tượng trong tương lai.
Du lịch là một trong những nghành kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế
cao, tỷ suất doanh lợi của nó thường cao gấp từ 2 đến 4 lần so với các nghành
khác và lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của nghành Du lịch trong
những năm gần đây chiếm một phần rất lớn trong GDP và trong sự phát triển
của nền kinh tế. Song tốc độ tăng của doanh thu về du lịch hàng năm trong
thực tế là chưa cao so với tiềm năng và điều kiện mà ta có. Nguyên nhân
khách quan là chúng ta chưa tìm thấy quy luật vận động của nó, chưa đánh giá
nghiêm túc thực chất để tìm được những ưu, nhược điểm, chưa nâng cao chất
lượng dịch vụ du lịch, hiệu quả quản lý của nhà nước và nâng cao cơ sở vật
chất phục vụ du lịch
Vì vậy việc nghiên cứu tính quy luật của nghành du lịch là một vấn đề
tất yếu, nó giúp chúng ta tìm ra được xu hướng vận động từ đó vạch rõ xu
hướng phát triển và qua đó chúng ta có thể khai thác tối đa mọi tiềm năng
nhằm đưa du lịch Việt Nam lên tầm cao mới, đưa Việt Nam trở thành trung
tâmdu lịch - thương mại có tầm cỡ trong khu vực cũng như trên thế giới.
§Ò ¸n lý thuyÕt thèng kª
Phan Qu¸n Thµnh – Tkª40A
§Ò ¸n lý thuyÕt thèng kª
Phan Qu¸n Thµnh – Tkª40A
6
Dãy số thời kỳ biểu hiện quy mô(khối lượng) của hiện tượng trong từng
khoảng thời gian nhất định.
VD: Có tài liệu về số lượng khách tham quan đến Việt Nam qua một số
năm như sau:
Năm 1995 1996 1997 1998 1999
Lượt người 1351296 1607155 1715673 1520128 1781754
Ví dụ trên là một dãy số thời kỳ phản ánh số lượt khách quốc tế đến
Việt Nam qua từng năm. Trong dãy số thời kỳ các mức độ là những số tuyệt
đối thời kỳ,do đó độ dài của khoảng cách thời gian ảnh hưởng trực tiếp đến
trị số của chỉ tiêu và cũng có thể cộng các trị số của chỉ tiêu để phản ánh quy
mô của hiện tượng trong những khoảng thời gian dài hơn
b. Dãy số thời điểm
Dãy số thời điểm biểu hiện quy mô (khối lượng )của hiện tượng lại
những thời điểm nhất định
VD. Có tài liệu về số lượng khách du lịch của một DNKDDL vào các
ngày đầu tháng 1,2,3,4,5 năm 1999 như sau:
Ngày 1-1 1-2 1-3 1-4 1-5
Số lượng
khách (người)
8500 7960 8437 8309 8257
Các số liệu trên chỉ phản ảnh số lượng khách du lịch vào ngày đầu của
các tháng. Mức độ của hiện tượng ở thời điểm sau thường bao gồm toàn bộ
hoặc một bộ phận mức độ của hiện tượng ở thời điểm trước đó. Vì nếu chúng
ta cộng các trị số của chỉ tiêu không phản ánh được quy mô của hiện tượng.
Đây cũng chính là điểm mấu chốt để phân biệt lịch sử khác nhau giữa dãy số
- Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối liên hoàn (hay từng kỳ) gọi là hiệu số
giữa mức độ kỳ nghiên cứu (y
i
) và mức độ kỳ đứng liền trước nó (y
i-1
) chỉ
tiêu này phản ánh mức độ tăng (hoặc giảm) tuyệt đối giữa hai thời gian
liền nhau (thời gian i-1 và thời gian i).
Công thức tính:
(2.1)
i
: là lượng tăng hoặc giảm tuyệt đối liên hoàn.
)1.1(
n
y
n
y...yy
y
n
1i
i
n21
)2.1(
1n
n21
nn221.1
1iii
yy
n,2i
§Ò ¸n lý thuyÕt thèng kª
Phan Qu¸n Thµnh – Tkª40A
8
- Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối định gốc (hay tính dồn) là hiệu số giữa
mức độ kỳ nghiên cứu (y
i
) và mức độ của một kỳ nào đó được chọn làm gốc,
thường là mức độ đầu tiên trong dãy số (y
1
) chỉ tiêu này phản ánh mức
tăng(hoặc giảm) tuyệt đối trong những khoảng thời gian dài.
Công thức tính:
Trong đó:
ii
n
2i
(i=2,3...n)
1n
yy
1n1n
1nn
i
n
2i
(2.3)
1i
i
i
...t
n
=T
n
(i= (2,3..n)
t
i
= T
i
+ Thương của hai tốc dộ phát triển định gốc liền nhau băng tốc độ phát
triển định gốc liên hoàn giữa hai thời gian đó.Tức là:
i
i
i
t
T
T
1
(i=1,2,...,n).
-Tốc độ phát triển trung bình là trị số đại biểu của các tốc độ phát triển
liên hoàn
Công thức: Trong đó
t
là tốc độ phát triển trung bình.
Vì
)4.3(
y
y
t
1n
1
n
§Ò ¸n lý thuyÕt thèng kª
Phan Qu¸n Thµnh – Tkª40A
10
Từ công thức (3.4) cho ta thấy chỉ nên tính chỉ tiêu tốc độ phát triển
trung bình đối với những hiện tượng biến động theo một xu hướng nhất định.
4) Tốc độ tăng (hoặc giảm).
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ của hiện tượng giữa hai thời gian đã
tăng(+) hoặc giảm(-) bao nhiêu lần (hoặc bao nhiêu %). Tương ứng với các
tốc độ phát triển ta có tốc độ tăng hoặc giảm sau đây:
-Tốc độ tăng (hoặc giảm) liên hoàn (hay từng kỳ) là tỷ số giữa lượng
tăng hoặc giảm liên hoàn với mức độ kỳ gốc liên hoàn.
Suy ra a
i
=t
i
1i
i
1i
1ii
1i
i
i
y
y
y
y
y
yy
y
a
)n,...,3,2i(
y
y
y
y
i
: là giá trị tuyệt đối của 1% tăng hoặc giảm:
Ta cũng có thể biến đổi: Chú ý : Chỉ tiêu này chỉ tính cho tốc độ tăng hoặc giảm liên hoàn. Vì đối với
tốc độ tăng hoặc giảm định gốc thì không tính vì luôn là một số không đổi
y
1
/100.
III. Một số phương pháp biểu hiện xu hướng biến động cơ bản của
hiện tượng.
1) Phương pháp mở rộng khoảng cách thời gian.
Phương pháp này được sử dụng khi một dãy số thời kỳ có khoảng cách
thời gian tương đối ngắn và có nhiều mức độ mà qua đó chưa phản ánh được
xu hướng biến động của hiện tượng.
2) Phương pháp số trung bình trượt (di động).
Số trung bình trượt là số trung bình cộng của một nhóm nhất định các
mức độ của dãy số được tính bằng cách lần lượt loại dần các mức độ đầu,
đồng thời thêm vào các mức độ tiếp theo, sao cho nó bằng tổng các mức độ
tiếp theo, sao cho tổng só lượng các mức độ tham gia tích số trung bình không
thay đổi.
Giả sử có dãy số thời gian: y
1
,y
2
,y
3
,...,y
n-2
g
1i
1i
1ii
1ii
i