AN TOÀN LAO ĐỘNG KHI ĐÀO HỐ SÂU
1.1. Những nguyên nhân chủ yếu gây tai nạn khi đào hố, hào sâu:
1.1.1 Vách đất bị sụt lở đè lên người:
- Hố, hào đào với vách đứng cao quá giới hạn cho phép đối với từng loại đất.
- Hố, hào đào với vách nghiêng (mái dốc, taluy) mà góc nghiêng quá lớn, vách đất
mất cân bằng ổn định do lực chống trượt (lực ma sát và lực dính của đất) nhỏ hơn
lực trượt dẫn tới bị sạt, trượt lở xuống.
- Cũng có nhiều trường hợp trong quá trình đào hố, hào vách đất vẫn còn ổn định,
nhưng qua thời gian đất bị ẩm ướt do mưa hay nước ngầm làm cho lực dính hay lực
ma sát trong đất bị giảm, nên lực chống trượt không thắng nổi lực trượt, vách đất sẽ
bị sụt lở.
- Vách đất còn có thể bị sụt lở do tác động của ngoại lực như: đất đào lên hoặc vật
liệu đổ chất đống gần mép hố đào; hố, hào ở gần đường giao thông do lực chấn
động của các phương tiện vẩn chuyển cũng có thể làm cho vách đất bị sụt lở bất
ngờ.
- Khi tháp dỡ kết cấu chống vách không đúng quy định (ở các hố hào có chống vách)
làm mất tác dụng chống đỡ hoặc không cẩn thận gây chấn động mạnh làm cho đất bị
sụt lở.
1.1.2. Người bị sa, ngã xuống hồ, hào do:
- Lên, xuống hố, hào sâu không có thang hoặc không tạo bậc ở vách hố, hào; leo
trèo theo kết cấu chống vách; nhảy xuống và đu người lên miệng hố hào.
- Bị ngã khi đứng làm việc trên mái dốc lớn hoặc mái dốc trơn trượt mà không đeo
dây an toàn.
- Hố, hào ở trên hoặc gần đường qua lại không có cầu; ván bắc qua, hoặc xung
quanh không có rào ngăn, ban đêm không có đèn báo hiệu.
1.1.3 Đất đá lăn rơi từ trên bờ xuống dưới do:
- Đất đào lên đổ sát mép hố, hào.
- Phương tiện vận chuyển qua lại gần làm văng, hất đát đá xuống hố.
1.1.4. Người bị ngạt hơi độc:
Người bị ngạt hơi độc thường gặp khi đào các giếng sâu, đường hầm, hố
ngay công việc, công nhân phải lên khỏi hố, hào và có biện pháp kịp thời chống đỡ chỗ đó
hoặc phá cho đất chỗ đó sụt lở luôn để tránh nguy hiểm sau này.
Khi đào hố, hào sâu với vách đứng tuyệt đối không được đào kiểu hàm ếch.
b) Đào hố, hào sâu vách đứng có chống vách:
Đào hố, hào sâu ở những nơi đất bị xáo trộn (đất đắp, đất đã được làm tơi trước
bằng nổ mìn), mức nước ngầm cao và vách đào thẳng đứng thì phải chống vách. Để chống
vách hố, hào phải dùng ván dày 4-5cm, đặt chúng nằm ngang áp sát vào vách đất theo mức
đào sâu dần, phía ngoài có cọc đứng giữ với các văng chống ngang
Trong đất độ ẩm tự nhiên, trừ đất tơi, có thể gia cố bằng các tấm ván nằm ngang đặt
cách nhau một khoảng bằng chiều rộng tấm ván.
Trong đất độ ẩm cao và đất tơi, gia cố bằng các tấm ván để nằm ngang, hoặc đặt sát
nhau.
Cọc đứng đóng cách nhau 1,5m dọc theo vách hố, hào. Văng chống ngang đặt cách
nhau không quá 1m theo phương đứng. Văng phải được đóng cố định chắc vào cọc cứng.
Trong các hố, hào có chiều rộng lớn, văng chống ngang giữa hai vách hố, hào sẽ dài, chịu
lực yếu, có thể thay văng chống ngang bằng chống xiên
Trường hợp văng chống ngang hay chống xiên trong lòng hố, hào gây cản trở cho
việc đào đất hoặc thi công các công việc tiếp theo như xây móng, đặt đường ống, v.v. thì
thay các văng chống bằng cách neo các đầu cọc giữ bằng dây hay giằng cứng neo vào cọc
đứng trên bờ
Vật liệu, chiều dài, tiết diện của các bộ phận chống vách phải sử dụng đúng theo
thiết kế. Khoảng cách giữa các tấm ván lát, cọc giữ, văng chống phải đặt đúng theo bản vẽ,
trình tự lắp đặt phải theo đúng chỉ dẫn.
Đối với các hố, hào có độ sâu lớn, việc chống vách phải thực hiện thành nhiều đợt từ
trên xuống, mỗi đợt cao từ 1 – 1,2m. Nếu làm tuỳ tiện, không tuân theo những điều nói trên
có thể xảy ra gãy, đổ các bộ phận chống vách dẫn tới đất bị sạt lỡ gây tai nạn.
Trong quá trình đào đất thủ công hay bằng máy hoặc tiến hành các công việc khác
không được va chạm mạnh có thể làm xê dịch vị trí hoặc hư hỏng các bộ phận chống vách.
Trong quá trình thi công phải luôn luôn theo dõi, quan sát kết cấu vách. Nếu có điều
gì nghi ngờ (vách lát bị phình, văng cọc đứng bị uốn cong nhiều, v.v.) có thể dẫn tới dãy sập
giữa
chiều cao
của mái
dốc và
hình
Góc giữa
mái dốc
và đường
nằm
ngang,
độ
Tỷ số giữa
chiều cao
của mái
dốc và
hình chiếu
trên mặt
chiếu
trên mặt
phẳng
ngang
chiếu trên
mặt
phẳng
ngang
phẳng
ngang
Sỏi đá dăm 40 1 : 1,20 40 1 : 1,20 35 1 : 1,45
Cát hạt to 30 1 : 1,75 32 1 : 1,60 25 1 : 2,15
Cát hạt trung bình 28 1 : 1,90 35 1 : 1,45 25 1 : 2,15
trong phạm vi tầm quay của tay cầm máy đào.
Không được bố trí người làm việc trên miệng hố, hào trong khi đang có người làm
việc ở dưới.
1.2.4. Phòng ngừa người bị ngạt thở khí độc:
Khi đào hố, hào sâu nếu phát hiện thấy hơi khí khó ngửi, hoặc có hiện tượng người
chóng mặt, khó thở, nhức đầu,… thì phải ngừng ngay công việc mọi người phải ra xa chỗ đó
hoặc phải lên bờ ngay để đề phòng nhiễm độc, chỉ khi nào đã xử lý xong, bảo đảm không
còn hơi, khí độc hoặc nồng độ không còn nguy hiểm gì đến sức khoẻ thì mới tiếp tục thi
công. Nếu phải làm việc trong điều kiện có hơi khi độc thì công nhân phải sử dụng mặt nạ
chống hơi khí độc, bình thở, v.v.
Trước khi xuống làm việc ở hố, hào sâu phải kiểm tra không khí xem có hơi khí độc
không bằng dụng cụ (đồng hồ) xác định khí độc hoặc có thể thả chuột nhắt hoặc gà con
xuống hố, hào để kểim tra. Nếu những con vật này vẫn bình thường, không có hiện tượng gì
khả nghi chứng tỏ không khí dưới hố, hào không có hơi khí độc.
Khi phát hiện có hơi khí độc thì phải có biện pháp làm thoát chúng bằng quạt gió,
máy nén khí. Tìm nguyên nhân và biện pháp xử lý nguồn phát sinh.