Tài liệu Đinh Tiên Hoàng doc - Pdf 87

Đinh Tiên Hoàng
Đinh Tiên Hoàng (chữ Hán: 丁先皇), húy là Đinh Bộ Lĩnh (丁部領)
[1]
, là vị vua
sáng lập triều đại nhà Đinh, nước Đại Cồ Việt trong lịch sử Việt Nam. Ông là
người có công đánh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn và trở thành hoàng
đế đầu tiên của Việt Nam sau 1000 năm Bắc thuộc. Đại Cồ Việt là nhà nước mở
đầu cho thời đại độc lập, tự chủ, xây dựng chế độ quân chủ tập quyền ở Việt Nam.
[2]
Đinh Bộ Lĩnh mở nước, lập đô, lấy niên hiệu với tư cách người đứng đầu một
vương triều bề thế: Thời kỳ phục quốc của Việt Nam, từ họ Khúc chỉ xưng làm
Tiết độ sứ, tới Ngô Quyền xưng vương và tới vua Đinh xưng làm hoàng đế. Sau
hai vua nhà Tiền Lý xưng đế giữa thời Bắc thuộc rồi bị thất bại trước hoạ ngoại
xâm, 400 năm sau người cầm quyền Việt Nam mới thực sự vươn tới đỉnh cao ngôi
vị và danh hiệu, khẳng định vị thế vững chắc của quốc gia độc lập, thống nhất qua
các triều đại Đinh – Lê – Lý - Trần và buộc các điển lễ, sách phong của cường
quyền phương Bắc phải công nhận là một nước độc lập. Từ Đinh Bộ Lĩnh trở về
sau, các Vua không xưng Vương hay Tiết độ sứ nữa mà đều xưng Hoàng đế như
một dòng chính thống. Đinh Tiên Hoàng là vị hoàng đế đặt nền móng sáng lập nhà
nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam
[3]

[4]

[5]

[6]
, vì thế mà ông
còn được gọi là người mở nền chính thống cho các triều đại phong kiến trong lịch
sử.
Thuở hàn vi

Có một giai thoại về Đinh Bộ Lĩnh thuở bé.
Một lần Đinh Bộ Lĩnh quyết định cho mổ con trâu của người chú để "khao
quân". Ông mang đuôi trâu cắm vào một khe núi. Đến tối Đinh Dự hỏi, Đinh
Bộ Lĩnh nói dối trâu vào hang và cửa hang đã bị lấp lại. Đinh Dự tới nơi, rút
cái đuôi trâu ra, giận người cháu nói dối nên đuổi đánh. Đinh Bộ Lĩnh bỏ đi
mất.
Thống nhất giang sơn
Năm 944 Ngô Quyền mất. Anh/em vợ của Ngô Quyền là Dương Tam Kha tự lập
làm vua là Dương Bình Vương. Các nơi không chịu thuần phục, nhiều thủ lĩnh nổi
lên cát cứ một vùng thường đem quân đánh chiếm lẫn nhau. Năm 950, Ngô Xương
Văn, con thứ hai của Ngô Quyền, lật đổ Dương Tam Kha giành lại ngôi vua. Sau
đó Ngô Xương Văn đón anh trai là Ngô Xương Ngập về cùng làm vua. Đến năm
954, Ngô Xương Ngập bị bệnh mất.
Năm 965, Ngô Xương Văn đi đánh thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình
[10]
bị phục
binh bắn chết. Con của Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí nối nghiệp, quá suy
yếu phải về đóng giữ đất Bình Kiều. Từ năm 966, hình thành 12 sứ quân, sử gọi là
loạn 12 sứ quân:
Sơ đồ chiếm đóng 12 sứ quân
1. Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (Triệu Sơn - Thanh Hóa)
[11]
.
2. Đỗ Cảnh Thạc tự xưng là Đỗ Cảnh Công, giữ Đỗ Động Giang (Thanh Oai,
Hà Nội)
3. Trần Lãm tự xưng là Trần Minh Công, giữ Bố Hải Khẩu - Kỳ Bố (Thái
Bình)
4. Kiều Công Hãn tự xưng Kiều Tam Chế, giữ Phong Châu - Bạch Hạc (Việt
Trì và Lâm Thao, Phú Thọ)
5. Nguyễn Khoan tự xưng Nguyễn Thái Bình, giữ Tam Đái (Vĩnh Tường, Vĩnh

vương. Vua lập 5 hoàng hậu là Đan Gia, Trinh Minh, Kiều Quốc, Cồ Quốc và Ca
Ông.
Từ năm Canh Ngọ 970, bắt đầu đặt hiệu năm là Thái Bình. Đinh Tiên Hoàng
truyền cho đúc tiền đồng, là tiền tệ xưa nhất ở Việt Nam, gọi là tiền đồng Thái
Bình. Nhà Đinh cũng là triều đại đầu tiên đặt nền móng cho nền tài chính - tiền tệ
của Nhà nước phong kiến Việt Nam.
[13][14]

[15]

[16]
Đồng tiền Thái Bình được đúc
bằng đồng, hình tròn, lỗ vuông, có thể xâu thành chuỗi. Mặt phải có đúc bốn chữ
"Thái Bình Hưng Bảo", mặt sau có chữ "Đinh". Hầu hết gần 70 triều vua sau đó,
triều nào cũng cho đúc tiền của mình bằng đồng.
Về chính trị trong nước có phần quá thiên về sử dụng hình phạt nghiêm khắc. Vua
muốn dùng uy chế ngự thiên hạ, bèn đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi,
hạ lệnh rằng: "Kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn". Mọi người
đều sợ phục, không ai dám phạm.
Về ngoại giao, để tránh cuộc đụng độ, năm Nhâm Thân 972
[17]
, Đinh Tiên Hoàng
sai con là Đinh Liễn sang cống nhà Tống Trung Quốc. Vua nhà Tống sai sứ sang
phong cho Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương và phong cho Nam Việt vương
Đinh Liễn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ. Từ đó Đại Cồ Việt giữ lệ
sang triều cống phương Bắc. Từ năm Thái Bình thứ 7 [976], thuyền buôn của các
nước ngoài đến dâng sản vật của nước họ. Kết mối giao thương.
Về quân sự, Đinh Tiên Hoàng phân ra đạo, quân, lữ, tốt, ngũ. Mỗi một đạo có 10
quân, 1 quân 10 lữ, 1 lữ 10 tốt, 1 tốt 10 ngũ, 1 ngũ 10 người. Như vậy quân đội nhà
Đinh khi đó có 10 đạo, là khoảng 1 triệu người trong khi dân số đất nước khoảng 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status