===================
AN TOÀN KHI LÀM
VIỆC VỚI HÓA CHẤT
===================
LỜI NÓI ĐẦU
Hóa chất ngày càng được sản xuất và sử dụng nhiều hơn. Nếu như 50 năm trước
đây, hàng năm người ta chỉ sản xuất ra 1 triệu tấn hóa chất thì ngày nay con số đó là trên
400 triệu tấn. Cứ mỗi năm lại có hơn 1000 hóa chất mới được sản xuất ra và hiện có hơn
80.000 chất đang hiện hành trên thị trường. ở Việt Nam, lượng hóa chất sử dụng hàng năm
lên tới hơn 9 triệu tấn; trong đó, hơn 3 triệu tấn phân bón và 4 triệu tấn sản phẩm dầu lửa.
Hóa chất đã góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng cuộc sống của con người,
bảo vệ và nâng cao năng suất cây trồng, chữa bệnh, tạo ra vật liệu mới có nhiều tính chất
mà vật liệu tự nhiên không có. Nhưng hóa chất cũng chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm ẩn gây
cháy nổ, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nếu như không biết cách sử dụng; trong đó, có
nhiều tai nạn lao động lớn và nhiều loại bệnh nghề nghiệp hiểm nghèo như bệnh ung thư
gây ảnh hưởng đến sự phát triển thai nhi, gây biến đổi gen,... Hóa chất cũng có thể gây ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và phá hủy môi trường sinh thái.
Vì vậy, vấn đề đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khỏe của người lao động và bảo vệ môi
trường, tránh ảnh hưởng nguy hại trong việc sử dụng hóa chất ngày càng được sự quan
tâm rộng rãi trên thế giới cũng như ở nước ta.
Đã có nhiều văn bản về an toàn sức khỏe có liên quan đến an toàn hóa chất được
ban hành như Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế ILO số 170 về An toàn trong sử
dụng hóa chất tại nơi làm việc (năm 1990); Quy phạm An toàn trong sản xuất, sử dụng, bảo
quản và vận chuyển hóa chất nguy hiểm TCVN - 5507 (năm 1991) ...
Để giảm tới mức thấp nhất các ảnh hưởng độc hại của hóa chất, ngăn ngừa tai nạn
lao động và bệnh nghề nghiệp do việc tiếp xúc với hóa chất gây ra, việc huấn luyện cho
người sử dụng lao động và người lao động về an toàn trong sử dụng hóa chất tại nơi làm
việc là biện pháp cần thiết và bắt buộc được pháp luật quy định. Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội với sự giúp đỡ của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), biên soạn tài liệu này nhằm
quản, phế quản, cuống phổi) và vùng trao đổi khí (phế nang), nơi ôxy từ không khí vào máu
và đioxit cacbon từ máu khuyếch tán vào không khí (hình 1).
Đối với người lao động trong công nghiệp, hít thở là đường vào thông thường và
nguy hiểm nhất. Với diện tích bề mặt phổi 90m2 ở một người lớn khỏe mạnh; trong đó có 70
m2 là diện tích tiếp xúc của phế nang; ngoài ra còn có một mạng lưới mao mạch với diện
tích 140 m2, dòng máu qua phổi nhanh và nhiều tạo điều kiện dễ dàng cho sự hấp thu qua
phế nang vào mao mạch của các chất có trong không khí; và bình thường một người lao
động hít khoảng 8,5m3 không khí trong một ca làm việc 8 giờ. Vì vậy, hệ thống hô hấp thực
sự là đường vào thuận tiện cho hóa chất.
Trong khơi thở, không khí có lẫn hóa chất vào mũi hoặc mồm, qua họng, khí quản và
cuối cùng tới vùng trao đổi khí, tại đó hóa chất lắng đọng lại hoặc khuếch tán qua thành
mạch vào máu.
Một hóa chất khơi lọt vào đường hô hấp sẽ kích thích màng nhầy của đường hô hấp
trên và phế quản - đây là dấu hiệu cho biết sự hiện diện của hóa chất. Sau đó, chúng sẽ
xâm nhập sâu vào phổi gây tổn thương phổi hoặc lưu hành trong máu.
Mức độ thâm nhập của các hạt bụi vào cơ thểphụ thuộc vào kích thước hạt và tính
tan của chúng. Chỉ những hạt nhỏ (đường kính nhỏ hơn 1/7000 mm) mới tới được vùng trao
đổi khí. Những hạt bụi này sẽ lắng đọng ở đó hoặc khuếch tán vào máu tùy theo độ tan của
hóa chất. Những hạt bụi không hòa tan gần như được loại trừ bởi bộ phận làm sạch của
phổi. Những hạt bụi lớn hơn sẽ được lông mũi giữ lại hoặc lắng đọng dọc theo khí, phế
quản, cuối cùng chúng sẽ được chuyển tới họng và nuốt, ho, hay khạc ra ngoài.
Ghi nhớ
Phải đặc biệt chú ý các hóa chất ở dạng hơi, khói, bụi hoặc khí bởi chúng có thể vào
cơ thểdễ dàng qua đường hô hấp.
Câu hỏi thảo luận:
1- Lập danh sách các hóa chất ở nơi bạn đang làm việc có thể xâm nhập vào cơ thểqua
đường hô hấp.
2- mô tả các biện pháp đề phòng đối với các hóa chất này mà cơ sở của bạn đang áp dụng.
b) Hấp thụ hóa chất qua da
Một trong những đường xâm nhập của hóa chất vào cơ thểlà qua da. Độ dày của da
1- Lập danh sách những hóa chất ở nơi bạn làm việc có thể xâm nhập vào cơ thểqua hệ tiêu
hóa.
2- Liệt kê một vài biện pháp đn gin có thể làm để tránh nuốt phơi hóa chất ?
1.2- Loại hóa chất tiếp xúc
Đặc tính lý, hóa của hóa chất quyết định khả năng xâm nhập của nó vào cơ thểcon
người, chẳng hạn: các hóa chất dễ bay hơi sẽ có khả năng tạo ra trong không khí tại nơi làm
việc một nồng độ cao; các chất càng dễ hòa tan trong dịch thể, mỡ và nước thì càng độc...
Do các phản ứng lý hóa của chất độc với các hệ thống cơ quan tưng ứng mà có sự
phân bố đặc biệt cho từng chất:
+ Hóa chất có tính điện ly như chì, bary, tập trung trong xưng, bạc vàng ở trong da
hoặc lắng đọng trong gan, thận dưới dạng phức chất.
+ Các chất không điện ly loại dung môi hữu cơ tan trong mỡ tập trung trong các tổ
chức giầu mỡ như hệ thần kinh.
+ Các chất không điện ly và không hòa tan trong các chất béo khả năng thấm vào
các tổ chức của cơ thểkém hơn và phụ thuộc vào kích thước phân tử và nồng độ
chất độc.
Thông thường khơi hóa chất vào cơ thểtham gia các phản ứng sinh hóa hay là quá
trình biến đổi sinh học: ôxy hóa, khử ôxy, thủy phân, liên hợp. Quá trình này có thể xảy ra ở
nhiều bộ phận và mô, trong đó gan có vai trò đặc biệt quan trọng. Quá trình này thường
được hiểu là quá trình phá vỡ cấu trúc hóa học và giải độc, song có thể sẽ tạo ra sản phẩm
phụ hay các chất mới có hại hơn các chất ban đầu.
Tùy thuộc vào tính chất lý, hóa, sinh mà một số hóa chất nguy hiểm sẽ được đào thơi
ra ngoài:
+ Qua ruột : chủ yếu là các kim loại nặng.
+ Qua mật: Một số chất độc được chuyển hóa rồi liên hợp sunfo hoặc glucuronic rồi
đào thơi qua mật.
+ Qua hơi thở có thể đào thơi một số lớn chất độc dưới dạng khí hơi.
+ Chất độc có thể còn được đào thơi qua da, sữa mẹ.
Đường đào thơi chất độc rất có giá trị trong việc chẩn đoán và điều trị nhiễm độc
nghề nghiệp.
xúc với cùng một lượng trong cùng một thời gian một vài người bị ảnh hưởng trầm trọng,
một vài người bị ảnh hưởng nhẹ, có thể có một số người nhìn bên ngoài không thấy có biểu
hiện gì.
Phản ứng của từng cá thể phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính và tình trạng sức khỏe...
Thí dụ: trẻ em nhạy cm hơn người lớn; bào thai thường rất nhạy cm với hóa chất... Do đó
với mỗi nguy cơ tiềm ẩn, cần xác định các biện pháp cẩn trọng khác nhau với các đối tượng
cụ thể.
Câu hỏi thảo luận
1. Tại nơi bạn đang làm việc, có nhóm người lao động hoặc người lao động nào phơi tiếp
xúc với nhiều loại hóa chất trong cùng một thời gian không? Nếu có thể hãy liệt kê (dưới
dạng nghề, công việc).
2. Lập danh sách các hóa chất đã được sử dụng.
3. Nơi bạn làm việc có những nhóm người lao động nào đặc biệt mẫn cảm với hóa chất?
1.6- Các yếu tố làm tăng nguy cơ người lao động bị nhiễm độc
- Vi khí hậu:
+ nhiệt độ cao: làm tăng khả năng bay hơi của chất độc, tăng tuần hoàn, hô hấp do
đó làm tăng khả năng hấp thu chất độc.
+ Độ ẩm không khí tăng: làm tăng sự phân giải của một số hóa chất với nước, tăng
khả năng tích khí lại ở niêm mạc, làm giảm hơi độc bằng mồ hôi, do đó cũng làm
tăng nguy cơ bị nhiễm độc.
- Lao động thể lực quá sức làm tăng tuần hoàn, hô hấp và tăng mức độ nhiễm độc.
- Chế độ dinh dưỡng không đủ hoặc không cân đối làm giảm sức đề kháng của cơ thể...
2. Tác hại của hóa chất đối với cơ thểcon nguời
Như đã giải thích ở trên, những ảnh hưởng của hóa chất có thể là cấp tính hoặc mãn
tính tùy thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc. Hóa chất cũng gây ra những phản ứng khác
nhau do kiểu và dạng tiếp xúc khác nhau. Theo tính chất tác động của hóa chất trên cơ
thểcon người có thể phân loại theo các nhóm sau đây(3):
- Kích thích gây khó chịu.
- Gây dị ứng.
- Gây ngạt.
có thể xuất hiện ngay lập tức hoặc sau vài giờ. Triệu chứng bắt đầu với việc rất khó chịu
trong phổi, tiếp theo là ho, khó thở, xanh tím và khạc nhiều đờm. Các hóa chất này thường
là: Đioxít nit, ozon, photgen...
Hình 7: Khi phun xì cần chú ý tránh hít phải hơi độc
Câu hỏi thảo luận
1. mô tả cách nhận biết một hóa chất gây kích thích ở nơi bạn làm việc?
2. Cách dán nhãn chính xác một hóa chất gây kích thích?
2.2- Dị ứng
Dị ứng có thể xảy ra khơi cơ thể tiếp xúc trực tiếp với hóa chất. Người lao động khơi
mới tiếp xúc có thể không bị dị ứng, nhưng nếu tiếp xúc thường xuyên, ngay cả với lượng
nhỏ thì có thể thường sẽ phản ứng và da hoặc đường hô hấp sẽ bị dị ứng.
a) Dị ứng da
Da bị dị ứng có tình trạng giống như viêm da (mụn nhỏ hoặc là phỏng nước). hiện
tượng này có thể không xuất hiện ở nơi tiếp xúc mà ở một nơi nào đó trên cơ thể. Những
chất gây dị ứng thường gặp là nhựa epoxy, thuốc nhuộm azo, dẫn xuất nhựa than đá, axít
cromic...
b) Dị ứng đường hô hấp
Đường hô hấp nhạy cm là căn nguyên của bệnh hen nghề nghiệp. Những triệu
chứng của căn bệnh này là ho nhiều về đêm, khó thở, thở khò khè và ngắn. Các hóa chất
gây tác hại này là: Toluen đisoxianat, fomaldehơit...
Ghi nhớ
Tiếp xúc nhiều với hóa chất có thể dẫn đến dị ứng.
2.3. Gây ngạt
Sự ngạt thở là biểu hiện của việc đưa không đủ ôxy vào các tổ chức của cơ thể. Có
hai dạng: ngạt thở đn thuần và ngạt thở hóa học.
a) Ngạt thở đơn thuần
Chất gây ngạt đơn thuần thường ở dạng khí như: CO2, CH4 (mê tan), N2, C2H6 (ê
tan), H2 ...; khơi lượng các khí này tăng sẽ làm giảm tỷ lệ ôxy trong không khí và gây ngạt
thở; nếu không được cấp cứu kịp thời có thể sẽ dẫn đến tử vong. Bình thường không khí
chứa khoảng 21% ôxy, nếu nồng độ ôxy hạ xuống dưới 17% thì không đủ để đáp ứng nhu
Hình 9: Gan có thể bị tổn thương bởi hóa chất
Thận là một phần của hệ tiết niệu, chức năng của hệ tiết niệu là bài tiết (đào thơi) các
chất cặn do cơ thể sinh ra, duy trì sự cân bằng của nước và muối, kiểm soát và duy trì nồng
độ axít trong máu (hình 10). Các hóa chất cản trở thận đào thơi chất độc gồm etylen glycol,
cacbon đisunphua, cacbon tetraclorua, cacbon đisulphua. Các hợp chất khác như cađmi,
chì, nhựa thông, etanol, toluen, xylen... sẽ làm hỏng dần chức năng của thận.
Hệ thần kinh (hình 11) có thể bị tổn thương do tác động của các hóa chất nguy hiểm,
ví dụ như:
- Tiếp xúc lâu dài với các dung môi sẽ dẫn tới các triệu chứng mệt mỏi, khó ngủ, đau
đầu và buồn nôn; nặng hơn sẽ là rối loạn vận động, liệt và suy tri giác.
- Tiếp xúc với hecxan, mangan và chì sẽ làm tổn thương hệ thần kinh ngoại vi, để lại
hậu quả liệt rủ cổ tay.
- Tiếp xúc với các hợp chất có photphat hữu cơ như parathơion có thể gây suy giảm
hệ thần kinh; còn với cacbon đisunphua có thể dẫn đến rối loạn tâm thần...
Một số hóa chất nguy hiểm có thể tác động tới hệ sinh dục, làm mất khả năng sinh
đẻ ở đàn ông và sẩy thai ở phụ nữ đang mang thai. Các chất như: etylen đibromua,
khí gây mê, cacbon đisunphua, clopren, benzen, chì, các dung môi hữu cơ... có thể
làm giảm khả năng sinh sn ở nam giới. Tiếp xúc với thuốc gây mê thể khí,
glutaranđehơit, clopren, chì, các dung môi hữu cơ, cacbon đisunphua và vinyl clorua
có thể sẩy thai.
Hình 10: Một vài loại hóa chất có thể gây cản trở các chức năng của thận
Hình 11: Hệ thần kinh bao gồm não, cột sống và dây thần kinh có thể bị ảnh hưởng bởi hóa
chất
2.6- Ung thư
Khơi tiếp xúc lâu dài với một số hóa chất có thể tạo sự phát triển tự do của tế bào,
dẫn đến khối u - ung thư. Những khối u này có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc với hóa
chất. Giai đoạn này có phạm vi từ 4 - 40 năm. Vị trí ung thư nghề nghiệp trong cơ thể cũng
rất khác nhau và thường không chỉ giới hạn ở vùng tiếp xúc. Các chất như asen, amiăng,
crom, niken, bis-clometyl ete (BCME)... có thể gây ung thư phổi. Bụi gỗ và bụi da, niken
crom, dầu isopropyl có thể gây ung thư mũi và xoang. Ung thư bàng quang do tiếp xúc với
II. Những nguy cơ cháy nổ
Đa số hóa chất đều tiềm ẩn các nguy cơ gây cháy nổ. Việc sắp xếp, bảo quản, vận
chuyển, sử dụng hóa chất không đúng cách đều có thể dẫn đến tai nạn từ một đám cháy
nhỏ tới thm họa thiệt hại lớn về người và tài sản.
1. Cháy
Con người muốn tồn tại phơi có ít nhất 3 yếu tố c bn là thức ăn, ôxy và nhiệt. Các
yếu tố này cũng phơi ở trong một tỷ lệ tưng ứng. Quá nhiều hay quá ít thức ăn, ôxy, nhiệt
đều có thể dẫn đến khó chịu, ốm đau và chết. Cũng như vậy, để có sự cháy cần 3 yếu tố:
nhiên liệu (chất cháy), ôxy và một nguồn nhiệt. Những yếu tố này phơi ở trong một tỷ lệ,
hoàn cnh thích hợp trước khơi bắt lửa và gây cháy. nhiên liệu bắt đầu cháy ở một nhiệt độ
xác định là điểm chớp cháy. Phơi đủ nhiệt để đưa nhiên liệu tới điểm chớp cháy song cũng
cần phơi có đủ ôxy để xảy ra và duy trì sự cháy. Bình thường để bắt lửa và bốc cháy môi
trường không khí cần có nồng độ ôxy từ 15 - 21%.
Câu hỏi thảo luận
1. Đã xảy ra đám cháy hoặc một tình trạng nguy hiểm tương tự do cháy hóa chất ở
nơi bạn làm việc chưa?
2. Nguyên nhân từ đâu và để lại hậu quảả gì?
1.1- Nhiên liệu
Để kiểm soát các nguy cơ cháy nổ do hóa chất, việc đầu tiên là xác định rõ hóa chất
đang sử dụng và những đặc tính riêng của nó. Hầu hết hóa chất đều là nguồn nhiên liệu -
một trong 3 yếu tố gây cháy nổ (hình 12).
Hình 12: nhiên liệu là yếu tố số một của bộ ba gây cháy nổ
a) nhiên liệu lỏng
* Điểm chớp cháy của chất lỏng
Điểm chớp cháy (nhiệt độ bùng cháy) của chất lỏng là nhiệt độ thấp nhất mà tại nhiệt
độ đó chất lỏng hóa hơi tạo thành hỗn hợp cháy với không khí và bốc cháy khơi có nguồn
lửa.
Bảng 1: nhiệt độ bùng cháy của một số chất lỏng thông thường
Hóa chất Nhiệt độ bùng cháy oC
Xăng A72 - 36
cháy nổ khơi có nồng độ ôxy thích hợp và khơi nguồn lửa xuất hiện.
Phơi đặc biệt thận trọng đối với các khí nén lưu giữ trong các bình chịu áp lực, cháy nổ có
thể xảy ra khơi bình chứa có các khuyết tật và thường dẫn đến các tai nạn nghơiêm trọng.
Câu hỏi thảo luận
1. Sử dụng tài liệu An toàn hóa chất, tìm nhiệt độ bùng cháy, tỷ trọng hơi cho 4 hóa
chất lỏng được sử dụng phổ biến ở nơi bạn làm việc mà bạn đặc biệt quan tâm?
2. Lập danh sách và thảo luận những đặc tính nguy hiểm của các hóa chất thể khí
được sử dụng ở nơi bạn làm việc.
1.2- nhiệt
Nhiệt - yếu tố thứ 2 của bộ ba gây cháy nổ (hình 13). nhiệt là yếu tố để đưa nhiên liệu tới
điểm chớp cháy (nếu điểm chớp cháy ở trên nhiệt độ xung quanh) và kích thích hỗn hợp
cháy bùng cháy. Nguồn nhiệt có thể là các dòng điện, tĩnh điện, phản ứng hóa học, quy trình
nhiệt, sự ma sát, ngọn lửa trần, nhiệt bức xạ và tia lửa điện...
Vấn đề then chốt để phòng cháy nổ các hóa chất nguy hiểm là kiểm tra các nguồn nhiệt. Nội
dung kiểm tra sẽ được thảo luận ở Chương 2.
Hình 13: nhiệt là yếu tố thứ 2 của bộ ba gây cháy nổ
a) Dòng điện
Nhiệt sinh từ dòng điện theo 3 cách:
+ Khơi dòng điện đi qua một sợi dây có tiết diện không đủ lớn để ti điện hoặc các mối
nối, các điểm tiếp xúc không chặt,kết quả hoặc là tóe lửa, đon mạch hoặc dây điện
nóng lên. nhiệt độ của dây điện có thể đạt tới điểm đủ để kích thích hơi cháy có trong
không khí hoặc gây cháy các vật liệu dễ bắt lửa hay nâng nhiệt độ của các hóa chất
ở gần đó tới điểm chớp cháy và cháy.
+ Hồ quang điện thường được tạo ra khơi chập trong công tắc hoặc trong hộp nối do
dây điện bị đứt hoặc mất vỏ bọc giữa dây dưng và dây âm. hậu quả là phát sinh
nhiệt, kích thích hơi dễ cháy gây cháy. Thép nóng chy bởi hồ quang điện có thể cũng
kích thích các vật liệu dễ cháy, và làm nóng các hóa chất dễ cháy.
+ Tia lửa điện là một trong các nguồn nhiệt thường gặp nhất trong công nghiệp, nhiệt
độ của tia lửa thường cao hơn rất nhiều so với nhiệt độ bùng cháy của nhiên liệu.
b) Tĩnh điện
ở gần đó tới điểm cháy và đốt cháy hơi cháy. Những tia nắng trực tiếp hoặc tự nó hoặc
được phóng đại bởi nhựa hoặc thủy tinh có thể cũng có ảnh hưởng này.
Ghi nhớ
Nhiệt sinh ra có thể làm cho hóa chất ở nơi đó đạt tới nhiệt độ dễ cháy. nhiệt cũng có
thể làm bốc cháy hơi dễ cháy, gây cháy nổ.
f) Ngọn lửa trần
Ngọn lửa không được che chắn, bảo vệ sinh ra bởi thuốc lá, diêm, lửa hàn và động
cơ đốt trong là nguồn nhiệt rất quan trọng. Khơi kết hợp đủ nhiên liệu và ôxy, chúng có thể
gây ra cháy nổ (hình 16).
Hình 16: Ngọn lửa phát ra từ đèn cắt hàn có thể gây cháy hơi, khí nhiên liệu
Câu hỏi thảo luận
Lập danh sách ít nhất 3 nguồn nhiệt, có thể kích thích chất lỏng dễ cháy tại nơi bạn
làm việc.
1.3- Ôxy
Ôxy là yếu tố thứ 3 của bộ ba gây cháy nổ (hình 17). Hầu hết nhiên liệu cần ít nhất
15% ôxy để cháy, vượt quá 21% ôxy có thể tự cháy và dẫn tới nổ. Nguồn ôxy, ngoài lượng
có trong môi trường không khí còn gồm c bình chứa ôxy dùng trong các hoạt động cắt hàn,
ôxy được cung cấp bởi một ống dẫn dùng cho quá trình hoạt động và ô xy tạo ra trong các
phản ứng hóa học. ôxy có thể thoát ra khơi một hóa chất (thường là chất ôxy hóa) bị đốt
nóng.
Bảng 2: Một vài hóa chất có thể thoát ra ôxy khơi bị đốt nóng
Hợp chất chứa gốc Ví dụ
- (NO3)- NaNO3, NH4NO3
- (NO2)- NH4NO2
- (-O-O-) với các chất vô cơ H2O2
- (MnO4)- KMnO4
Hình 17: Ôxy là yếu tố thứ 3 của bộ ba gây cháy nổ
Câu hỏi thảo luận
1. Có nguồn ôxy thông thường nào ở nơi bạn làm việc mà có thể làm bốc cháy một
chất dễ cháy ở gần đó?
Giới hạn nổ (% thể
tích)
Dưới Trên
Amylaxetat CLDC 1,08
Metylenclorua CCL 13 18
Dầu hỏa KO-
20
CLDC 0,55 5
CLDC: Chất lỏng dễ cháy. CLC: Chất lỏng cháy.
CCK: Cháy chất khí.
Bảng 5: Giới hạn nổ của một số loại bụi
Loại bụi
Nồng độ g/m3
Tối thiểu Tối đa
Lưu huỳnh 7 13,7
Bột amidon 7 13,7
Than đá 17,2 34,4
Bảng 6: Chỉ số cháy nổ của một số chất khí nguy hiểm
Loại khí
Tính chất nổ
(ký hiệu)
Nhiệt độ
bùng cháy
Giới hạn nổ (% thể
tích)
Dưới Trên
Axetylen CNN 2,5 11
Etylen CNN 24 3,11 28,5
Isobutan CCK 1,81 77
Một vài loại khí được đánh giá là nguy hiểm nổ (viết tắt CNN) tức là có khả năng nổ
các hóa chất nguy hiểm, hoặc tăng thêm các thiết bị thông gió và dùng phương tiện bảo vệ
cá nhân. Đầu tiên, cần xác định được các hóa chất nguy hiểm và đánh giá đúng mức độ độc
hại, nguy hiểm của chúng, kiểm soát chặt chẽ việc thống kê, các quá trình vận chuyển,
chuyển rót và cất giữ hóa chất, các hóa chất thực tế đang sử dụng và các chất thải của
chúng. Với mỗi loại hóa chất nguy hiểm, ta đều phi quan tâm đến các nguyên tắc trên với
những nội dung cụ thể như sau:
1.1- Nguyên tắc thay thế
Cách tốt nhất để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tác hại của hóa chất đến con người và
môi trường là tránh sử dụng các hóa chất nếu có sẵn nhiều chất thay thế ít độc hại, ít nguy
hiểm hơn. Việc lựa chọn các hóa chất phải được tiến hành ngay từ giai đoạn thiết kế hoặc
lập kế hoạch sản xuất, thường tiến hành qua các bước sau:
Bước 1: Đánh giá hóa chất sử dụng
Tiến hành thu thập thông tin, đánh giá về các hóa chất đang sử dụng hoặc dự định
sử dụng, cụ thể là:
- Cách thức sử dụng hoặc dự định sử dụng hóa chất đó như thế nào?
- Hóa chất hoặc sản phẩm có chứa hóa chất đó có thể gây những rủi ro gì cho con
người và môi trường?
- Nó có thể ảnh hưởng tới con người và môi trường ở đâu, bằng cách nào: ở nơi làm
việc; thông qua sự phát thi vào không khí hoặc nước; thông qua sản phẩm chứa hóa
chất; hay thông qua chất thi từ quá trình vận chuyển, chôn hoặc tiêu hủy, tái chế sản
phẩm?
- Nên làm gì để giảm thiểu các rủi ro?
Bước 2: Xác định các giải pháp thay thế
- Có thể thay đổi quy trình hoặc phương pháp sản xuất nhằm thay thế hóa chất đó
bằng một loại khác ít độc hại nguy hiểm hơn, hay giảm hóa chất đó và các sản phẩm
chứa nó không? Nếu có, gồm những giải pháp nào?
- Các giải pháp thay thế có thực tế không? Việc áp dụng các giải pháp thay thế sẽ
làm tăng hay giảm chi phí? Sự tăng, giảm đó có kéo dài không, hay chỉ trong một
thời gian ngắn?
Bước 3: Đánh giá những rủi ro mới khi áp dụng các giải pháp thay thế
công.
Ghi nhớ
Cố gắng loại bỏ các hóa chất nguy hiểm hoặc thay thế bằng một hóa chất khác ít
nguy hiểm hơn.
Câu hỏi thảo luận
1. Những hóa chất nào đang được sử dụng ở c sở của bạn có thể thay thế được
bằng những hóa chất khác ít nguy hiểm hơn.
2. Những tổ chức và những c quan nào có thể giúp bạn thu thập thông tin về khả
năng thay thế những hóa chất nguy hiểm.
1.2 - Bao che hoặc cách ly nguồn phát sinh hóa chất nguy hiểm
Một quá trình sản xuất lý tưởng là ở đó người lao động được hạn chế tới mức thấp
nhất mọi cơ hội tiếp xúc với hóa chất; có thể bằng cách bao che toàn bộ máy móc, những
điểm phát sinh bụi của băng chuyền hoặc bao che quá trình sản xuất các chất ăn mòn... để
hạn chế sự lan tỏa hơi, khí độc hại, nguy hiểm tới môi trường làm việc. Cũng có thể giảm sự
tiếp xúc với các hóa chất độc hại bằng việc di chuyển các qui trình và công đoạn sản xuất
các hóa chất này tới vị trí an toàn, cách xa người lao động trong nhà máy hoặc xây tường để
cách ly chúng ra khỏi quá trình sản xuất có điều kiện làm việc bình thường khác (hình 21),
chẳng hạn như cách ly quá trình phun sản với các quá trình sản xuất khác trong nhà máy
bằng các bức tường hoặc rào chắn...
Bên cạnh đó, cần phi cách ly hóa chất dễ cháy nổ với các nguồn nhiệt, chẳng hạn
như đặt thuốc nổ ở xa các máy mài, máy cưa...
Hình 20: Sử dụng hệ thống điều khiển từ xa có thể ngăn chặn được các mối nguy hiểm từ
hóa chất đối với người lao động
Hiệu qủa tương tự có thể nhận được khi sử dụng những kho hóa chất an toàn và
hạn chế số lượng những hóa chất nguy hiểm cần sử dụng tại nơi làm việc trong từng ngày,
từng ca. Điều này thực sự rất có ích nếu quá trình sản xuất thực hiện bởi một số lượng rất ít
người lao động và trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân.
1.3- Thông gió
Trong trường hợp hóa chất dễ bay hi, việc thông gió được xem như là một hình thức
kiểm soát tốt nhất sau việc thay thế hoặc bao che. Nhờ các thiết bị thông gió thích hợp,
Câu hỏi thảo luận
1. Hệ thống thông gió nào loại trừ tích cực và triệt để nhất bụi, hơi, khí độc?
2. Loại thiết bị, hệ thống thông gió nào đã được sử dụng tại nơi làm việc của bạn?
chúng hoạt động có hiệu qủa không?
1.4- phương tiện bảo vệ cá nhân
Phần lớn các nguy cơ từ sử dụng hóa chất có thể kiểm soát được bằng các biện
pháp kỹ thuật kể trên. Nhưng khi các biện pháp đó chưa loại trừ hết được các mối nguy, hay
nói cách khác khi nồng độ hóa chất trong môi trường chưa đạt tiêu chuẩn cho phép thì
người lao động phải được trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân. phương tiện này chỉ làm
sạch không khí bị nhiễm hóa chất trước khi vào cơ thể chứ nó không làm giảm hoặc khử
chất độc có trong môi trường xung quanh. Do đó khi sử dụng các phương tiện bảo vệ đã hư
hỏng hoặc không đúng chủng loại có nghĩa là ta đã tiếp xúc trực tiếp với hóa chất nguy
hiểm. Vì vậy, không được coi phương tiện bảo vệ cá nhân là biện pháp đầu tiên để kiểm
soát rủi ro mà chỉ được coi là biện pháp hỗ trợ thêm cho các biện pháp kiểm soát kỹ thuật.
Với các nguy cơ cháy, nổ thì thực sự chưa có trang thiết bị nào đm bảo an toàn cho người
lao động.
a) Mặt nạ phòng độc
Mặt nạ phòng độc để che mũi và mồm người lao động, ngăn chặn sự thâm nhập của
hóa chất vào cơ thể qua đường hô hấp. Dùng mặt nạ phòng độc khi phi tiếp xúc với hóa
chất trong các tình huống sau:
- nơi phi tiến hành kiểm soát tạm thời trước khi tiến hành các biện pháp kiểm soát kỹ
thuật.
- nơi không thực hiện được những kiểm tra về kỹ thuật.
- Để bổ sung vào những biện pháp kiểm soát kỹ thuật.
- Trong trường hợp khẩn cấp.
* Việc lựa chọn loại mặt nạ phòng độc sẽ tùy thuộc theo các yếu tố:
- Đặc tính của một hoặc của nhiều chất độc hại phi tiếp xúc;
- Nồng độ tối đa của các hóa chất tại nơi làm việc;
- Thuận tiện và hợp với khuôn mặt của người sử dụng để ngăn chặn chất độc lọt qua
kẽ hở;
Tổn thương về mắt có thể do bị bụi, các hạt kim loại, đá màu, thủy tinh, than ..., các
chất lỏng độc bắn vào mắt; bị hơi, khí độc xông lên mắt; và cũng có thể do bị các tia bức xạ
nhiệt, tia hồng ngoại, tia tử ngoại... chiếu vào mắt.
Để ngăn ngừa các tai nạn và bệnh về mắt có thể sử dụng các loại kính an toàn, các
loại mặt nạ cầm tay và mặt nạ hoặc mũ mặt nạ liền với đầu... tùy từng trường hợp cụ thể,
chẳng hạn dùng tấm chắn bảo vệ bao phủ c trán và mặt tới điểm dưới quai hàm nhằm chống
lại việc bắn toé bất ngờ các chất lỏng nguy hiểm; kính trắng kháng được hóa chất khi xử lý
các hóa chất dạng hạt nhỏ, bụi....
Hình 27: Kính bảo vệ mắt
Hình 28: Trang bị che chắn mắt, mặt