26
§5. MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG ĐẦU TƯ
CÔNG
5.1 Mô hình xác định lợi ích kinh tế trong thị trường không biến dạng
Từ chương này trở đi chúng ta sử dụng phương pháp kinh tế để thẩm định các dự án
công. Chi phí kinh tế của các yếu tố đầu vào và giá đầu ra có thể chênh lệch nhiều so với
con số tài chính. Chẳng hạn các dự án như: cung cấp nước sạch nông thôn, xây dựng
trường phổ thông ở vùng sâu, đường nông thôn, …thường có giá trị đối với xã hộ
i lớn
hơn nhiều so với mức giá tài chính mà người dân chi trả. Nếu dự án điện của chính phủ
bán với giá thấp hơn giá kinh tế thì coi như chính phủ đã trợ cấp ngầm cho người sử
dụng. Hoặc một dự án trả lương cho người lao động cao hơn chi phí kinh tế của lao động,
tức là đã trợ cấp cho người lao động. V.v…
Lợi ích, chi phí kinh tế và doanh thu, chi phí tài chính quan hệ gắn bó với nhau nhưng
không thể đồng nhất chúng được. Sự khác biệt giữa giá kinh tế và giá tài chính là khoản
lợi nhuận siêu ngạch được dồn cho một nhóm người nào đó trong xã hội, đồng thời cho
thấy những thông tin hữu ích về phân phối chi phí và lợi ích. Nói cách khác, sự khác biệt
giữa các giá kinh tế và giá tài chính phản ánh một đối tượng khác ngoài chủ dự án hoặc
được hưởng lợi ích của dự án hoặc gánh chịu chi phí cho dự án. Như thế, khi phân tích tài
chính, ta xem xét chủ dự án bỏ ra bao nhiêu tiền và chủ dự án thu về bao nhiêu dòng tiền
ròng. Còn khi phân tích kinh tế, chúng ta không chỉ xem xét chủ dự án bỏ ra và thu về
bao nhiêu dòng tiền ròng mà còn xét đến cả lợi ích và chi phí của những đối tượng không
trực tiếp tham gia vào dự án. Bằng cách nhận diện các nhóm đối tượng ngoài chủ dự án
được hưởng lợi từ dự án và các nhóm gánh chịu chi phí của dự án, chúng ta sẽ thu thập
được những thông tin về động cơ khuyến khích nhóm này ủng hộ còn nhóm khác phản
đối.
Trong các nền kinh tế ít méo mó, giá thị trường có thể được dùng làm chi phí cơ hội của
các đầu vào và các đầu ra. Trong nền kinh tế mà giá cả bị bóp méo thì giá thị trường
không thể sử dụng để xác định chi phí kinh tế. Mà phân tích kinh tế phải đánh giá được
dự án. Nói khác đi, thặng dư tiêu dùng của xã hội gia tăng là một phần lợi ích mà dự án
mang lại.
Chẳng hạn chính phủ nước cộng hòa X phát triển mạng điện thoại di động. Điều đó sẽ
làm giá cước hiện từ P
0
giảm còn P
1
, đồng thời tăng số lượng thuê bao từ Q
0
lên Q
1
.
Người sử dụng điện thoại hiện hữu sẽ tiết kiệm được thể hiện ở phần diện tích hình chữ
nhật P
1
P
0
BD. Nhưng thực ra đây là phần doanh thu của các nhà cung cấp mạng điện thoại
28
hiện hành bị mất đi. Do đó toàn xã hội không hề nhận được lợi ích ròng từ phần tiết kiệm
này. Chỉ có diện tích tam giác DBC mới là lợi ích ròng mà dự án thêm vào cho xã hội.
Nếu xét trường hợp một đất nước trước đây nhập khẩu 100% điện, giờ phát triển dự án
nhà máy thủy điện, thì lợi ích kinh tế của dự án chính là toàn bộ diện tích hình thang
P
1
P
0
BC.
Nói như vậy không có nghĩa loại ra hiệu quả phân phối của các dự án công, mà chúng ta
Sau đó chính quyền thành phố quyết định cung cấp thêm các rạp chiếu phim bằng dự
án “Phát triển hệ thống chiếu phim công cộng” với tổng số chỗ ngồi là 10.000 chỗ.
Chính quyền chủ trương không ấn định giá vé mà để nó do thị trường tự do quyết
định. 29
Hình 4.1: Đường cầu và đường cung trước khi có dự án “Phát triển hệ thống
chiếu phim công cộng”
5.1.3.1 Tóm tắt số liệu ban đầu -- số liệu trước khi có dự án “Phát triển hệ thống chiếu
phim công cộng”
Độ dốc đường cung = tang
BCP
ˆ
0
= (P
0
- P
S
)/ΔQ
S
= ΔP
S
/ΔQ
S
= 16.000 đ/30000 ghế = 8/15
Độ dốc đường cầu = tang
BCA
S
ε
Hệ số co giãn của lượng cầu tại mức sản lượng 30.000 chỗ:
2
30000
20000
1
3
0
0
−=×
−
=×
Δ
Δ
=
Q
P
P
Q
D
D
η
Phía dưới đường cung S
0
là chi phí của khu vực tư nhân khi cung cấp chỗ
xem phim.
Tam giác P
= 120 tr.đ + 240 tr.đ
= 360 tr.đ
Lợi ích kinh tế ròng = Tổng lợi ích kinh tế − Tổng chi phí kinh tế
= Diện tích BAC
= 750 tr.đ – 360 tr.đ
= 390 tr.đ
Trong lợi ích kinh tế ròng:
+ Phần thuộc về người tiêu dùng: 150 tr.đ
+ Phần thuộc về chủ rạp phim: 240 tr.đ
5.1.3.2 Dự án “Phát triển hệ thống chiếu phim công cộng”
Lượng ghế do dự án cung cấp: 10.000 ghế
31
Khi có thêm 10.000 chỗ xem phim:
- Xuất hiện đường cung mới S
T
, song song với S
0
.
S
T
= S
0
+ 10000 chỗ
- Ngay khi vừa khánh thành các rạp chiếu phim mới, lượng cung tại thời điểm đó lên đến
40.000 chỗ xem phim và lớn hơn lượng cầu. Điều này gây ra một áp lực giảm giá vé trên
thị trường. Giá vé P
0
1
P
0
CG nhưng nó chuyển sang
thặng dư của người xem phim.
- Thặng dư của người xem phim tăng thêm P
1
P
0
CF.
P
1
P
0
CF = P
1
P
0
CG + GCF
5.1.3.3 Tính P
1
, Q
2
và Q
332
Với mức giá P
0
Biến đổi vế phải, bằng cách thêm ΔP để thể hiện quan hệ giữa sự thay đổi giá làm cân
bằng ΔQ
D
và ΔQ
S
như thế nào.
⎥
⎦
⎤
⎢
⎣
⎡
Δ
Δ
−
Δ
Δ
Δ=Δ
P
Q
P
Q
PQ
SD
(4.1)
(Ghi chú công thức (4.1): ΔQ
D
/ΔP
−=−×=Δ
Δ
Δ
=Δ P
P
Q
Q
S
S
6150
39
80000
1
3
=−×−=Δ
Δ
Δ
=Δ P
P
Q
Q
D
DVậy, Q
3
2
).
Q
3
GCFQ
2
= Q
3
GCQ
0
+ Q
0
CFQ
2
Q
3
GCQ
0
= (3850 ghế × 18000 đ) + (2000 đ × 3850 ghế)/2
= 73.150.000 đ
(Đây là phần tiết kiệm nguồn lực của các rạp chiếu phim tư nhân)
Q
0
CFQ
2
= (6150 ghế × 18000 đ) + (2000 đ × 6150 ghế)/2
= 116.850.000 đ
(Đây là phần giá trị tăng thêm của dự án cho người xem phim)
Q
0
= − ΔQ
S
× [(P
0
+ P
1
)/2]
Diện tích hình thang Q
0
CFQ
2
= ΔQ
D
× [(P
0
+ P
1
)/2]
[
2
10
PP +
] là mức giá bình quân giữa giá cung P
S
và giá cầu P
D
. Trong bối cảnh thị
trường không biến dạng thì giá mà nhà sản xuất/cung cấp dịch vụ nhận ðýợc, P
S
CFQ
2
=
Tổng lợi
ích kinh tế
=
B
=
−
Δ
Q
S
P
S
+
Δ
Q
D
P
D34
Lợi ích kinh tế trên mỗi đơn vị sản phẩm tạo ra, ký hiệu là b, được tính như sau:
(4.2)
(4.3)
Biến đổi tử và mẫu của b như sau:
P
Q
P
Q
Q
Q
P
P
Q
P
Q
P
P
Q
b
××
Δ
Δ
−×
Δ
Δ
×××
Δ
Δ
−××
Δ
Δ
=
Thay bằng các hệ số co giãn cung và cầu, ta có:
Q
S
S
S
S
×
∂
∂
=×
Δ
Δ
=
ε
và
Q
P
P
Q
Q
P
P
Q
D
D
D
D
×
∂
∂
=×
.
Khi không có giới hạn về lượng cầu và cung của mặt hàng, w
s
và w
d
được xác định như
sau.
S
D
s
Q
Q
w
×−
=
ηε
εS
D
S
D
d
Q
Q
Q
Q
w
Theo điều tra của nhóm soạn thảo dự án, hàng năm có khoảng 800.000 lượt người thường
xuyên tập thể dục tại các phòng tập hiện có. Giá bình quân của một lượt tập là 40000
đồng. Dự án của chính quyền thành phố M dự kiến sẽ cung cấp chỗ tập thể dục cho
200.000 lượt người mỗi năm, trong đó có khoảng 60.000 chỗ là tạo mới và 140.000 chỗ
là “chèn” vào lượng cung của các phòng tập hiện hành, và đương nhiên là “hất” họ ra.
Sau khi có các phòng tập thể dục mới, giá bình quân của một lượt tập giảm còn 30.000
đồng. Giả sử chúng ta chưa tính đến thuế hàng hóa đánh vào dịch vụ này và cũng xét t
ới
mọi khoản trợ cấp hay trợ giá của chính quyền, tức là thị trường về chỗ tập thể dục chưa
biến dạng.
Như vậy, tỷ trọng của sản phẩm mà dự án tăng thêm cho người tiêu dùng là:
= 60.000 chỗ / 200.000 chỗ = 30% = w
d
Tỷ trọng sản phẩm của các nhà cung cấp hiện hành bị dự án hất ra là:
= 140.000 chỗ / 200.000 chỗ = 70% = w
s36
Vì thị trường về chỗ tập thể dục chưa biến dạng, giá mà nhà cung cấp chỗ tập thể dục
nhận được sau khi có dự án, P
S
, và giá mà người tập thể dục trả sau khi có dự án, P
D
,
bằng nhau -- 30000 đ/lượt.
Lợi ích kinh tế của một chỗ tập thể dục được xác định như sau:
b = – (w
s
37
Lúc này xuất hiện sự chênh lệch giữa giá mà nhà cung cấp nhận được (giá cung, P
S
) với
giá mà người tiêu dùng sẵn lòng chi trả (giá cầu, P
D
). Khoản chênh lệch đó chính là thuế
hàng hóa. Gọi T là số tiền thuế trên một đơn vị sản phẩm.
T = t × P
S
1
trong đó t là thuế suất và P
S
1
là giá cung khi xuất hiện thuế
và giá cầu sau khi có thuế được xác định:
P
D
1
= P
S
1
+ T = (1 + t)P
S
1
Sự xuất hiện của thuế làm đường cầu dịch chuyển xuống dưới đường cầu cũ nhưng
không song song mà khoảng cách ngày càng rộng hơn về phía tây-bắc. Khoảng cách giữa
như sau.
•
Tính P
S
1
, P
D
1
và thuế:
S
P
1
=
]
)1(
[
0
ηε
ηε
t
P
+−
−38
S
P
1
=
Tính Q
1
: 5.2.2.2 Sau khi có dự án “Phát triển hệ thống chiếu phim công cộng”
Bây giờ chúng ta thêm vào lượng cung chỗ xem phim mà dự án “Phát triển hệ
thống chiếu phim công cộng” cung cấp. Lúc này đường cung mới, S
1
, dịch chuyển xuống
dưới đường cung ban đầu về hướng đông-nam như mô tả trong Hình 5.2 dưới đây.
Giá cung khi đó chuyển từ P
S
1
xuống P
S
2
.
Giá cầu chuyển từ P
D
1
xuống P
D
2
.
Quan hệ giữa giá cung và giá cầu vẫn theo công thức: P
D
2
= P
S
thị trường không biến dạng”, ta rút ra các kết luận như sau:
- Giá trị nguồn lực của khu vực tư tiết kiệm được là diện tích Q
S
HE
1
Q
1
. Đây là phần diện
tích hình thang nằm dưới đường cầu đã trừ thuế, D
n
, và đường cung của các chủ rạp phim
tư nhân, S
0
.
- Người xem phim sẵn lòng trả thêm cho các rạp chiếu phim quốc doanh tổng giá trị bằng
diện tích hình thang Q
1
E
1
E
2
Q
D
. Đồng thời họ sẵn lòng nộp cho chính phủ số tiền thuế
bằng diện tích hình E
1
GFE
2
. Gộp lại, người tiêu dùng sẵn sàng trả tổng số tiền là diện
tích h́nh Q
⎥
⎦
⎤
⎢
⎣
⎡
Δ
Δ
−
Δ
Δ
Δ=Δ
S
S
S
D
S
P
Q
P
Q
PQ
⎥
⎦
⎤
⎢
⎣
⎡
−
2
, là:
P
D
2
= 15.552 đ × ( 1+ 25%) = 19.440 đồng.
Số tiền thuế hàng hóa:
T = P
S
2
× 25% = 15.552 đ × 25% = 3888 đồng
Lượng cung tư nhân về chỗ xem phim giảm đi: