Tài liệu Đề tài “Thực trạng và giải pháp trong hoạt động xuất khẩu hàng TCMN tại công ty Artex –Hà Nội” - Pdf 87



Luận văn Đề Tài:Thực trạng và giải pháp
trong hoạt động xuất khẩu hàng
TCMN tại công ty Artex –Hà Nội -1-
LỜI MỞ ĐẦU

Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế, là
phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc mở rộng xuất khẩu để tăng thu
nhập ngoại tệ cho tài chính, học tập kinh nghiệm quản lý, công nghệ, tạo điều
kiện phát triển cơ sở hạ tầng và phát huy nội lực là mục tiêu quan trọng nhất của
chính sách thương mại. Nhà nước đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy
các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích tư nhân mở rộng xuất
khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng doanh thu cho đất nước.
Đẩy mạnh sản xuất và sản xuất hàng TCMN sẽ mang lại lợi ích to lớn
không chỉ về kinh tế mà còn về văn hóa, xã hội. Hàng TCMN đem lại lợi nhuận

khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu từ phía
thầy cô và các bạn./.

-3-
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT HÀNG TCMN Ở VIỆT NAM VÀ QUY TRÌNH TỔ CHỨC
THỰC HIỆN HĐXK MẶT HÀNH NÀY

I. MỘT SỐ NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU HÀNG TCMN CỦA

nó hàng ngày. Vậy là, hàng TCMN không phải chỉ để ngắm, thưởng thức mà
còn đi sâu vào đời thường. Với nguyên liệu như mây, tre,…có ở trong nước,
hàng TCMN được tập trung ở các làng nghề, sản xuất theo lối truyền thống, quy
trình sản xuất đơn giản, chi phí sản xuất thấp, giá thành không quá cao so với
thu nhập của người tiêu dùng Việt Nam. Do vậy, các mặt hàng như gốm sứ, đồ
gỗ, hàng mây tre đan, hàng thổ cẩm…luôn song hành trong cuộc sống cùng con
người.
2.Tiềm năng phát triển của nghành hàng TCMN
Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt sau thời kỳ đổi mới khi mọi đơn vị
sản xuất kinh doanh được phát huy quyền tự chủ, các mặt hàng TCMN truyền
thống không những không mất đi mà còn đứng vững, một số mặt hàng có thể
mở rộng quy mô sản xuất. Thời gian qua Nhà Nước cũng đã quan tâm, khuyến
khích phát triển các làng nghề, thợ thủ công giỏi để khôi phục các làng nghề
truyền thống.
Mang đậm nét truyền thống, văn hóa dân tộc, các sản phẩm TCMN đáp
ứng được nhu cầu về thưởng thức những tinh hoa văn hóa của dân tộc, các khu
vực địa lý. Sự giao lưu kinh tế và văn hóa, du lịch giữa các nước ngày càng phát
triển là những cơ hội rất tốt để giới thiệu, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hàng
TCMN.
Khi đánh giá tiềm năng phát triển sản phẩm cần phải nhìn nhận một cách
thỏa đáng. Tiềm năng phát triển cần dựa trên tiềm năng tiêu thụ của sản phẩm.
Hàng TCMN không những tiêu thụ tốt trong nước mà còn được mở rộng ra cả ở
nước ngoài. -5-
Đối với thị trường trong nước, khi cuộc sống của người dân được nâng
cao, sức mua được cải thiện, điều mà con người hướng tới là sự quay lại với tự
nhiên, gắn bó với truyền thống. Đó là một quy luật phổ biến không chỉ đối với
tầng lớp trung lưu mà với mọi tầng lớp dân cư. Vì vậy, sản phẩm TCMN không

độc đáo. Ngày nay, đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại
hóa, máy móc dần thay thế sức lao động của con người, các sản phẩm thủ công
không mất đi mà tồn tại, phát triển song song với công nghệ và sản phẩm hiện
đại. Cùng với sự phát triển đi lên của nền kinh tế, một số tiến bộ mới đã được
áp dụng thay thế lao động thủ công như: công nghệ nhào trộn đất, dập, phay kim
loại,… bằng máy như: lò nung đốt bằng gas. Hơn nữa, sự phát triển của cơ sở hạ
tầng, phương tiện vận tải, thông tin và kỹ thuật hiện đại nên sức lao động giảm,
số lượng sản phẩm làm ra nhiều hơn, chất lượng tăng. Do vậy, nhóm hàng
TCMN nằm trong số 15 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của cả
nước với kim ngạch xuất khẩu được 235 triệu USD năm 2002 và 331 triệu USD
năm 2003 ( tăng 40,8% ) đứng sau một số hàng chủ lực của nền kinh tế như:
Cao su, cà phê, gạo, lạc nhân, hạt điều, chè, rau quả, thủy sản, dầu thô, than đá,
hàng dệt may, giày dép ( theo số liệu của Bộ Thương Mại)
Thị trường xuất khẩu nghành hàng này ngày càng được mở rộng hơn bao
gồm: Nhật Bản, Singapore, Anh…Nhà nước ta vẫn tiếp tục khuyến khích sản
xuất các mặt hàng TCMN trong tương lai. Bởi lẽ, nhu cầu về mặt hàng này vẫn
gia tăng trên thị trường thế giới và việc sản xuất mặt hàng này giúp Việt Nam
phát huy được lợi thế so sánh của mình về nguồn nguyên liệu sẵn có và nguồn
lao động thủ công có tay nghề mà giá nhân công lại rẻ.
4. Những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất và xuất khẩu hàng
TCMN ở Việt Nam hiện nay.
4.1.Thuận lợi
Đầu tiên phải kể đến những nghệ nhân, thợ lành nghề có bàn tay tài
hoa tạo ra tất cả các mặt hàng như gốm sứ, đồ gỗ, dệt lụa, mây tre đan,…Con
người là yếu tố quyết định trong việc tạo ra những sản phẩm TCMN tuyệt mỹ, -7-
độc đáo. Trải qua nhiều thế hệ, bí quyết nghề luôn được các nghệ nhân tiền bối
giữ gìn và chỉ truyền cho những nhân tài trong dòng họ. Vì vậy, hàng trăm năm

việc xây dựng thương hiệu cho hàng TCMN là những vấn đề đặt ra cấp bách.
Vốn là một yếu tố cần thiết nhưng khả năng cung ứng về vốn còn yếu.
Các cơ sở sản xuất chủ yếu có quy mô nhỏ chưa thuyết phục được ngân hàng
cho vay vốn. Các ngân hàng cũng chưa tìm ra cơ chế thích hợp để cho các đơn
vị sản xuất vay vốn nhiều hơn và tăng thời hạn vay dài hơn. Điều này ảnh hưởng
trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh hàng TCMN.
Số thợ giỏi có trình độ tay nghề ngày càng một ít đi. Lí do chính là bí
quyết nghề chỉ truyền cho một hoặc một số ít người có tài năng trong gia đình,
không phổ biến rộng nhằm tránh tình trạng rò rỉ bí quyết, vô tình tạo ra các đối
thủ cạnh tranh. Ngoài những khó khăn nêu trên còn nhiều khó khăn khác như
chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, hệ thống thị trường chưa ổn định, tình
trạng ô nhiễm môi trường…
Do vậy, chúng ta cần tận dụng những thuận lợi có được, đồng thời khắc phục
các khó khăn còn tồn tại để nghành hàng TCMN tiếp tục phát triển và tỏa sáng
hơn nữa.
II. QUY TRÌNH THỰC HIỆN HĐXK HÀNG TCMN.
Vì hàng TCMN là loại hàng hóa Nhà nước khuyến khích XK nên doanh
nghiệp không phải xin giấy phép XK.
1. Chuẩn bị hàng hóa.
Quá trình chuẩn bị hàng XK gồm các khâu:
Thứ nhất, tập trung hàng XK đủ về số lượng. Phù hợp về chất lượng và đúng
thời điểm, tối ưu hóa được chi phí, là một hoạt động rất quan trọng của các
doanh nghiệp kinh doanh. Mỗi loại hình doanh nghiệp với các đặc trưng khác
nhau thì quá trình này cũng khác nhau.
Thứ hai, bao gói hàng XK: đây là khâu quan trọng trong việc chuẩn bị hàng hóa
bởi nó hạn chế những tác động của môi trường bên ngoài nhằm bảo vệ hàng hóa
trong quá trình vận chuyển, bảo quản đồng thời có tác dụng quảng cáo và hướng
dẫn tiêu dùng. -10-
- Căn cứ vào điều kiện cơ sở giao hàng trong HĐXK
- Căn cứ vào hàng hóa vận chuyển
- Căn cứ vào điều kiện vận chuyển
5. Làm thủ tục hải quan
Quy trình làm thủ tục hải quan về cơ bản sẽ tiến hành theo 3 bước là:
Khai báo hải quan, xuất trình hàng hóa để công chức Hải quan kiểm tra, thực
hiện các quyết định của công chức hải quan. Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm tình
hình, những quy định tại mỗi quốc gia và trong từng thời kỳ nhất định mà quy
trình làm thủ tục hải quan có thể được triển khai theo các bước cụ thể khác nhau.
6. Giao hàng với phương tiện vận tải
Hàng XK chủ yếu được giao bằng đường biển và đường sắt. Nếu hàng
hóa được giao bằng đường biển, chủ hàng phải tiến hành các việc sau: Căn cứ
vào các chi tiết hàng XK, lập bảng đăng ký hàng chuyên chở cho người vận tải
(Đại diện hàng hải, hoặc thuyền trưởng, công ty đại lý tàu biển ) để đổi lấy sơ đồ
xếp hàng.
- Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày gi
ờ.
- Bố trí phương tiện đem hàng vào cảng, xếp lên tàu.
- Lấy biên lai thuyền phó và đổi lấy vận đơn đường biển. Vận đơn đường
biển phải là vận đơn hoàn hảo. Nếu chuyên chở bằng đường sắt chủ hàng phải
đăng ký với cơ quan đường sắt để xin cấp toa xe cho phù hợp với tính chất và
khối lượng hàng hóa. Khi đã được cấp toa xe, chủ hàng tổ chức bốc xếp hàng,
niêm phong cặp chì và làm các chứng từ vận tải, trong đó chủ yếu là vận đơn
đường sắt.
7. Nghiệp vụ thanh toán
Trong thương mại quốc tế có nhiều phương thức thanh toán, chủ yếu các
doanh nghiệp áp dụng phương thức thanh toán L/C hoặc T/T. Đối với khách

vẫn giữ tên cũ là Công ty Mỹ nghệ xuất khẩu Hà Nội. Đến ngày 27/9/1996 theo
quyết định thành lập số 3169/QĐ/UB/TC của UBND thành phố Hà Nội, công ty
chính thức mang tên: Công ty xuất nhập khẩu hàng tiêu dùng và Thủ công mỹ
nghệ Hà Nội.
Tên giao dịch quốc tế là:
HANOI ARTHANDICRAF COMSURMER GOODS IMPORT-EXPORT
CORPORATION ( ARTEX HA NOI )
Công ty là một trong những thành viên của Liên hiệp công ty xuất nhập
khẩu đầu tư Hà Nội ( UNIMEX HaNoi )
Trụ sở chính: 172 Ngọc Khánh - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: (84-4)7715572. Fax: (84-4)7715578.
Email: -13-
2.Cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng và nhiệm vụ của công ty Artex
Hà Nội.
2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy:
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam nói
chung và công ty Artex Hà Nội nói riêng đều phải thực hiện hình thức hoạch
toán giá thành sản phẩm, lãi hưởng lỗ chịu. Do đó, bộ máy của công ty đã được
thu gọn lại không còn cồng kềnh như trước, công ty phải từng bước giảm bớt lực
lượng lao động gián tiếp ( những cán bộ viên chức không đáp ứng được yêu cầu
đổi mới của hoạt động kinh doanh ) nên số lượng nhân viên giảm trong những
năm gần đây còn 80 người, đồng thời các phòng ban nghiệp vụ đi vào hoạt động
hiệu quả. Cơ cấu hoạt động của công ty được thể hiện ở bảng 1 sau đây:
Bảng 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty Artex Hà Nội.

kính doanh 3
Phòng nghiệp vụ
kinh doang 4
Phòng tổ chức
hnh chính
Phòng kế toán
ti vụ
Phòng tổng hợp
thị trường
P. phát triển TT
v mặt hng mới -14-
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng.
Mô hình này phù hợp với quy mô kinh doanh nhỏ, hơn nữa các mệnh lệnh,
nhiệm vụ và thông báo tổng hợp cũng được truyền từ lãnh đạo của công ty đến
cấp cuối cùng một cách dễ dàng.
Ban giám đốc gồm: Giám đốc, 2 Phó giám đốc: trực tiếp tổ chức, điều
hành hoạt động của công ty.
Chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các phòng ban như sau:
- Phòng tổng hợp thị trường: lập kế hoạch, thống kê kế hoạch, báo cáo và
theo dõi điều hành tổ chức kinh doanh đồng thời cung cấp các thông tin cần thiết
cho các phòng nghiệp vụ kinh doanh.
- Phòng nghiệp vụ kinh doanh 1: Chủ yếu kinh doanh xuất nhập hàng thủ
công mỹ nghệ, tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng.
- Phòng nghiệp vụ kinh doanh 2: Kinh doanh xuất nhập khẩu trọng tâm
hàng nông lâm, hải sản.
- Phòng nghiệp vụ kinh doanh 3: Khai thác trung tâm thương mại, kinh
doanh xuất nhập khẩu hàng may mặc.

Để thực hiện tốt công tác, chức năng này công ty phải hoàn thành các nhiệm vụ:
Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh nhằm thực hiện
tốt mục đích và chức năng của công ty.
Nghiên cứu khả năng sản xuất và nhu cầu của thị trường, kiến nghị và đề
xuất với UBND thành phố Hà Nội các biện pháp thực hiện nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh.
Tuân thủ luật pháp về quản lý kinh tế tài chính, quản lý xuất nhập khẩu và
giao dịch đối ngoại, nghiêm chỉnh thực hiện các cam kết trong hợp đồng mua
bán ngoại thương và các hợp đồng kinh tế có liên quan đến việc kinh doanh của
công ty. Quản lý, chỉ đạo và tạo điều kiện để các đơn vị trực thuộc chủ động
trong hoạt động kinh doanh theo quy chế và pháp luật hiện hành. Việc quy định
rõ phạm vi, quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ của công ty xuất nhập hàng tiêu
dùng và thủ công mỹ nghệ Hà Nội tạo thuận lợi giúp cho hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu của công ty đạt hiệu quả cao.

Trích đoạn Hoàn thiện công tác chuẩn bị hàng xuất khẩu Cải thiện cơ sở hạ tầng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status