23
CHƯƠNG II.
QUÁ TRÌNH MANG THAI Ở GIA SÚC
Mục đích: Trình bày những biến đổi khi mang thai của gia súc mẹ (cùng với
bào thai) và các phương pháp chẩn đoán gia súc có thai, từ đó có biện pháp
chăm sóc, quản lý hợp lý.
Thời lượng giảng dạy: 7 tiết
I. THỜI GIAN MANG THAI VÀ SỐ LƯỢNG THAI
1. Thời gian mang thai
Thời gian mang thai được tính từ lúc con vật thụ thai (thường tính từ khi phối giống)
đến khi đẻ.
Bò: 9 tháng 10 ngày; Trâu: 11 tháng; Ngựa: 11 tháng; Dê, cừu: 5 tháng; Lợn: 3 tháng
3 tuần 3 ngày; Chó, mèo: 2 tháng; Hươu: 7 – 7.5 tháng, thỏ: 1 tháng... [3]
Số liệu trên chỉ là tương đối trong thực tế còn phụ thuộc nhiều yếu tố: tuổi (già >non,
lứa 1>lứa 2), giống, thời tiết khí hậu, dinh dưỡng, số thai (1 thai>2 thai), thai
đực>cái...
2. Số lượng thai
+ Đơn thai: 1-2 con như ở trâu bò, ngựa
+ Đa thai:
- Tuỳ theo giống và loài và thậm chí từng cá thể: Lợn nội trung bình 12-16 con, lợn
ngoại từ 8-12 con, dê cừu: 3-5 con, thỏ 2-4 con, chó 2-5 con, mèo: 2-4 con...
- Do tuổi khác nhau, ở gia súc đa thai lứa đầu thường ít hơn lứa sau.
- Do điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc mùa vụ.
- Do kỹ thuật thụ tinh nhân tạo (thời điểm, phẩm chất tinh, kỹ thuật dẫn tinh).
II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THAI
phân huỷ tế bào của thành tử cung ở vùng xung quanh phôi để cung cấp chất dinh
dưỡng cho phôi tiếp tục sinh trưởng và phát triển. Trong nhau thai cũng đã bắt đầu
cung cấp một ít chất dinh dưỡng và oxy ngay từ những tuần lễ đầu, sau đó thì nhau
thai hoàn toàn đảm nhiệm được chức năng dinh dưỡng cho phôi. Máu của con mẹ
và máu của thai không được trộn lẫn với nhau mà chỉ trao đổi chất dinh dưỡng, khi
đi qua màng ngăn cách thông qua cuống rốn cho đến khi sinh đẻ.
2.1. Màng ối: Là màng trong cùng, gần thai nhất, có hình bầu dục, ở lỗ rốn của thai
màng ối và da của thai dính lại. Màng ối thường trong suốt, qua màng có thể nhìn
thấy thai nhi.
Giữa màng ối và màng niệu có mạng lưới huyết quản phân bố đều do từ dây rốn lại.
Túi trong của màng ối có nước ối. Nước ối lúc đầu có màu trong sau đó vàng nhạt.
Nước ối giảm vào thời kì cuối có thai như ở bò: 5-7 lít, ngựa 3-4 lít, ở lợn thì ít hơn.
Thành phần hoá học chủ yếu của nước ối chủ yếu là các chất: Protein, Ure, kích tố
nhau thai, sinh tố, muối, đường. Trong nước ối còn chứa chất giống kích tố hậu yên
(oxytoxin) có tác dụng làm con bóp tử cung -> khi đẻ thường lấy nước ối cho uống
để kích thích bong nhau.
Tác dụng chính của nước ối:
- Giữ cho thai nhi ở vị trí cân bằng tránh sự chèn ép của cơ quan phủ tạng con mẹ.
- Giúp cho thai nhi tránh được tác nhân cơ học bên ngoài
- Làm cho các tổ chức xung quanh không dính vào thai nhi.- Khi đẻ túi màng ối chưa
vỡ đè lên và kích thích cổ tử cung và khung xương chậu mở, nước ối vỡ ra có tác
dụng bôi trơn âm đạo.
Hình 16. Mối liên hệ mẹ và thai qua hệ thống nhau
2.2. Màng niệu
Nằm giữa màng đệm và màng ối. Màng niệu có thể coi như là bóng đái ngoài cơ thể.
Trong màng niệu có nước niệu có thành phần hoá học chủ yếu là Ure và một số
muối. Thời kỳ đầu nước ối lớn hơn nước niệu, thời kì sau thì ngược lại.
* Lưu ý: Sự khác nhau giữa màng niệu ngựa và các loài gia súc khác.
3. Sự biến đổi của gia súc cái khi có thai
3.1. Sự biến đổi toàn thân
Khi gia súc có thai, các kích tố nhau thai và kích tố của thể vàng làm ảnh hưởng đến
cơ năng các tuyến khác. Do đó ở thời kỳ đầu quá trình trao đổi chất tăng lên, dẫn
đến con vật ăn khoẻ, tiêu hoá manh, khả năng tích luỹ lớn dần dẫ đến con vật nhanh
béo. Ở thời kỳ cuối của thai do yêu cầu phát triển mạnh của bào thai nó phải hấp
thụ chất dinh dưỡng từ con mẹ, nên con mẹ thường gầy đi. Vì vậy, trong thực tế
chăn nuôi giai đoạn chửa cuối chúng ta cần phải chú ý chăm sóc nuôi dưỡng chu
đáo nhất là về chế độ dinh dưỡng. Trong thời gian có chửa Glycogen tích luỹ ở gan,
mỡ trung tính và Colesteron trong máu tăng lên. Lượng Hemoglobin trong máu bình
thường, máu nhanh đông hơn. Lượng Ca, P trong máu giảm xuống vào thời kỳ có
chửa sau (có thể dẫn đến bại liệt), nhưng lượng K lại tăng lên. Hoạt động của tim,
phổi trở nên khó khăn do áp lực của bào thai đè lên xoang bụng và xoang ngực.
Qúa trình lưu thông máu, sự hô hấp và bài tiết đều bị ảnh hưởng. Do vậy, ở kỳ cuối
có chửa con vật thường bị phù nề, khó thở, hay đi tiểu tiện, có thể mệt mỏi, toát mồ
hôi. Sự chèn ép của thai có thể làm thay đổi tuần hoàn xoang chậu, phù thũng hai
chân sau.
3.2. Sự biến đổi của bộ máy sinh dục
- Buồng trứng: thể tích buồng trứng to lên, khi khám qua trực tràng ta thấy thể vàng,
ở trâu bò thường là một thể vàng còn ở lợn thì số thể vàng thường nhiều hơn thai
nhi do trứng rụng mà không được thụ thai hoặc bị sẩy thai.
28
hay uống nước -> béo sau đó
gầy đi
- Ép tay vào thành bụng, nghe
tim thai... thấy máy động của
bào thai
- Con vật yên tĩnh, đi lại chậm
chạp, thận trọng, chóng mệt
30
- Phù tứ chi, phía dưới thành bụng, tuyến vú
- Thay đổi trạng thái cân bằng, đối xứng hai bên thành bụng, độ lớn của bụng...
Phương pháp này thường chỉ phát hiện được ở những tháng chửa cuối.
4.1.3. Phương pháp khám qua âm đạo
Dùng mỏ vịt đưa vào cơ quan sinh dục con cái, mở nó ra và thông qua hệ thống đèn
soi hay ánh sáng tự nhiên để phát hiện có thai qua sự thay đổi thể tích, màu sắc,
dịch tiết... Phương pháp này khó, không phát hiện được tuổi của thai và dễ dàng
làm sẩy thai, gây viêm đường sinh dục nên rất ít làm.
4.1.4. Phương pháp khám qua trực tràng
Dùng tay đưa vào trực tràng thông qua đó kiểm tra các bộ phận của cơ quan sinh
dục cái và bào thai. Được áp dụng cho trâu bò, lợn ngoại, ngựa. Đây là phương
pháp tiên tiến, dễ tiến hành đối với các cơ sở sản xuất không có trang thiết bị chẩn
đoán.
a. Mục đích
- Chẩn đoán được con vật có thai hay không
- Đoán được thai tháng thứ mấy
- Xác định và phát hiện những gia súc mang bệnh sản khoa