Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 3 - Pdf 87


42
CHƯƠNG III.
QUÁ TRÌNH SINH ĐẺ Ở GIA SÚC
Mục đích: Trình bày những biến đổi khi mang thai của gia súc mẹ (cùng với
bào thai) và các phương pháp chẩn đoán gia súc có thai, từ đó có biện pháp
chăm sóc, quản lý hợp lý.
Thời lượng giảng dạy: 4 tiết

I. NHỮNG YẾU TỐ THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH SINH ĐẺ
Khái niệm: Gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định (tuỳ theo từng giống
loài), khi bào thai đã phát triển đầy đủ, gia súc mẹ đẩy thai ra ngoài cùng với màng
nhau, dịch thai. Quá trình đó gọi là đẻ.
1. Học thuyết áp lực
Khi thai của tử cung mẹ phát triển đầy đủ ở thời kỳ cuối, bào thai áp sát vào tử cung
và cổ tử cung làm cho áp lực của đường sinh dục cái thay đổi. Đồng thời bào thai là
một dị vật với sự máy động của thai nhi gây kích thích mạnh làm cho đường sinh dục
của con mẹ tăng cường quá trình hưng phấn. Khi áp lực và kích thích cơ giới của
bào thai đạt đến một mức độ nhất định gây cho gia súc xuất hiện co bóp ở tử cung
làm cho cổ tử cung mở ra xuất hiện quá trình sinh đẻ.
2. Học thuyết kích tố
2.1. Kích tố từ con mẹ
Vào thời kỳ trước khi đẻ có sự thay đổi về hàm lượng 2 kích tố trong máu và nước
tiểu, đó là sự tăng lên rất cao của Oestrogen và ngược lại hàm lượng Progesteron
lại giảm thấp. Sự thay đổi này làm cho tăng sự hưng phấn của cơ mạc và làm cho
cơ mạc trở nên nhạy cảm với kích thích bên ngoài, đặc biệt là sự có mặt của
Oestrogen làm tăng co bóp của tử cung.
Một loại hormone khác là Oxytoxin do thuỳ sau tuyến yên tiết ra vào thời kỳ cuối có

thai ở mỗi sừng không bằng nhau.
2. Chiều của thai
Chỉ mối quan hệ của xương sống mẹ và xương sống của thai
2.1. Thai dọc: Xương sống thai song song với xương sống con mẹ (đây là trường
hợp đẻ dễ)
+ Thai dọc đầu: khi đẻ đầu ra trước (đẻ xuôi)
+ Thai dọc đuôi: khi đẻ đuôi ra trước (đẻ ngược). Thường thấy ở bò, dê, cừu
2.2. Thai ngang: Xương sống mẹ và thai ngang nhau
Tuỳ thao hướng của hông, bụng và lưng thai ra ngoài mà ta có thai ngang hông, thai
ngang bụng và thai ngang lưng. Nếu xương sống con mẹ và thai làm thành góc
vuông thì ta có thai thẳng góc thợ. Do đó ta cũng sẽ có thai thẳng góc thợ hông,
thẳng góc thợ bụng và thẳng góc thợ lưng.
Đây là các trường hợp đẻ khó, cần phải can thiệp
3. Hướng của thai: Chỉ mối quan hệ lưng của thai và lưng của mẹ
+ Thai sấp: nếu lưng con mẹ và lưng của thai cùng phía
+ Thai ngửa: nếu bụng của thai quay lên trên
+ Thai nghiêng: nêu lưng của thai quay sang một bên lưng của mẹ
4. Tư thế của thai: Chỉ mối quan hệ các bộ phận: đầu, đuôi, chân và thân của thai.
Nếu tư thế của thai không bình thường thì gây nên hiện tượng đẻ khó. Trước khi đẻ,
chiều hướng và tư thế của thai phải đạt yêu cầu sau:
- Chiều thai: dọc đầu hay dọc đuôi
- Hướng thai: sấp
- Tư thế:
+ Thai dọc đầu, sấp thì đầu và cổ thai phải gác lên 2 chân trước, duỗi thằng
và bằng nhau
+ Thai dọc đuôi, sấp thì đuôi thai phải nằm giữa 2 chân sau đang duỗi thẳng
và bằng nhau
2. Quá trình sinh đẻ
a. Giai đoạn trước khi đẻ (Thời kỳ mở cổ tử cung)
Là thời kỳ đầu tiên của quá trìnhg sinh đẻ được tính từ cơn co bóp đầu tiên đến lúc
cổ tử cung mở ra hoàn toàn. Mỗi lần tử cung co bóp khoảng 1-2 giây và khoảng cách
giữa mỗi lần co bóp khoảng 20-30 giây. Đối với trâu bò (động vật đơn thai) thì sự co
bóp tử cung bắt đầu từ đầu mút sừng tử cung. Đối động vật đa thai như lợn thì sự co
bóp bắt đầu từ bọc thai gần cổ tử cung nhất, còn những bọc thai khác ở xa vẫn ở
trong trạng thái yên tĩnh. Thai và bọc thai đi dần vào cổ tử cung thì một phân của
nhau tách ra. Màng niêu và màng ối căng phồng đè lên và kích thich cổ tử cung và
khung xương chậu mở ra tạo điều kiện cho thai ra ngoài.
Kết thúc giai đoạn này, cổ tử cung và khung xương chậu đã mở hoàn toàn tạo thành
một đường thông suốt. Nước ối chảy ra từ bọc ối bị vỡ. Giai đoạn mở tử cung của
trâu bò và ngựa khoảng 6 giờ (1-12 giờ), ở lợn khoảng 3-6 giờ. Con vật thường rất
đau, kêu la vật vã.
b. Giai đoạn đẩy thai
Giai đoạn tiếp theo từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn cho đến khi thai được ra ngoài.
Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình sinh đẻ. Giai đoạn này co bóp của tử
cung đặc biệt mạnh. Ở gia súc đơn thai thời gian co bóp khoảng 2-5 giây và khoảng
cách co bóp là 2-5 phút.
Nếu như tư thế, chiều hướng của thai bình thường, cơ quan sinh dục không có hiện
tượng bệnh lý, hệ thống nội tiết hoạt động bình thường thì thai dần dần lọt ra ngoài,
ngược lại chuyển sang hiện tượng đẻ khó. Đối với trâu bò và ngựa thì thời gian đẩy
thai khoảng 15-30 phút, nếu chậm quá 30 phút thì cần can thiếp không thai chết
ngạt. Đối với lợn, thời gian này có thể kéo dài 1-4 giờ, bình thường con nọ xổ cách
con kia 5-10 phút, nếu quá 4 giờ mà thai không xổ, hoặc xổ không hết thì phải can


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status