HỌC PHẦN II
CÔNG NGHỆ SINH SẢN
- - - - - - - - - - -- - - -
Yêu cầu chung: Nắm được những kỹ thuật tiên tiến nhằm chủ động điều khiển quá
trình sinh sản theo ý muốn của con người
GIỚI THIỆU
Kỹ thuật sinh sản là một trong những biện pháp then chốt để duy trì phẩm giống, phát
triển đàn, tạo ra nhiều sản phẩm thịt, sữa, trứng… phục vụ nhu cầu thực phẩm ngày
càng tăng về cả số lượng và chất lượng. Năng suất sinh sản trong chăn nuôi nước ta
hiện nay còn thấp. Theo tổng kết của Hội Chăn nuôi VN (2000) lợn nái lứa đẻ ít (1,5 –
1,6 lứa đẻ/nái/năm), số lợn con sinh ra và nuôi được thấp do đó khả năng sản xuất
thịt bình quân của một l nái chỉ đạt 550-600 kg thịt/nái/năm bằng 1/3 chỉ tiêu này ở
các nước trong khu vực. Khoảng cách giữa các lứa đẻ của đàn trâu bò cái sinh sản
bình quân 20-24 tháng (tỉ lệ đẻ 50-60%), ở các nước chăn nuôi tiên tiến chỉ tiêu này
là 14-15 tháng/bê/cái sinh sản (tỉ lệ đẻ 80-85%)… Năng suất sinh sản thấp là một
trong những nguyên nhân hàng đầu làm cho hiệu quả chăn nuôi thấp thậm chí còn bị
thua lỗ.
Những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến năng suất sinh sản của
gia súc có nhiều nhưng chú ý nhất có những nguyên nhân sau:
a. Chế độ nuôi dưỡng không hợp lý
Dinh dưỡng đầy đủ (không thiếu, không thừa), khẩu phần thức ăn hợp lý, đáp ứng
được các nhu cầu của con mẹ trong các giai đoạn sinh trưởng phát dục, mang thai,
trước và sau khi đẻ, nuôi con… làm một trong những biện pháp hữu hiệu đẻ nâng
cao năng suất sinh sản của gia súc.
b. Trình độ quản lý và tay nghề thấp
Trong chăn nuôi hộ gia đình (nhất là đối với trâu, bò, dê) do không thực hiện phân
đàn, phân lô đúng cách, chuồng trại chật chội sẽ dẫn đến các vấn đề như cản trở
việc phát hiện sớm những gia súc cái động dục, gia súc có chửa sẽ dễ bị sẩy thai,
thậm chí bê nghé sơ sinh bị dẫm chết… Mặt khác hàng năm không tiến hành loại thải
gây nên động dục quá mức và liên tục…
- Rối loạn di truyền. Đột biến di truyền, tương tác và kết hợp các gen không bình
thường ở con đực và con cái hoặc do tác động của điều kiện sống bên ngoài (ánh
sáng, nhiệt độ, hoá chất…) đã làm biến đổi hệ thống gen (chuyển đoạn, hoà tâm…)
đưa đến mất hoàn toàn hoặc giảm khả năng sinh sản của vật nuôi.
Khắc phục những nguyên nhân nêu trên bằng những biện pháp tương ứng và có hiệu
quả (chế độ dinh dưỡng hợp lý, cải tiến và nâng cao trình độ quản lý kinh tế-kỹ thuật
chăn nuôi thú y, thực hiện tốt quy trình công nghệ TTNT, cấy truyền phôi, điều hoà
sinh sản bằng hormone…) chắc chắn sẽ nâng cao năng suất sinh sản của đàn gia
súc.
55CHƯƠNG IV.
KỸ THUẬT THỤ TINH NHÂN TẠO GIA SÚC
Mục đích: Trình bày kỹ thuật huấn luyện đực giống, kỹ thuật khai thác tinh dịch,
kỹ thuật kiểm tra đánh giá chất lượng tinh dịch, đặc tính của tinh trùng, pha chế,
bảo quản tinh dịch và kỹ thuật dẫn tinh.
Thời lượng giảng dạy: 20 tiết (15 tiết lý thuyết và 5 tiết thực hành)
tồn với lòng đỏ trứng gà, Na-Citrate, kháng sinh đã thúc đẩy sự phát triển của lĩnh
vực thụ tinh nhân tạo gia súc ngày càng được hoàn thiện theo thời gian và có được
sự phát triển cả về mặt quy mô lẫn chiều sâu như ngày nay [2-4].
2. Lịch sử ở Việt nam
Ở Việt nam, kỹ thuật TTNT được bắt đầu từ năm 1957 tại Học viện Nông - Lâm, nay
là trường Đại học nông nghiệp I thuộc huyện Gia Lâm - Hà Nội. Năm 1958, TTNT đã
được tiến hành cho lợn ở An Khánh - Hà Tây. Đầu năm 1960, TTNT cho bò, 1961
TTNT cho trâu, 1964 cho ngựa. Vào những năm 70, cơ sở đông lạnh tinh dịch bò
dạng viên do Cuba viện trợ đã tiến hành ở Moncada thuộc Ba Vì - Hà Tây. Năm
1986, Viện Chăn nuôi đã ứng dụng thành công TTNT cho gà, năm 1990 cho ngỗng,
1991 TTNT lai xa giữa ngan và vịt, 1995 TTNT cho dê, 1997 TTNT cho chó nghiệp
vụ.
Cho đến nay, TTNT cho lợn, bò là phát triển hơn cả. Cả nước có 79 trạm (năm 1999)
và 36 phân trạm với trên 2.000 cán bộ kỹ thuật và hàng vạn dẫn tinh viên, số lượng
lợn, bò đực giống được sử dụng vào TTNT trên 1.500 con [5, 6].
II. LỢI ÍCH VÀ BẤT LỢI CỦA TTNT GIA SÚC
1. Lợi ích
- Nâng cao được khả năng truyền giống của con đực.
Bằng cách TTNT một con lợn đực có thể phụ trách 250 - 350 lợn cái (đực nội) và
1000 - 2000 lợn cái (đực ngoại). Đối với bò, một con đực có thể phụ trách hàng vạn
bò cái (vì mỗi lần xuất tinh của bò đực cho 200 liều tinh và lợn đực cho 30 - 40 liều
tinh).
- Nâng cao phẩm chất chung của đàn gia súc.
Vì chỉ dùng một số ít con đực giống được chọn lọc kỹ càng, với chất lượng tinh dịch
rất tốt đem dẫn cho gia súc cái thì các đặc điểm tốt sẽ được truyền cho đời sau.
- Có thể mang tinh dịch đi xa.
Vì tinh dịch đó đã được dùng các chất thích hợp để pha chế và dùng nhiệt độ thích
hợp để bảo tồn. Ví dụ :Tinh dịch lợn ở nhiệt độ 16-18 oC có thể giữ được 3-4 ngày
(lợn ngoại), lợn nội có thể giữ được 1-2 ngày. Đặc biệt tinh dịch bò, bằng phương
III. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ SINH LÝ SINH SẢN CỦA GIA SÚC ĐỰC
(Đã nghiên cứu trong Học phần 1)
IV. KỸ THUẬT KHAI THÁC TINH DỊCH CỦA GIA SÚC
58
1. Phản xạ tính dục của con đực
Phản xạ tính dục là chuỗi phản xạ, là biểu hiện các hành vi động tác muôn hình muôn
vẻ, để kích thích con cái cùng loài, thông qua đó con đực thực hiện được chức năng
sinh sản.
1.1. Phản xạ săn đuổi (trò sơ bộ)
Phản xạ săn đuổi là phản ứng toàn thân của con đực để kích thích con cái cùng loài
dẫn đến khả năng giao phối với nhau. Đực giống bình thường đến giai đoạn thành
thục về sinh dục đều có phản xạ này, nếu không có thì đực giống đó không bình
thường về khả năng sinh sản. Thường con đực phát hiện con cái bằng các cơ quan
cảm thụ như thính giác, thị giác, khứu giác. Khi tiếp xúc với con cái nó thường ngửi
phân, ngửi nước tiểu, ngửi bộ phận sinh dục của con cái hoặc dùng mõm hích vào
lưng, vào bụng để kích thích. Ở gia cầm khi con đực tiếp xúc với con cái thường đạp
chân, xả cánh và đuổi theo con cái. Nhìn chung ở các loài gia súc khác nhau thì cách
thể hiện phản xạ này khác nhau. Đây là phản xạ ban đầu và là cơ sở để thực hiện
các phản xạ khác do vậy ta cần tạo điều kiện để gia súc thực hiện phản xạ này một
cách đầy đủ.
Gia súc cái cũng có phản xạ này nhưng nó chỉ biểu hiện ở thời kỳ động dục, con vật
thường bỏ ăn, phá chuồng, kêu la và đi tìm con đực, biểu hiện rõ nhất là ở bò.
1.4. Phản xạ phóng tinh
Phản xạ phóng tinh là phản xạ cuối cùng của chuỗi phản xạ sinh dục. Nó liên quan
đến nhiều phản xạ như nâng dịch hoàn lên để co bóp phóng tinh ra ngoài. Đây là
phản xạ quan trọng nhất, nó trực tiếp ảnh hưởng đến phẩm chất tinh dịch vì vậy ta
phải đặc biệt chú ý tạo mọi điều kiện để gia súc xuất tinh tốt, đặc biệt là các yếu tố kỹ
thuật như nhiệt độ, áp suất, độ nhớt của âm đạo giả và các yếu tố kỹ thuật khác.
Phản xạ này ở những động vật khác nhau thì biểu hiện khác nhau:
+ Ngựa khi phóng tinh nó cử động nhịp đuôi, có lúc rên khẽ, nó phóng tinh từng phần.
Giai đoạn đầu dịch loãng hầu như không có tinh trùng, giai đoạn thứ hai dịch có màu
trắng sữa, nồng độ tinh trùng ở mức độ cao, giai đoạn thứ ba dịch nhầy keo, ít tinh
trùng.
+ Bò và trâu phóng tinh khi thực hiện phản xạ thúc. Thời gian phóng tinh ở trâu, bò
chỉ ngắn trong vòng 3-4 giây (cần lưu ý: khi trâu, bò chưa thực hiện phản xạ thúc thì
chưa phóng tinh).
+ Lợn suốt trong thời gian phóng tinh nằm im trên giá, dương vật ít cử động. Lợn do
lượng tinh dịch nhiều nên tinh dịch chảy trực tiếp vào tử cung. Theo Burger 1952 mổ
khám tử cung sau 15 phút thực hiện phản xạ phóng tinh thì tử cung đầy tinh dịch.
Lợn cũng phóng tinh từng phần giống như ngựa nhưng thời gian phóng tinh của lợn
lâu hơn, có thể kéo dài từ 10 - 15 phút, có con kéo dài tới 30 phút.
* Một số đặc điểm cần lưu ý:
- Hưng phấn sinh dục giảm ngay sau khi con đực hoàn thành "bài thể dục" nghĩa là
thực hiện xong toàn bộ quá trình giao phối.
- Ngừng giao phối hoặc nghỉ khai thác tinh dịch một thời gian con đực tăng hưng
phấn sinh dục nhưng phẩm chất tinh dịch lại giảm vì có nhiều tinh trùng già. Nếu hiện
tượng này kéo dài sẽ gây nên hiện tượng tự dâm. Thí dụ ở lợn cạ dương vật vào
tường hoặc nền chuồng để phóng tinh, ở bò và trâu qùy hai chân trước thúc dương
vật vào yếm để phóng tinh.
củng cố phản xạ này.
Các loài gia súc khác nhau thì có phương pháp huấn luyện khác nhau.
61
3.1. Đối với trâu, bò: lúc đầu cho nhảy cái động dục, tiếp đó cho nhảy cái thường,
cuối cùng cho nhảy giá hoặc nhảy với đực khác.
3.2. Đối với lợn: lúc đầu cho nó nhảy với cái động dục, tiếp đó cho nhảy với con mồi,
cuối cùng cho nhảy với giá.
* Chú ý: - Mỗi giai đoạn nhảy ta cho củng cố 5 đến 6 lần, khi gia súc thành thạo thì ta
sẽ chuyển sang giai đoạn khác.
- Một số con ta chỉ cần cho nó tham quan sau đó tự nó có thể tự nhảy giá
được hoặc có những con khi cho nó vào giá nó nhảy giá ngay thì cho chúng nhảy
trực tiếp giá không cần áp dụng một cách máy móc quy trình trên để rút ngắn thời
gian huấn luyện.
4. Kỹ thuật khai thác tinh dịch
4.1. Các yêu cầu cơ bản
Trong Kỹ thuật TTNT thì đối tác số 1 chính là con đực. Trong kỹ thuật khai thác tinh
dịch có những yêu cầu cơ bản sau:
a. Dùng phương pháp nào, kỹ thuật nào thì làm sao cũng phải khai thác toàn bộ tinh
dịch của con đực trong 1 lần khai thác.
Nếu việc đó không xảy ra thì nó sẽ gây ra 2 hiện tượng:
+ Lãng phí tinh dịch
+ Phản xạ tính dục của con đực bị ảnh hưởng, làm mất khoái cảm sinh dục, dẫn đến
làm mất phản xạ có điều kiện đã được tạo nên.
b. Đảm bảo phẩm chất của tinh dịch.
Chỉ sử dụng trong nghiên cứu như ở trên các động vật: cáo, chồn, khỉ...
(Câu chuyện về bộ lạc ở Ả rập)
b. Phương pháp âm đạo
Người ta nút cổ tử cung trước khi giao phối sau đó cho gia súc nhảy trực tiếp, tinh
dịch được phóng trực tiếp vào âm đạo rồi dùng cái cán dài hoặc ống hút lấy tinh ra
sử dụng. Còn gọi là phương pháp cho giao phối trực tiếp.
Dĩ nhiên phương pháp này chất lượng tinh dịch không đảm bảo và mất vệ sinh.
Hiện nay cũng chỉ sử dụng trong nghiên cứu, vd: trên hổ.
c. Phương pháp dùng túi
63
Năm 1903, Sand và Stribold dùng dùng một cái túi bằng cao su mỏng lắp sẵn vào
dương vật khi con đực hưng phấn, cho gia súc giao phối, sau khi phóng tinh thì lấy
tinh từ bao cao su để sử dụng.
Phương pháp này bảo đảm
được chất lượng tinh dịch
nhưng làm giảm cảm giác, khó
lấy tinh, đặc biệt là ở trâu, bò.
Phương pháp này không được
sử dụng hiện nay.
64
d. Phương pháp kích thích qua
trực tràng
Phương pháp này được Muller
và Stribolf thử nghiệm thành
nam. Cho đến nay bộ nông nghiệp
đã in thành qui trình và được áp
dụng rộng rãi ở tất cả các trạm thụ
tinh nhân tạo lợn trong cả nước.
65
- Nguyên tắc:: Theo dòng chung:
Đại não tác động, kích thích lên
các dây TKTV tạo nên phản xạ
xuất tinh. Tuy nhiên, người lấy tinh
có thể lợi dụng những kích thích
từ lòng bàn tay (ma sát, ôn độ, áp
suất) lên cơ quan sinh dục đực
tạo nên các hưng phấn TKTV, từ
đó tác động lên đại não gây nên
phản xạ xuất tinh.
Phương pháp này sử dụng phổ
biến ở lợn, cá, gia cầm. Ở trâu,
bò, dê, cừu cho kết quả không
cao. Phương pháp lấy tinh bằng
massage là phương pháp đơn giản tiện lợi, nhưng nó bất lợi là nếu kỹ thuật không tốt
dễ bị làm xây xát dương vật gây ra viêm nhiễm.
Hình 28. Âm đạo giả lấy tinh cho chó của Amantea
g. Phương pháp sinh vật (dùng âm đạo giả)
Phương pháp này được Amantea áp dụng thành công để lấy tinh cho chó vào năm
1914, sau này được một số nhà khoa học cải tiến và lấy tinh hầu hết cho các loài gia
súc.
Nguyên tắc: Dựa trên những phản xạ tự nhiên của con đực mà người ta chế tạo ra
âm đạo giả thỏa mãn 3 điều kiện:
+ Nhiệt độ trong lòng âm đạo giả: tùy từng loài gia súc khác nhau mà yêu cầu nhiệt
độ trong lòng âm đạo giả khác nhau. Ở bò, trâu nhiệt độ cần 40
chất nhờn như
dầu paraphin,
dầu vazơlin
hoặc dầu thực
vật.
Hình 29. Cấu tạo âm đạo giả
Tóm lại: ba yếu
tố trên là điều
kiện cần và đủ
để cho gia súc
xuất tinh tốt, nếu
thiếu một trong
ba yếu tố đó thì
gia súc không xuất tinh hoặc chất lượng tinh dịch sẽ giảm do vậy ta cần phải chú ý.
Đây là phương pháp mang tính tối
ưu nhất hiện nay, có thể áp dụng
được với mọi gia súc, nó có một
số ưu nhược điểm chính sau:
Hình 30. Một số dụng cụ lấy tinh cho gia súc
+ Đảm bảo an toàn được cơ quan
sinh dục của con đực
+ Chất lượng tinh dịch được đảm
bảo tốt
+ Dụng cụ phức tạp, chuẩn bị cầu
kỳ. Vì vậy phương pháp này hiện
nay người ta chỉ áp dụng lấy tinh
cho trâu bò.
4.3. Một số phương pháp khai thác tinh dịch hiện nay
3.1. Phương pháp lấy tinh bằng âm đạo giả (ÂĐG)
thích nhẹ qui đầu con vật làm cho
con đực hưng phấn và dương vật
thò ra một ít.
67
Người giúp việc đưa con đực
giống đến chỗ con cái, ở đó đã có
người lấy tinh. Người cầm ÂĐG
đứng ở tư thế sẵn sàng: Đứng
theo hình chữ đinh (để diện tiếp
xúc với con vật là nhỏ nhất), ÂĐG
vác trên vai.
Bò đực sau khi nhảy lên giá sẽ có
phản xạ cương cứng dương vật.
Lúc đó, kỹ thuật viên phải bình
tĩnh, thông minh, khéo léo và cảnh giác chuyển chân sang hình chữ bát tay trái cầm
lấy bao dương vật bẻ chếch về phía bên phải (nếu thuận bên phải) còn tay phải thì
đưa ÂĐG vào dương vật để tránh xây xát đầu dương vật vừa tránh nhiễm bẩn đầu
dương vật đồng thời tránh trường hợp con vật hăng quá phóng tinh mất. Khi dương
vật bò đực thúc vào ÂĐG thì với áp suất và nhiệt độ thích hợp thì con vật sẽ nhún tới
trước và xuất tinh. Thời gian xuất tinh của bò đực rất ngắn (khoảng 1-2 giây). Sau khi
Hình 31. Sử dụng ÂĐG lấy tinh cho bò và cho dê
xuất tinh bò đực từ từ tuột khỏi giá, ta không rút ÂĐG ra ngay mà từ từ lái tay cầm
theo dương vật.
Chú ý: Tuyệt đối không để con vật giao phối tự nhiên, điều đó sẽ làm khó cho lần tập
Hình 32. Lấy tinh lợn bằng tay
động dục làm mồi và dùng tay kích thích dương vật xuất tinh. Khi đã quen thì chuyển
sang giá nhảy.
- Phương pháp cưỡng bức: cưỡng bức lợn trèo lên, ôm giá, đồng thời dùng tay kích
thích bao dương vật để lợn thò dương vật ra ngoài. Sau vài lần lợn sẽ quen và tự
nhảy giá. Cần đề phòng phản ứng của lợn đực.
b. Kỹ thuật lấy tinh
Dụng cụ lấy tinh gồm một cốc hứng tinh, một khăn vải màn để lọc tinh, tất cả đều
được khử trùng. Khi chuẩn bị xong, cho lợn vào phòng lấy tinh (lơn đã được huấn
luyên để lấy tinh), dùng khăn và thuốc tím 1o/00 vô trùng bộ phận trùng bộ phân sinh
dục sau đó cho lợn đực lên giá. Dùng tay người lấy tinh đã được vô trùng kích thích
ngoài bao dương vật. Khi lợn đực thò dương vật ra khỏi bao dương vật ta dùng bàn
tay nhẹ nhàng nắm phần dương vật thò ra và kéo cho dương vật lệch ra ngoài giá để
tránh dương vật cọ xát vào giá gây thương tích, vì vậy cần nắm dương vật vừa phải
cho dương vật khỏi tuột khỏi lòng bàn tay, không được bóp chặt làm cho con vật đau,
sợ và không lấy tinh được, khi đó lợn sinh cáu gắt và nếu không cảnh giác nó sẽ cắn
người. Khi lợn xuất tinh, ở giai đoạn đầu yếu là dịch tiết của các tuyến sinh dục phụ
có màu trắng trong, hầu như không có tinh trùng do đó ta không hứng vào cốc. Khi
tinh xuất ra có màu trắng sữa, ta dùng tay còn lại cầm cốc hứng tinh kề vào sát quy
đầu để gia súc phóng tinh qua lớp vải màn rồi chảy xuống cốc hứng tinh. Gần kết
thúc quá trình phóng tinh thì dịch tiết ra chủ yếu là dịch loãng và keo phèn nên ta loại
bỏ không hứng lẫn vào tinh dịch.
* Chú ý:
:
+ Để đạt được kết quả thụ tinh điều kiện cần và đủ là tinh trùng và trứng phải thành
thục, có khả năng thụ thai trong hòan cảnh tối thích của chúng. Ông cũng khẳng định
rằng sự gặp gỡ một cách đặc biệt của hai cá thể cùng giống khác giới đã thành thục
chỉ là hình thức bên ngòai, chỉ tạo điều kiện cho hai tế bào sinh dục đực và cái gặp
nhau, đồng hóa lẫn nhau để tạo thành hợp tử. Như vậy, con người có thể làm thụ tinh
nhân tạo được.
+ Trong quá trình thụ tinh và di truyền các tính trạng từ đời trước cho đời sau không
phải cả tinh dịch quyết định mà chỉ do một mình tinh trùng thành thục có khả năng thụ
thai để đồng hóa với trứng là đủ. Như vậy, có thể dùng môi trường nhân tạo để pha
lõang tinh dịch.
Bằng hàng lọat các công trình nghiên cứu, các nhà khoa học sau này đã làm sáng tỏ
nhận định trên của Ivanov là đúng đắn và ứng dụng một cách sáng tạo vào thực tế.
Cho đến nay, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực này góp
phần đắc lực cho nghành chăn nuôi phát triển.
2. Đặc điểm của tinh dịch
2.1 Đặc điểm chung
Theo Ivanov, tinh dịch có ba đặc điểm chung.
+ Tinh dịch là dịch tiết của cơ quan sinh dục đực khi con đực thực hiện có kết quả
phản xạ sinh dục.
70
+ Tinh dịch được hình thành một cách tức thời khi con đực phóng tinh, nghĩa là lúc
nó hưng phấn cao nhất trong quá trình thực hiện phản xạ giao phối.
+ Tinh dịch gồm hai thành phần cơ bản là tinh trùng và tinh thanh.
71
chóng. Có nhiều cách xác định posm, nhưng đều dựa trên nguyên tắc xác định độ hạ
băng điểm của chất lỏng cần đo rồi suy ra áp suất thẩm thấu.
2.2.4 Độ pH của tinh dịch
Độ pH của tinh dịch có mối tương quan nghịch với mật độ tinh trùng.
+ Khi còn trong phần phụ hòan (phần túi tinh), tinh trùng có mật độ cao nên pH của
tinh dịch thấp. Ở lợn pH từ 6,4 - 6,8, ở trâu bò khỏang 6,2.
+ Khi ra ngòai, tinh trùng được pha lõang với tinh thanh nên pH thường tăng lên. Đối
với lợn từ 7,2 - 7,8, đối với trâu bò từ 6,4 - 6,8.
+ Để xác định pH của tinh dịch, người ta có nhiều phương pháp khác nhau như ;
dùng pH metter, dùng dãy ống so màu, dùng chỉ thị màu.
2.2.5 Năng lực đệm
Năng lực đệm của một chất là khả năng ổn định lực toan, kiềm của nó khi thêm một
tác nhân toan hoặc kiềm vào chất đó.
Năng lực đệm của tinh dịch lợn thường đạt 1.300 - 1.500.
2.2.6 Thành phần hóa học của tinh dịch
Tinh dịch là một chất lỏng rất phức tạp. Cho tới nay, thành phần hóa học của nó vẫn
chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, nhiều chất người ta mới định tính được mà
chưa định lượng.
Bảng 7. Thành phần hóa học tinh dịch của một số lòai gia súc [7]
Lòai gia súc
Thành phần %
Cừu Bò Lợn Ngựa Chó
Nước 85.2 90.5 95.4 97.6 97.6
nhau là khác nhau, nó
đặc trưng và ổn định
theo loài.
Hình 33. Tinh trùng một số loài gia súc
Tinh trùng của gia súc:Có hình thái giống con nòng nọc, có chiều dài gần gấp đôi
đầu, bề dày không đáng kể nên khi nhìn nghiêng giống như hạt gạo hơi cong. Có
hình thái khác nhau ở phần cổ và thân.
Thông thường nó có độ dài nói chung: 45-90 µ (trong đó phần đuôi là dài nhất. Về độ
dài, kích thước, trong lượng của tế bào sinh dục đực không phụ thuộc vào tuổi tác,
trọng lượng của con đực mà nó phụ thuộc và giống lòai.
Trong bản thân tinh trùng chủ yếu là nước- chiếm 75%, còn lại là vật chất khô: 25%.
Trong vật chất khô chủ yếu là Protein- chiếm 85%, lipit- 13.2%; ngoài ra khoáng,
vitamin: 1.8%.
3.2. Cấu tạo và chức năng
Dưới góc độ sinh sản người ta chia tinh trung ra làm 3 phần:
- Phần đầu
- Phần cổ thân
- Phần đuôi
* Cấu tạo phần đầu:
- Ngoài cùng là màng chung của tinh trùng gọi là màng bán thấm Lipoprotein. Nó có 3
lớp: protid - lipid - protid, có 2 chức năng:
(i) Định hình cho tinh trùng; (ii) Bán thấm:
cho phép trao đổi chất bên trong và bên
ngoài. Trên cùng phần đầu trong màng có
* Phần cổ - thân
Cổ tinh trùng gắn với đầu hết sức lỏng lẻo, nhưng có tác dụng rất lớn trong quá trình
thụ tinh, nhưng bất lợi trong quá trình bảo quản.
Phần cổ tế bào sinh dục đực rất ngắn và mảnh, chiều dài không đáng kể, coi phần cổ
là vạch biên giữa thân và đầu. Về cấu trúc vi thể thì cổ tương đối giống thân. Có 2
trung tử, trung tử 1 nằm ở dưới đầu, trung tử 2 nằm dưới trung tử 1 và trên thân.
Về cấu trúc vi thể, theo Brestneither (1949) cắt ngang phần cổ thân của tinh trùng , từ
trung tử 1 nằm trong hố thụ tinh xuất phát ra 2 sợi trục trung tâm và cũng là nơi xuất
phát ra 9 sợi fibrin vành trong, 9 sợi này bao bọc lấy hai sợi trung tâm. Trung tử 2
nằm thấp hơn trung tử 1 một chút, là nơi xuất phát của 9 sợi fibrin vành ngoài với
kích thước sợi fibrin là khác nhau: sợi 1, 4, 7 có kích thước to (1000 A
0
), sợi 9 nhỏ
(180 A
0
), sợi 2, 3, 5, 6, 8 có đường kính 700 A
0
. Nó chạy dọc từ cổ đến đuôi hoặc có
công thức cấu trúc vi thể 2+ 9+ 9 giúp cho cơ thể tinh trùng không thay đổi vị trí
trong di chuyển. Phần cổ thân chứa nhiều ty thể. Các ty thể là các túi nhỏ chưa 50%
protid, 30% lipid và các chất khác. Trong ty thể chứa nhiều men giúp cho quá trình
photpho-oxyhóa của tế bào, nó nằm sắp xếp như các vách ngăn từ phía ngoài vỏ đi
vào phần trung tâm của thân. Có nhiều chất ở thể sắc tố Sytine Cytocrom hoặc tế
bào sắc tố ở phần cổ thân giúp cho qúa trình oxyhóa của tinh trùng. Ngoài ra có
lượng lipid đáng kể, trước đây (1856) người ta tưởng tượng lipid đáng kể này là
động thì trao đổi chất càng tăng lên, tất cả những hiện tượng này làm cho tế bào mau
chết bởi vì cạn kiệt năng lượng và nhiều độc tố.
Trao đổi chât trực tiếp sử dụng năng lượng tích lũy dưới dạng ATP của cổ, thân,
đuôi. Nó lấy bằng cách nhờ phần protein sợi đuôi (có hai loại: spartine và
spermiogine). Nhờ các thành phần protein sợi đuôi này mà ATP được dự trữ ở phần
cổ thân nhờ spermiogine và APTaza giải phóng ra ADP + E1, sau đó ADP với sự có
mặt của ADPaza giải phóng ra AMP + E2.
2 năng lượng trên được protid sợi đuôi thứ 2 là spartine rải đều năng lượng khắp sợi
đuôi làm sợi đuôi co rút gây nên sự chuyển động của tế bào.
Bảng 8. Kích thước tinh trùng của một số loại gia súc [8]
Gia súc Dài tổng số Đầu Cổ Thân Đuôi
(
μ
)
Dài Rộng Dày
Cừu 60-75 8 5 1 1.5 10 42-43
Bò 65-72 9 4 1 1 13 49-53
Ngựa 58-60 1 4 2 - 10 42-43
Lợn 55-57 8 4 3 - 12 33-38
3.3. Đặc điểm sinh vật học
a. Đặc điểm vận động
quan trọng nhất là không có Oxy thì đường fructoz tiến hành trao đổi chất tạo thành 2
axit lactic và với năng lượng E
1
= 50 Kcal được dự trữ dưới dạng ATP.
Thiếu O
2
77
C
6
H
12
O
6
2C
3
H
6
O
3
+ E
1
Axit lactic thải ra môi trường được xem là con dao 2 lưỡi. Nếu với nồng độ thấp thì
kéo dài thời igan sống của tinh trùng vì nó có tác dụng ức chế tinh trùng hoạt động,
gian ngắn.
Muốn kéo dài thời gian sống của tế bào thì giữ trong môi trường không có Oxy.
Trước khi phối tinh cho con cái thì cho tinh trùng tiếp xúc với không khí.
c. Các đặc điểm khác
- Đặc tính chuyển động tới trước
Tinh trùng sống thì luôn luôn chuyển động. Tinh trùng chuyển động nhờ cổ hay thân
và đuôi để chuyển động quanh trục.
Đuôi ngoằn ngoèo uốn khúc chuyển động gây ra một xung động để tự tiến tới trước.
Ngoài ra, tinh trùng có đầu giống như quả lê nên tự nó chuyển động xung quanh cái
trục của thân nó. Sự rung động của đuôi kết hợp với sự xuay của trục giữa làm cho
tinh trùng vận động tiến thẳng tới trước.
78
Tốc độ di chuyển của tinh trùng thẳng tới trước còn phụ thuộc vào các điều kiện nội
tại và ngoại cảnh và nội tại như niêm dịch ở đường sinh dục gia súc cái tiết ra nhiều
hay ít, phương thức phóng tinh của con đực, độ co bóp bộ phận bên trong con cái
mà chủ yếu là sừng tử cung , ống dẫn trứng, mà tinh trùng di chuyển nhanh hay
chậm.