Hội Lim
Quan họ là loại dân ca đặc sắc của vùng Kinh Bắc xưa
và nay là tỉnh Bắc Ninh. Lim là tên Nôm của xã Lũng
Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội 18
km. Hội mở trên đồi Lim, có chùa Lim nơi thờ ông Hiếu
Trung Hầu, người sáng lập tục hát quan họ.
Hội Lim mở vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch hàng năm.
Khách kéo về dự hội Lim rất đông để được xem hát
quan họ giữa các "liền anh" "liền chị", hát sau chùa, hát
trên đồi, hát đối đáp từng cặp đôi, hát trên thuyền... với
đủ các làn điệu quan họ khác nhau. Ngoài ra, trảy hội
Lim còn được xem các cuộc thi dệt của các cô gái Nội
Duệ, vừa dệt thi vừa hát quan họ. Cũng như các Hội
khác, hội Lim cũng có đủ các phần từ lễ rước đến tế lễ
cùng nhiều trò vui khác.
Hội Lim là một sinh hoạt văn hoá - nghệ thuật đặc sắc của nền văn hoá
truyền thống lâu đời ở xứ Bắc và dân ca Quan họ trở thành tài sản văn
hoá chung của dân tộc, tiêu biểu cho lo
hình dân ca trữ tình Bắc Bộ.
ại
Gương mặt người quan họ
13 tháng giêng hội Lim sẽ diễn ra. Ngay từ bây giờ khắp các làng, xã ở Bắc Ninh
đã rộn ràng tiếng hát của những liền anh, liền chị. Những câu ca thật mộc mạc,
trọng nghĩa, trọng tình giống như con người vùng này vậy. VnExpress ghi lại
chùm ảnh về cuộc thi hát giao duyên, hát đối đáp được tổ chức vào hai ngày mùng
10 và 11 tháng giêng.
Vùng đất Kinh Bắc không chỉ là đất võ mà còn là đất văn, nơi
đây đã sản sinh cho đời rất nhiều thuần phong mỹ tục. Hệ thống
hội hè, đình đám và ca hát là nét đẹp tiêu biểu của đất này
nhưng không gì gây dấu ấn sâu đậm bằng Hội Lim vùng quan
họ.Hội Lim được tổ chức vào ngày 13 tháng giêng hàng năm, đó là
hội hàng tổng gồm các làng Nội Duệ, Nội Duệ Khánh, Nội Duệ
Nam, Lũng Giang (tức Cầu Lom và Xuân Ó). Tổng Nội Duệ
huyện Tiên Du (nay là Tiên Sơn) trải dài trên đôi bờ sông Tiêu
Tương, ôm ấp ngọn núi Hồng Vân (còn gọi là núi Lim), trên có
ngôi chùa thờ phật. Hội Lim là nét kết tinh độc đáo của vùng
văn hoá Kinh Bắc.Như các lễ hội khác, hội Lim cũng có đủ các phần từ lễ rước, lễ
tế đến các trò chơi như đấu võ, đấu vật, đấu cờ, đu tiên, thi dệt
cửi, nấu cơm... nhưng phần căn bản nhất của Hội Lim là hát. Từ
hát mời trầu, hát gọi đò đến con sáo sang sông, con nhện giăng
mùng... Cả một trời âm thanh, thơ và nhạc náo nức không gian,
xao xuyến lòng người. Những áo mớ bảy mớ ba, nón ba tầm,
quai thao, dải yếm lụa sồi, những ô lục soạn, khăn đóng, áo cặp
the hoa gấm... như ẩn chứa cả sức sống mùa xuân của con
người và tạo vật. Cách chơi hội của người quan họ vùng Lim cũng là cách chơi độc
đáo. Dường như mỗi cử chỉ giao tiếp đã mang trong nó một sắc
Trong ký ức của người dân Phú Ðình (Ðịnh Hoá) nói riêng, người Thái
Nguyên nói chung, hình ảnh trong câu thơ trên vẫn sống động như một lời
mời gọi. Bởi Lồng Tồng (Hội xuống đồng) đã từng là lễ hội lớn nhất, vui
nhất của người Tày, người dân tộc thiểu số đông nhất ở tỉnh Thái Nguyên.
Những người cao niên kể lại rằng, trước đây người Tày năm nào cũng tổ
chức lễ hội ở những đám ruộng to nhất, đẹp nhất do dân bản chọn. Ngày
tổ chức do từng nơi ấn định cho phù hợp. Các địa phương ở gần nhau thì
thoả thuận chọn các ngày khác nhau để có điều kiện giao lưu. Trước ngày
hội, các gia đình đều quét dọn nhà cửa, xóm bản sạch sẽ, chuẩn bị lương
thực để đón khách. Khách đến quê nhà dù quen dù lạ đều được đồng bào
mời về nhà ăn nghỉ qua đêm chờ dự hội
Trong ngày diễn ra lễ hội, phần lễ và phần hội đều diễn ra trang trọng, vui
tươi. Phần lễ là hoạt động tín ngưỡng cầu trời cho mưa thuận gió hoà, cây
cối tốt tươi, mùa màng bội thu, đời sống ấm no. Ðể chuẩn bị lễ ở ngoài
đồng, mỗi gia đình chuẩn bị một mâm cỗ theo khả năng, có nhiều nhà làm
từ vài chục đến một trăm món. Việc làm cỗ còn mang hàm ý phô bày một
cách kín đáo sự khéo léo của người phụ nữ trong việc nội trợ, nấu nướng
các món ăn truyền thống như bánh chưng, bánh dày, chè lam, bánh
bỏng... Có những gia đình dâng mâm cao đến 5 tầng lễ vật, ngoài các loại
bánh kẹo còn có các món ăn được chế biến công phu, trên mỗi mâm đều
có một chiếc bánh hình bông hoa nhiều mầu sắc. Mỗi mâm cỗ còn có
thêm hai đôi quả còn được làm bằng vải mầu, trong nhồi cát, bông, có tua
rua nhiều mầu sắc sặc sỡ.
Khi cỗ được bày xong, người đựơc dân làng tín nhiệm tiến cử thực hiện
nghi lễ cầu cúng cầu mong đất trời, thần linh phù hộ cho bản làng. Phần
cúng lễ cũng chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, còn dành thời gian cho
phần hội.
Mở đầu là hội tung còn. Ðây là hoạt đông vui nhất, thu hút nhiều người
tham gia nhất. Ðể chuẩn bị cho hội tung còn, ở giữa đám ruộng lớn đựơc
chọn làm địa điểm lễ hội, người ta dựng một cây mai cao từ 20-30cm làm
Bến Kiếp Bạc mênh mông sóng nước. Cái bằng lặng ngày thu
bỗng trở nên náo nhiệt khi bước vào ngày hội. Người ta trảy hội
đền Kiếp Bạc bằng đường bộ từ Hà Nội theo đường 5A, từ Bắc
Ninh theo đường 18 về Phả Lại và dọc đê sông Thương. Nhưng
đường thủy cuồn cuộn vui. Từ sông Ðuống xuôi dòng về Lục Ðầu
Giang, có người của xứ Đoài, có người đông bắc miền biển. Từng
đoàn thuyền rồng treo cờ xí rực rỡ. Ðoàn người trẩy hội trên sông
theo từng đội. Náo nhiệt lắm. Chiêng trống từng hồi theo nhịp
chèo suốt dọc con sông. Nhịp hò khoan, hát đối, hò sông nước và
những tiếng trống thưởng cho một câu hát hay, làm dân đôi bờ
cùng vui. Bến thuyền Kiếp Bạc trở nên sầm uất với hàng trăm
thuyền về đậu. Tưởng như hơn 700 năm trước, tướng Trần Hưng
Ðạo hội quân sau chiến thắng.Ngày trên sông đông vui. Ðêm về