Đặt vấn đề.
Qua 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt đợc những
thành tựu quan trọng trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội. Có thể nói, nền kinh
tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã đợc xác lập và phát huy
hiệu quả. Trong những thành công này có đóng góp một phần không nhỏ của bộ
phận kinh tế Nhà nớc (KTNN) với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là công cụ
hữu hiệu để Nhà nớc điều tiết nền kinh tế. Không còn nghi ngờ gì nữa KTNN là
lực lợng đảm bảo cho mục tiêu XHCN ở nớc ta.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự phát triển của KTNN có những
biểu hiện suy giảm. Trong khi các thành phần kinh tế khác có những biểu hiện
phát triển vợt bậc, đặc biệt là kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài. Tốc độ cải cách
tiến hành chậm, nhiều cơ chế chính sách còn vớng mắc cha đợc tháo bỏ triệt để,
tàn d của chế độ quan liêu bao cấp vẫn còn nặng nề, vấn đề nợ đọng, lao động
dôi d cha đợc giải quyết thoả đáng, còn những tranh cãi về mặt lí luận, nhiều ý
kiến khác nhau cha đợc tổng kết thực tiễn kết luận.
Phát triển KTNN là đòi hỏi sống còn với nền kinh tế và định hớng XHCN
ở Việt Nam. Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã nhấn mạnh sự cần
thiết tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nớc để thực hiện tốt vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế quốc dân ( Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX. Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2001, Tr 189); Nghị quyết Hội nghị lần
thức 3, Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá IX (gọi tắt là Nghị quyết Trung -
ơng 3) đã đề ra các giải pháp cơ bản về vấn đề này theo hớng tiếp tục đẩy mạnh
sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp Nhà nớc.
Để có thể thành0 công còn rất nhiều những khó khăn cần giải quyết. Đây là một
vấn đề nghiên cứu rộng và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế trong và
ngoài nớc.
Xuất phát từ những thực tiễn trên, tác giả của đề án đã chọn đề tài Kinh
tế Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam làm nội
dung nghiên cứu với hy vọng tìm hiểu sâu hơn về KTNN và đa ra các kiến giải
của nhiều nhà kinh tế giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quát về vấn đề này,
đời trong lòng xã hội cũ. Hơn nữa, sự phát triển của phơng thức sản xuất cộng
sản chủ nghĩa đòi hỏi một thời kỳ lâu dài.
Khái niệm quá độ lên chủ nghĩa xã hội đợc vận dụng trong mọi lĩnh vực
của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, t tởng, tập quán trong xã hội. Trong đó,
về kinh tế trong thời kỳ quá độ, theo Lê-nin, là nền kinh tế nhiều thành phần,
bên cạnh các thành phần kinh tế XHCN, còn có những thành phần kinh tế khác
nh t bản nhà nớc, t bản t nhân, cá thể v.v; về chính trị, đó là sự lãnh đạo của Nhà
nớc chuyên chính vô sản.
6 _11 _03
- Việc tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ là một tất
yếu khách quan. V.I . Lê-nin chỉ ra: danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng
vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay, có những thành phần,
những bộ phận, những mảng của chủ nghĩa t bản, chủ nghĩa xã hội hay không?
Bất cứ ai cũng thừa nhận là có. Thực vậy, đối với mỗi hình thái kinh tế xã hội có
nhiều phơng thức sản xuất biểu hiện thành các thành phần kinh tế. Trong thời kì
quá độ, cha có thành phần kinh tế nào giữ vai trò thống trị, chi phối các thành
phần kinh tế khác, mà chúng chỉ là những mảnh, những bộ phận hợp thành kết
cấu kinh tế xã hội trong một thể thống nhất biện chứng. Mỗi thành phần có kiểu
tổ chức sản xuất kinh doanh của nó hợp thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần. Điều này phản ánh đúng yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phù
hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Trên thực tế, cách mạng vô
sản đã thành công ở những nớc t bản trung bình và những nớc kém phát triển
(trong đó có Việt Nam). Để xây dựng xã hội XHCN với trình độ phát triển cao
của lực lợng sản xuất, phải có thời gian tăng năng suất lao động, xây dựng chế
độ công hữu về t liệu sản xuất, xây dựng kiểu xã hội mới. Việc áp dụng những
quan hệ sản xuất XHCN, khi sự phát triển của lực lợng sản xuất cha theo kịp,
nóng vội cải tạo các quan hệ sở hữu nh trớc đây ở các nớc XHCN là phi lịch sử.
Chỉ có phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần mới tạo động lực phát
huy mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế để phát triển, từ
đó mà xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH.
thúc đẩy các điều kiện kinh tế xã hội của xã hội mới phát triển và hoàn thiện.
Đó chính là khởi nguyên của t tởng về vai trò chủ đạo của KTNN.
Xét trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, nền kinh tế của chúng ta nhỏ bé
và lạc hậu việc áp dụng một nền kinh tế quan liêu bao cấp theo mô hình kinh tế
chỉ huy nh vừa qua là cha phù hợp. Để tiến lên CNXH tất yếu phải trải qua thời
kì quá độ với việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Chúng ta quá độ
thẳng lên chủ nghĩa xã hội song tiếp thu những thành tựu mà nhân loại đã đạt đ-
ợc dới chủ nghĩa t bản để phát triển kinh tế và KTNN phải giữ vai trò chủ đạo.
Đó chính là những nội dung cơ bản mà Việt Nam đã phát triển t chủ nghĩa Mác-
Lênin áp dụng vào thời kì đổi mới.
4
II. Quan niệm về KTNN
KTNN là một thuật ngữ bao hàm một nội dung khá rộng, đợc xác định
theo ý nghĩa khác nhau tuỳ theo góc độ nghiên cứu. ở Việt Nam, thuật ngữ
KTNN đợc sử dụng rộng rãi từ sau Đại hội VIII thay cho thuật ngữ kinh tế quốc
doanh. Theo cách hiểu chung nhất hiện nay, KTNN là thuật ngữ chỉ phần tài
sản thuộc sỏ hữu Nhà nớc. Phần tài sản đó bao gồm :
1. Tài nguyên khoáng sản, đất đai, .v.v. là tài sản quốc gia do Nhà nớc
làm chủ sở hữu.
2. Hệ thống các quỹ bảo hiểm do Nhà nớc đảm nhiệm và các quỹ dự trữ
quốc gia.
3. Ngân hàng Nhà nớc, kho bạc nhà nớc, tài chính nhà nớc.
4. Các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nớc ở tất cả các ngành, các lĩnh vực.
thành phần kinh tế khác, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển theo hớng đã định
- Thứ ba, KTNN là lợng đảm bảo cho sự phát triển ổn định của nền
kinh tế: là lợng có khả năng can thiệp, điều tiết, hớng dẫn, giúp đỡ,
liên kết tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
- Thứ t, KTNN có thể tác động các thành phần kinh tế khác không chỉ
bằng các công cụ và đòn bẩy kinh tế mà còn bằng con đờng gián tiếp, thông qua
các thể chế và hoạt động của kiến trúc thợng tầng XHCN.
- Thứ năm, KTNN dẫn đầu trong việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện
đại, tiên tiến; do đó nó có nhịp độ phát triển nhanh đóng góp phần lớn cho ngân
sách Nhà nớc và tích tụ để có thể không ngừng tái sản xuất mở rộng.
- Thứ sáu, KTNN là lực lợng nòng cốt hình thành các trung tâm kinh tế,
đô thị mới; là lực lợng có khả năng đầu t vào những lĩnh vực có vị trí quan trọng
sống còn nhng lại ít ai giám đầu t vì nó đòi hỏi vốn quá nhiều mà thời gian thu
hồi vốn chậm.
Nghị quyết đại hội IX của Đảng ta đã chỉ rõ: KTNN phát huy vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế, là lực lợng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nớc
định hớng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. DNNN giữ những vị trí then chốt; đi
đầu tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gơng về năng suất, chất lợng, hiệu quả
kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật.
6
Phần thứ hai: Thực trạng phát triển
và đổi mới KTNN
I. Tổng quan sự phát triển của KTNN trong 15 năm đổi mới, phát
triển.
Trong 15 năm qua, KTNN đã có những chuyển biến đáng kể: KTNN giữ
vai trò chủ đạo, DNNN giữ những vị trí then chốt nắm trong tay những nguồn
lực cơ bản của xã hội, là công cụ để nhà nớc định hớng và điều tiết vĩ mô nền
kinh tế.Trong đó nổi bật có những nét đáng chú ý sau:
- Chúng ta đã chuyển đổi thành công từ chế độ quản lý quan liêu bao cấp
sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc.
37% số DNNN làm ăn có hiệu quả, số còn lại thua lỗ nặng. Theo báo cáo của
Bộ trởng Tài chính tại Quốc hội thì cuối năm 1999 chỉ có 20% số DNNN kinh
doanh có hiệu quả. Tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của DNNN giảm dần
năm 1996: 11,2%, 1997: 9,7%, 1998: 9,1%, 1999: 9,2%. Con số trên chứng tỏ
khả năng sinh lợi của các DNNN thấp và có xu hớng ngày càng giảm. ở các
DNNN tình trạng phổ biến là ứ đọng hàng hoá, khả năng mở rộng sản xuất và
đổi mới công nghệ để sản xuất ra các mặt hàng có giá trị cao hơn, có khả năng
xuất khẩu hơn rất ít. Sản phẩm giá thành còn cao, giá xuất xởng của nhiều loại
sản phẩm chủ yếu của ta cao hơn hẳn giá sản phẩm nhập khẩu.
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trởng và hiệu quả sản xuất kinh
doanh của các DNNN sau một thời gian liên tục đạt 13% đến năm 1999đã giảm
xuống còn khoảng 8-9%. Hiệu quả sử dụng vốn giảm, năm 1995: 1 đồng vốn
tạo ra đợc 3,16 đồng doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận, đến năm 1998 chỉ tạo ra
đợc 2,9 đồng doanh thu và 0,14 đồng lợi nhuận. Nợ nần trong các doanh nghiệp
còn rất cao, năm 1996 tổng số nợ của các DNNN là 174.797 tỉ đồng, năm 1999
đã lên tới 199.060 tỷ đồng, trong đó nợ phải trả bằng 109% vốn nhà nớc trong
các doanh nghiệp và khả năng thanh toán nợ của các doanh nghiệp lại rất thấp.
Trong khu vực công nghiệp hoạt động của các DNNN cũng đem lại hiệu quả
thấp; Năm 1997 (không kể các ngành khai khoáng là than và dầu khí) tỷ trong
xuất khẩu trên tổng giá trị sản xuất công nghiệp của: DNNN là 17,2%, đầu t n-
ớc ngoài 46,2%, ngoài quốc donah 46,6%. 5 tháng đầu năm 2000, giá trị sản
xuất công nghiệp tăng khoảng 14,3% so với cùng kỳ năm 1999, trong đó khu
vực DNNN tăng 12,5% (Trung ơng quản lý tăng 11,8%, đại phơng quản lý tăng
13,9%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 18,8%, khu vực có vốn đầu t nớc ngoài
tăng 13,9%. Những số liệu trên đây cho thấy hiệu quả hoạt động của khu vực
quốc doanh thấp hơn nhiều so với khu vực liên doanh và ngoài quốc doanh.
Từ hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, mức đóng góp cho ngân
sách Nhà nớc của các DNNN cũng ít hơn các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế khác. Năm 1998, công nghiệp Nhà nớc chiếm 47,4% vốn, 28,5%
lao động và sản xuất ra 48% tổng giá trị sản xuất toàn nghành, nhng chỉ đóng
thuật và công nghệ mà những ứng dụng của chúng đem lại những biến đổi lớn
lao trong đời sống xã hội. Thế giới đang chuyển sang nền kinh tế trí thức. Việt
Nam cũng chuyển mình đón nhận những thành tựu do khoa học kĩ thuật đem
lại. Hệ thống các DNNN phải đi đầu cải tiến, đổi mới sản xuất, áp dụng công
nghệ kỹ thuật hiện đại, là tấm gơng tiêu biểu trong sự nghiệp phát triển kinh tế.
Thực tiễn những năm vừa qua cho thấy, việc áp dụng quá lâu cơ chế quản
lý quan liêu bao cấp đã gây ra sự khủng hoảng trong đời sống kinh tế xã hội.
Suốt mộ thời gian dài Nhà nớc là ngời đứng ra quyết định tất cả các vấn đề về
sản xuất cũng nh tiêu thụ trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp chỉ thụ động sản
xuất theo kế hoạch đề ra, chúng chỉ nh những phân xởng trong xí nghiệp kinh tế
quốc dân. Lối quản lý này làm sơ cứng nền kinh tế, mất đi động lực phát triển,
phí phạm tài nguyên và các vấn đề lợi ích khác không đợc giải quyết thoả đáng.
Đại hội Đảng VI đã đề ra đờng lối đổi mới kinh tế, chuyển đổi cơ chế quan liêu
bao cấp sang thực hiện cơ chế thị trờng. Cùng với nó là quá trình cải tổ sâu sắc
trong hệ thống DNNN đáp ứng đòi hỏi của cơ chế mới thời kỳ mới.
9
Cơ chế quản lý không phù hợp, cùng với những nguyên nhân khách quan
nh chiến tranh cấm vận để lại di chứng rất nặng nề cho nền kinh tế. Đó là tình
trạng yếu kém của hầu hết cácDNNN, sản xuất đình trệ. Hiện tại, các doanh
nghiệp có những khó khăn chủ yếu sau trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu, máy
móc nhà xởng cũ kỹ, năng kực đội ngũ cán bộ không đáp ứng đợc những yêu
cầu đặt ra, sử dụng vốn kém hiệu quả, làm ăn thua lỗ kéo dài, nợ nần chồng
chất gây gánh nặng cho nền kinh tế. Cải cách DNNN làm cho chúng phát triển
là một trong những yêu cầu cấp bách đặt ra trong hiện tại cũng nh tơng lai.
Việc sắp xếp, đổi mới DNNN phải theo hớng tập trung nắm giữ những
đầu mối chính, tạo sự năng động tự chủ của các doanh nghệp. Nhà nớc chỉ nắm
giữ những ngành, lĩnh vực chủ chốt làm tăng tính hiệu quả của hoạt động Nhà
nớc. Điều này không hề làm giảm sút sức mạnh của KTNN mà còn tạo cho
Nhà nớc một công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế. Từ đó mà định hớng
50% năm 1994 xuống còn 26% năm 1999 ; số doanh nghiệp có vốn trên 10 tỉ
đồng tăng tơng ứng, từ 10% lên 20% ; vốn bình quân của một doanh nghiệp
tăng từ 3,3 tỷ đồng lên 21 tỉ đồng. Trong quá trình sắp xếp lại các doanh
nghiệp, Nhà nớc đã giải quyết trợ cấp thôi việc một lần cho 72 vạn lao động.
Ba là, tổ chức, củng cố và phát triển các tổng công ty nhà nớc ( TCTNN )
nhằm tập trung nguồn lực của Nhà nớc vào các ngành then chốt mà Nhà nớc
cần chi phối Thời gian qua, đã sắp xếp lại 250 liên hiệp xí nghiệp và Tổng
công ty. Thủ tớng chính phủ quyết định thành lập 17 tổng công ty 91 và uỷ
quyền cho các bộ, uỷ ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc trung ơng
quản lý 77 tổng công ty 90. Các TCTNN có 1 534 doanh nghiệp thành viên
hạch toán độc lập, chiếm 27,5% tổng số doanh nghiệp cả nớc, 61% về lao động
( riêng 17 tổng công ty 91 có 491 doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập,
chiếm 8,8% số lợng DNNN, 35% lao động ). Nhìn chung, các TCTNN đã chi
phối đợc các ngành, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và đã trở thành công
cụ quan trọngđể Nhà nớc điều tiết quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Các TCTNN đã bảo toàn và
tích tụ đợc vốn ngày càng tăng, huy động nhiều nguồn lực đầu t, đổi mới công
nghệ,tăng nhanh năng suất lao động, hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh ( năm
1999, riêng 17 tổng công ty 91 đã bổ sung thêm nguồn vốn 15 850 tỷ đồng,
chiếm 22,5% tổng số vốn, doanh thu tăng 12%, lợi nhuận tăng 23%, nộp ngân
sách tăng 29% ).
Bốn là, cổ phần hoá một bộ phận DNNN mà Nhà nớc không cần nắm giữ
100% vốn để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy sản xuất kinh
doanh phát triển. Tính đến hết tháng 11/2001, cả nớc đã có 771 doanh nghiệp đ-
ợc cổ phần hoá và chuyển đổi sở hữu (trong đó có 698 doanh nghiệp đợc cổ
phần hoá, 41 doanh nghiệp đợc giao và 32 doanh nghiệp đợc bán), bằng 13% số
doanh nghiệp hiện có, với số vốn gần 3.000tỷ đồng, bằng hơn 2% tổng vốn nhà
nớc trong DNNN. Sau khi cổ phần hoá và chuyển đổi sở hữu, các doanh nghiệp
đã huy động đợc thêm hơn 2.000 tỷ đồng của các cá nhân pháp nhân, đồng thời
thông qua bán cổ phiếu, Nhà nớc đã thu thêm hơn 1150 tỷ đồng để đầu t và giải
Trong các nội dung trên, cổ phần hoá các DNNN và đổi mới cơ chế chính
sách là hai xu thế chủ đạo của tiến trình này ngời viết xin đề cập chi tiết trong
những phần sau.
*Về mặt thành tựu, có thể khái quát mặt đợc của DNNN sau quá trình
sắp xếp đổi mới nh sau :
- Hầu hết các DNNN đều có những chuyển biến tích cực: cơ cấu và quy
mô bớc đầu đợc điều chỉnh theo hớng phù hợp hơn; thích ứng đợc với cơ chế
thị trờng; trình độ công nghệ và quản lý có nhiều tiến bộ; vốn đợc bảo toàn và
tăng thêm; vốn tích luỹ, tự bổ sung từ chỗ không đáng kể đã tăng lên 27% tổng
vốn sản suất kinh doanh; hiệu quả hoạt động từng bớc tăng lên.
- DNNN đã góp phần rất quan trọng để KTNN thực hiện vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế nhiều thành phần; chi phối đợc các ngành và lĩnh vực then
chốt; thực sự là nòng cốt tăng trởng kinh tế, trong xuất khẩu và đóng góp cho
ngân sách Nhà nớc; bảo đảm cân đối lớn và góp phần quan trọng trong ổn định
kinh tế vĩ mô; là lợng chính trong việc bảo đảm các sản phẩm và dịch vụ công
ích chủ yếu của xã hội.
- Số DNNN giảm mạnh nhng tốc độ tăng trởng của khu vực DNNN vẫn
duy trì mức khá cao, bình quân tăng 11%/năm trong 10 năm (1991 1999).
Năm 2000 các DNNN đóng góp 39 % GDP.
II. Vấn đề đặt ra.
12
Nh vậy, qua các phần phân tích ở trên, chúng ta đã hiểu phần nào về thực
trạng của các DNNN, bên cạnh đó còn rất nhiều tồn tại và vớng mắc cần giải
quyết. Trong phạm vi bài viết chỉ xin đa ra những vấn đề cơ bản nhất:
Thứ nhất, về mặt nhận thức quan điểm, cha có sự thống nhất cao trong
nhận thức về vai trò, vị trí của KTNN và DNNN, về yêu cầu và giải pháp sắp
xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN; nhiều vấn đề cha rõ, còn
nhiều ý kiến khác nhau nhng cha đợc tổng kết thực tiễn để kết luận. Từ đó dẫn
những ngành những lĩnh vực then chốt, trọng yếu của nền kinh tế mà DNNN
nhất thiết phải chi phối.
Thứ năm, lao dộng thiếu việc làm và dôi d có xu hớng ngày càng tăng là
khó khăn lớn, ảnh hởng đến quá trình đổi mới và phát triển DNNN. Theo số liệu
13
của bộ Lao động Thơng binh - Xã hội, hiện nay, số lao độnh không có việc làm
thờng xuyên và mất việc làm ở các doanh nghiệp khoảng 20%, có doanh nghiệp
lên tới 40%. Đây là một thực trạng bức xúc mà ngời viết xin đề cậpcụ thể trong
những phần sau.
Thứ sáu, trình độ quản lý của DNNN phần lớn còn yếu kém cha đáp ứng
yêu cầu của cơ chế thị trờng; nhiều cán bộ quản lý cha đợc đào tạo, đào tạo lại,
cha đáp ứng đợc yêu cầu chuyên môn, còn lúng túng trớc cơ chế thị trờng.
Thứ bảy, cơ chế chính sách quản lý kinh tế, quản lý DNNN còn nhiều
tồn tại vớng mắc cần tháo gỡ.
- Chính sách tài chính, tín dụng tuy đã đợc sửa đổi, bổ sung, nhng vẫn
còn nhều điểm cha phù hợp với loại hình DNNN hoạt động công ích và hoạt
động kinh doanh trong cơ chế thị trờng. Nhà nớc cha đủ điều kiện và cha đòi
hỏi đúng mức để DNNN tự chủ tự tạo trách nhiệm, năng độnh trong sản xuất
kinh doanh, tích tụ vốn đầu t và đổi mới công nghệ; cha xây dựng và phát triển
đợc đồng bộ thị trờng vốn để tạo ra sự chu chuyển thông suốt vốn trong toàn xã
hội, đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Chính sách thuế tuy đã đợc sửa
đổi, bổ sung, nhng vẫn còn nhiều bất hợp lý, cha ổn định, cha chú trọng đầy đủ
đến việc nuôi dỡng nguồn thu và phát triển sản xuất kinh doanh , tạo điều kiện
cho tích luỹ vốn. Chế độ kế toán cha tạo điều kiện và buộc DNNN hạch toán
đúng kết quả kinh doanh; phân phối thu nhập cha tạo động lực mạnh mẽ cả đối
với ngời quản lý và ngời lao động. Chính sách tiền lơng và phân phối lợi nhuận
để lại doanh nghiệp cha gắnchặt với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhiều cơ
chế, chính sách tài chính không còn phù hợp với cơ chế thị trờng nhng cha đợc
sửa đổi chẳng hạn nh : Quỹ dự phòng rủi ro, Quỹ dự phòng thất nghiệp (lấy từ
lợi nhuận để lại cho doanh nghiệp), tiền thu sử dụng vốn
định chức năng và nhiệm vụ của tổng giám đốc và của hội đồng quản trị cha rõ
ràng; mối quan hệ của nhiều công ty với các đơn vị thành viên vẫn là hành
chính, cha dựa trên quan hệ tài chính, trách nhiệm và quyền lợi; quan hệ giữa
các đơn vị thành viên với nhau còn mang tính ghép nối cơ học. Một số tổng
công ty vin vào độc quyền để bắt nghẹt ngời tiêu dùng. Nhiều tổng công ty cha
làm tốt chức năng thị trờng, phó mặc cho các đơn vị thành viên.
+ Thứ hai, quá trình cổ phần hoá hiện nay còn nhiều vớng mắc. Trớc hết,
vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá, phong pháp xác định cha
thể hiện rõ xu thế phát triển của doanh nghiệp, còn bỏ sót yếu tố cấu thành quan
trọng là quyền sử dụng đất. Việc đánh giá còn mang tính cảm quan, thoả hiệp
giữa hội đồng doanh nghiệp và doanh nghiệp đợc định giá. Thủ tục còn rờm rà,
phức tạp. Khi tiến hành cổ phần hoá, vẫn cha tách bạch đợc ngời đại diện chủ sở
hữu và ngời quản lý trực tiếp phần vốn tại doanh nghiệp cổ phần hoá, nên xảy ra
tình trạng doanh nghiệp vừa là ngời mua vừa là ngời bán, vừa tham gia định giá,
vừa tổ chức bán cổ phần của Nhà nớc dẫn đến tình trạng chỉ bán nội bộ, hoặc
cố tình không bán ra ngoài để giảm giá hoặc trì hoãn thực hiện cổ phần hoá.
Cha có cơ chế xử lý những công nợ dây da và tài sản không cần dùng ở các
doanh nghiệp cổ phần hoá nên đã làm chậm tiến trình gây tổn thất cho Nhà nớc.
Một vấn đề nữa là chính sách đối với ngời lao động cha bình đẳng khi thực hiện
khống chế tỷ lệ giá trị u đãi trên vốn Nhà nớc nên gây thiệt thòi cho ngời lao
động có ít vốn nhà nớc . NGoài ra, việc giải quyết chính sách lao độnh mất việc,
thôi việc còn mang nặng tính bao cấp, dồn hết gánh nặng cho ngân sách nhà n-
ớc. CHủ trơng là tạo điều kiện cho ngời lao động làm chủ doanh nghiệp thông
qua mua cổ phiếu nhng đa số hội đồng quản trị không có thành viên nào là đại
diện của ngời lao động.
+ Thứ ba là vấn đề xử lý nợ và tài sản tồn đọng của DNNN. Theo kết quả
kiểm kê đến ngày 1/1/2000, tổng số nợ tồn đọng ở các DNNN lên tới 31.935 tỷ
đồng. Trong đó, nợ phải thu quá hạn là 21.218 tỷ đồng và nợ quá hạn là 10.717
15
tỷ đồng. Với tình trạng trên, nhiều doanh nghiệp nhà nớc đã rơi vào tình trạng
Nhà nớc những năm trớc; lao động vừa thiếu ( thiếu lao động lành nghề) vừa
thừa ( lao động không đáp ứng yêu cầu của công việc) song cha có cơ chế giải
quyết; cơ cấu DNNN không hợp lý, không có khả năng tự đổi mới công nghệ
cũng nh ngành nghề v.v. Gánh nặng lịch sử đó không phải chúng ta có thể khắc
phục trong ngày một ngày hai. Để thoát ra khỏi tình thế quẫn bách đó, chúng ta
cũng không thể dùng giải pháp phá đi làm lại bởi năng lực sản xuất của đất nớc
và đời sống của nhiều con ngời trong cậy vào đây. Chúng ta chỉ có thể gỡ rối
dần dần, vừa cải tổ vừa giữ ổn định kinh tế và xã hội. Chính vì thế hiệu quả của
hệ thống DNNN cha thể cải thiện nhanh.
16