BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ TÀI: VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
tận dụng được sẽ có thể trở thành khó khăn, thử thách đối với nhiều doanh
nghiệp xây dựng trong nước mà đặc biệt là các công ty, xí nghiệp xây dựng
quốc doanh vốn cần giải quyết những vấn đề còn vướng mắc: Trang thiết bị
lạc hậu, trình độ công nghiệp, trình độ quản lý... Ngoài ra với phương pháp và
cách thức điều hành doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt hiệu quả
sử dụng vốn trong các doanh nghiệp xây dựng nói riêng cũng như các doanh
nghiệp khác trong nền kinh tế nói chung ngày càng trở nên cấp thiết.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Tµi chÝnh doanh nghiÖp
42C
2
Nhận thấy vấn đề quan trọng đó, sau một thời gian thực tập ở công ty
ACC, được sự giúp đỡ trực tiếp của kế toán tổng hợp - thượng úy Cao Văn
Kế và các cán bộ khác trong công ty đã cung cấp một tài liệu cần thiết cùng
với sự hướng dẫn của Ths. Phan Thị Hạnh tôi đã tiến hành phân tích những
mặt mạnh cũng như mặt hạn chế cần được khắc phục trong công việc quản lý
và sử dụng vốn kinh doanh của công ty trong những năm gần đây.
Bài chuyên đề đã được hoàn thành, song còn có gặp một số vấn đề mà
thời gian nghiên cứu lại có hạn, nên không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất
mong sự góp ý của giáo viên hướng dẫn và ban lãnh đạo Công ty ACC.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Tµi chÝnh doanh nghiÖp
42C
3
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. VỐN VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm về vốn
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp
nào muốn tồn tại và phát triển được đều cần phải có nguồn tài chính đủ mạnh,
phân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất thành ba bộ phận là: đất
đai – lao động – vốn. Theo ông vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục
vụ cho quá trình sản xuất mới.
Sau này David Begg có bổ sung thêm về định nghĩa của vốn, theo ông:
vốn bao gồm có vốn hiện vật (tiền, các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp).
Nhìn chung cả Samuelson và Begg đều có chung một thống nhất cơ bản về
vốn là các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Tuy vậy, quan điểm này cho thấy vốn vẫn bị đồng nhất với Tài sản của
doanh nghiệp. Thực chất vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ Tài sản của
doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất nhằm mục đích sinh lời.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được quan niệm là toàn bộ
những giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh
nghiệp. Khái niệm này không những chỉ ra vai trò là một yếu tố đầu vào của
quá trình sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp
trong một quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt thời gian tồn tại của
doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản
xuất cuối cùng.
Như vậy, muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp
nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định. Trong nền kinh tế thị trường
vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu trong quá trình
sản xuất kinh doanh. Vốn kinh doanh là điều kiện để duy trì sản xuất, đổi mới
thiết bị công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm,
tăng việc làm và thu nhập cho người lao động.
Ta cũng cần phân biệt giữa tiền và vốn. Muốn có vốn thì thường phải có
tiền, nhưng có tiền thì chưa hẳn được gọi là vốn. Tiền muốn được coi là vốn
phải thoả mãn những điều kiện sau:
- Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định tức phải được
đảm bảo bằng một lượng hàng hoá có thực.
- Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định. Sự tích tụ
và tập trung của tiền phải đạt một mức độ tối thiểu nào đó thì mới đủ sức để
thoả mãn là tài sản cố định phải có đồng thời hai tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Phải có thời gian sử dụng tối thiểu từ một năm trở lên
- Phải đạt một mức tối thiểu nhất định nào đó về giá trị (tiêu chuẩn này
thường xuyên được điều chỉnh cho phù hợp với từng thời kỳ). Hiện nay ở
nước ta quy định là > 5 triệu đồng.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Tµi chÝnh doanh nghiÖp
42C
6
Nếu phân loại theo hình thái vật chất thì tài sản cố định có hai loại: tài
sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình
+ Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái biểu hiện vật
chất cụ thể như: Nhà xưởng, máy móc, thiết bị, đất đai, vật tư…
+ Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất cụ
thể như: bằng phát minh sáng chế, bí quyết, bản quyền, chi phí sáng lập doanh
nghiệp, lợi thế thương mại… Trong nền kinh tế thị trường để nâng cao khả
năng cạnh tranh thì việc đầu tư tài sản cố định vô hình là rất quan trọng.
Những chi phí đó cũng được quan niệm như giá trị ccủa một số tài sản cố
định và phải được thu hồi dần để mua sắm tài sản cố định mới.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của tài sản
cố định có những đặc điểm sau:
- Về mặt hiện vật: tài sản cố định tham gia nhiều lần vào quá trình sản
xuất kinh doanh và nó bị hao mòn dần, bao gồm cả hao mòn hữu hình và hao
mòn vô hình. Nói cách khác, giá trị sử dụng sẽ giảm dần cho đến khi tài sản
cố định bị loại ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh.
- Về mặt giá trị: giá trị của tài sản cố định được chuyển dịch dần từng
phần vào giá trị sản phẩm mà nó tạo ra trong quá trình sản xuất.
Đặc điểm về mặt hiện vật và giá trị của tài sản cố định đã quyết định đến
đặc điểm chu chuyển của vốn cố định. Song quy mô của vốn cố định lại được
quyết định bằng quy mô tài sản cố định. Qua mối liên hệ đó ta có thể khái
quát những nét đặc thù về sự vân động của vốn cố định trong sản xuất kinh
toán, sản xuất… thì doanh nghiệp còn có một số tư liệu khác như vật tư phục
vụ quá trình tiêu thụ, các khoản hàng gửi bán, các khoản phải thu…
Từ đó, ta có thể rút ra, vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng
trước về tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm
bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện một cách
thường xuyên liên tục.
Như vậy, dưới góc độ tài sản thì vốn lưu động được sử dụng để chỉ các
tài sản lưu động. Vốn lưu động chịu sự chi phối bởi tính luân chuyển của tài
sản lưu động, vốn lưu động luôn được chuyển hoá qua nhiều hình thái vật
chất khác nhau và chuyển hoá phần lớn vào giá trị sản phẩm, phần còn lại
chuyển hoá trong lưu thông. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
diễn ra một cách thường xuyên liên tục nên vốn lưu động cũng tuần hoàn
không ngừng và mang tính chu kỳ. Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần
hoàn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Tµi chÝnh doanh nghiÖp
42C
8
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái
sản xuất. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục thì yêu cầu đặt ra đối
với doanh nghiệp là phải có đủ vốn lưu động để đầu tư vào các tư liệu lao
động khác nhau, đảm bảo cho tư liệu lao động tồn tại một cách hợp lý, đồng
bộ với nhau trong một cơ cấu. Do đặc điểm của vốn lưu động là trong quá
trình sản xuất kinh doanh luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, sự
vận động tuần hoàn liên tục đã quyết định sự vận động của vốn lưu động.
+ Khởi đầu vòng tuần hoàn, vốn lưu động được dùng để mua sắm các
đối tượng lao động trong khâu dự trữ sản xuất. ở giai đoạn này vốn đã thay
đổi hình thái, từ vốn tiền tệ sang vốn vật tư (T- H)
+ Tiếp theo là giai đoạn sản xuất, các vật tư được chế tạo thành bán
thành phẩm, thành phẩm. ở giai đoạn này vốn vật tư chuyển hóa thành thành
phẩm (H- SX- - H
tới rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Khoản dự trữ: việc tồn tại vật tư, hàng hoá dự trữ, tồn kho là bước đệm
cần thiết cho quá trình hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp. Sự tồn tại
này trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hoàn toàn khách
quan.
Từ những đặc điểm trên ta có thể phân biệt được sự khác nhau cơ bản
giữa vốn lưu động và vốn cố định:
Tên vốn Chức năng
Tính chất tham gia
vào Q.trình SX
Hình thức chuyển
hoá giá trị
Vốn cố định Tư liệu lao động Nhiều lần Chuyển dần
nhiều lần
Vốn lưu động Đối tượng lao động Một lần
Chuyển toàn bộ
một lần
1.1.3. Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Vốn là điều kiện tiên đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Vốn là cơ sở xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp, vốn đảm bảo
cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo mục tiêu đã định.
Về mặt pháp lý
Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên của doanh
nghiệp đó phải có 1 lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải bằng
lượng vốn pháp định, khi đó địa vị pháp lý mới được công nhận. Ngược lại
việc thành lập doanh nghiệp không thể thực hiện được ở trường hợp trong quá
trình hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà
pháp luật quy định, doanh nghiệp sẽ chấm dứt hoạt động như phá sản, sát
trong giá thành sản phẩm, khối lượng giá trị sử dụng mà doanh nghiệp cung
cấp cho nền kinh tế. Đây chính là sự lẫn lộn giữa chỉ tiêu kết quả và chỉ tiêu
hiệu quả. Điều này đã làm cho các nhà đầu tư, quản lý đánh giá sai về hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Đây cũng chính là nguyên nhân làm tình
hình sử dụng vốn của doanh nghiệp bị lãng phí không hiệu quả dẫn đến tình
trạng “mất” dần vốn và không còn có khả năng duy trì sản xuất kinh doanh.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh tuân theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh “đầu vào” và “đầu ra” được
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Tµi chÝnh doanh nghiÖp
42C
11
quyết định bởi thị trường. Xuất phát từ nhu cầu thị trường, từ lợi ích của
doanh nghiệp do đó đòi hỏi doanh nghiệp luôn phải tính đến các yếu tố sản
xuất là sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào? Vậy sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra ngày càng gay gắt để khẳng định
được vị trí của mình trên thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đều lấy hiệu quả kinh
doanh làm thước đo cho hoạt động kinh doanh. Như vậy hiệu quả kinh doanh
là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế chiều sâu,
thể hiện trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ về chi phí các khôngản
nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh
doanh.
Qua công thức:
Kết quả(DT)
Hiệu quả
kinh doanh
=
Chi phí
Ta thấy hiệu quả chịu ảnh hưởng của hai nhân tó đó là doanh thu và chi
phí. Hiệu quả tăng lên khi:
1.2.1.1. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu quả sử dụng vốn cố định phản ánh 1 đồng vốn tạo ra bao nhiêu
đồng doanh thu hoặc giá trị sản lượng.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Error!
Mức doanh lợi vốn cố định: phản ánh 1 đồng vốn cố định tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận ròng.
Mức doanh lợi vốn cố định = Error!x100%
Chỉ tiêu hệ số hao mòn tài sản cố định phản ánh: cứ 1 đồng vốn bỏ ra
trong gía trị tài sản cố định thì số vốn thu hồi trong việc sử dụng tài sản cố
định đó là bao nhiêu
Hệ số hao mòn tài sản cố định =
Chỉ tiêu hệ số sử dụng tài sản cố định phản ánh: cứ 1 đồng vốn bỏ ra để
đầu tư vào tài sản cố định thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Doanh thu thuần về tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Số dư bình quân toàn bộ vốn
Lợi nhuận thuần
Vốn sản xuất bình quân
Số tiền khấu hao luỹ kế
Nguyên giá TSCĐ
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Tµi chÝnh doanh nghiÖp
42C
13
Hệ số sử dụng tài sản cố định =
1.2.1.2. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn lưu động cho biết 1 đồng vốn lưu động
của doanh nghiệp làm ra bao nhiêu đồng giá trị sản lượng hoặc doanh thu
trong kỳ.
Hiệu suất sử dụng VLĐ = Error!
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp luôn hướng tới 3 mục tiêu cơ bản là:
- Lợi nhuận
- Tăng trưởng thế lực
- Đảm bảo an toàn
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được thực hiện phải đảm bảo
đầy đủ 3 yếu tố này. Nếu doanh nghiệp sử dụng vốn không hiệu quả, không
bảo toàn không làm cho nó sinh lời thì doanh nghiệp sẽ không tồn tại được
trong nền kinh tế thị trường.
Do vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề cấp bách đặt ra cho các
doanh nghiệp vì nó là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, nó quyết định
yếu tố đầu ra, quyết định đến giá thành sản phẩm.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh vận động liên tục
và có những đặc điểm khác nhau giữa từng loại vốn. Sau mỗi quá trình số vốn
bỏ ra không được để hao hụt, mất mát mà phải sinh sôi nảy nở. Đồng vốn
phải có khả năng sinh lời, đây là vấn đề cốt lõi liên quan chặt chẽ tới sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy sử dụng vốn có hiệu quả là một yêu
cầu khách quan đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều
phải tính đến mục tiêu quan trọng nhất đó là lợi nhuận, lợi nhuận là chỉ tiêu
chất lượng tổng hợp liên quan đến tất cả các mặt hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, là nguồn tích luỹ cơ bản để tái sản xuất mở rộng,
thúc đẩy sự tăng trưởng ngày một lớn của doanh nghiệp.
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là tất yếu trong điều kiện
hiện nay. Nó góp phần nâng cao khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, đẩy nhanh tốc độ hoạt
động và khả năng sinh lời của đồng vốn nhằm đem lại hiệu quả cao hơn cho
doanh nghiệp và góp phần tăng trưởng, ổn định nền kinh tế xã hội.
360
Hệ số luân chuyển
sản xuất: quy mô vốn giảm khiến cho chu kỳ sản xuất sau thu hẹp hơn so với
chu kỳ trước. Tình trạng trên nếu kéo dài liên tục thì chắc chắn doanh nghiệp
không thể đứng vững trên thị trường.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA
DOANH NGHIỆP
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Tµi chÝnh doanh nghiÖp
42C
16
1.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn cố định tại
doanh nghiệp
Vốn cố định có chu kỳ vận động dài. Trong khoảng thời gian này, hiệu
suất sử dụng vốn cố định bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Có 2
nhóm nhân tố tác động đến vốn cố định : Các nhân tố lượng hoá được và các
nhân tố phi lượng hoá.
Vốn cố định được biểu hiện bằng tiền dưới dạng là các tài sản cố định.
Trong các nhân tố lượng hoá được, thì tài sản cố định có thể chịu tác
động bởi các nhân tố như là: Nguyên giá tài sản cố định bình quân, doanh thu
thuần, lợi nhuận thuần, hao mòn vô hình, rủi ro…
- Nguyên giá tài sản cố định bình quân trong kỳ là nhân tố có quan hệ
ngược chiều với hiệu suất sử dụng tài sản cố định trong điều kiện các nhân tố
khác không đổi: Nguyên giá bình quân tài sản cố định tăng thì sức sản xuất,
sức sinh lợi của tài sản cố định giảm (doanh thu, lợi nhuận thuần không đổi)
và ngược lại.
- Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, doanh thu thuần (hoặc lợi
nhuận thuần) tăng lên hoặc giảm đi thì sẽ làm sức sản xuất ( hoặc sức sinh lợi)
của tài sản cố định tăng lên (hoặc giảm đi).
- Hao mòn vô hình: Đây là một nguyên nhân đáng kể tạo nên sự chênh
lệch giữa giá trị thực tế và giá trị ghi trên sổ sách. Nhất là trong điều kiện hiện
nay, với sự phát triển nhanh chóng của các tiến bộ khoa học kỹ thuật khiến
cho tài sản cố định thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ hao mòn vô hình
Các nhân tố có thể lượng hoá được bao gồm: vốn lưu động bình quân
trong kỳ, doanh thu thuần đạt được trong kỳ, lạm phát…
- Vốn lưu động bình quân tham gia luân chuyển trong kỳ là nhân tố có
quan hệ ngược chiều với tốc độ luân chuyển vốn lưu động trong điều kiện các
nhân tố khác không đổi. Nếu số vốn lưu động bình quân tham gia luân chuyển
tăng lên sẽ kéo dài thời gian của vòng luân chuyển, tốc độ luân chuyể của vốn
lưu động giảm và ngược lại.
- Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, nếu doanh thu thuần trong
kỳ tăng lên sẽ làm cho thời gian 1 vòng luân chuyển vốn lưu động giảm đi,
tốc độ luân chuyển vốn lưu động tăng lên và ngược lại.
- Lạm phát: Nền kinh tế có lạm phát sẽ làm cho sức mua của đồng tiền
giảm sút. Nếu doanh nghiệp không có những biện pháp quản lý kịp thời thì
vốn lưu động rất dễ bị hao hụt dần theo sự trượt giá của tiền tệ.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Tµi chÝnh doanh nghiÖp
42C
18
Các nhân tố phi lượng hoá có thể là:
- Sự thay đổi trong chính sách vĩ mô của Nhà nước: bao gồm những sự
thay đổi trong hệ thống pháp luật, hệ thống thuế.
- Trình độ quản lý và sử dụng vốn lưu động: khả năng này có thể được
thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau.
1. Việc xác định nhu cầu vốn lưu động: Việc xác định nhu cầu vốn lưu
động thiếu chính xác sẽ dẫn tới tình trạng thừa hoặc thiếu vốn lưu động trong
sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng không tốt đến quá trình sản xuất kinh doanh
cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
2. Việc lựa chọn phương án đầu tư. Đây là một nhân tố cơ bản ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Nếu doanh nghiệp đầu tư
sản xuất những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường, giá thành hạ thì
quá trình tiêu thụ sẽ diễn ra dễ dàng, tăng nhanh vòng quay vốn lưu động và
ngược lại.
hoạt động độc lập trực thuộc Tổng công ty.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Tµi chÝnh doanh nghiÖp
42C
20
2.1.2. Đặc điểm và nhiệm vụ của Công ty xây dựng công trình hàng
không
2.1.2.1. Đặc điểm
Là một doanh nghiệp Nhà nước thuộc loại hình kinh tế kết hợp với quốc
phòng, công ty ACC vừa hoạt động như các doanh nghiệp cùng loại, vừa chịu
sự phân công giao nhiệm vụ trực tiếp của cơ quan chủ quản (Bộ quốc phòng,
Quân chủng Phòng không Không quân). cụ thể:
- Những công trình phục vụ nhu cầu quốc phòng nhưng không đòi hỏi
phải giữ an toàn bí mật thì tổ chức đấu thầu rộng rãi hoặc hạn chế. Những
công trình cần giữ an toàn bí mật tuyệt đối thì được Bộ quốc phòng, Quân
chủng Phòng không Không quân chỉ định thầu.
- Những công trình dân dụng đầu tư bằng nguồn vốn NSNN hoặc nguồn
vốn đầu tư của các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế, phục vụ nhu cầu
quốc kế dân sinh thì công ty cũng tham gia đấu thầu như các doanh nghiệp
khác.
Sau khi ký kết hợp đồng thi công của chủ đầu tư (bên A), giám đốc tiến
hành giao nhiệm vụ cho các xí nghiệp, đội thi công, các phòng ban chức năng
của công ty.Các phòng ban chức năng của công ty kết hợp với đội thi công bố
trí máy móc, nhân lực, vật tư sao cho đảm bảo tiến độ cũng như chất lượng,
mỹ thuật, kỹ thuật công trình. Cụ thể:
- Việc cung ứng vật tư giao cho ban Vật tư - Thiết bị và đội thi công trực
tiếp mua ngoài.
- Về máy thi công: Công ty có hầu hết các thiết bị chuyên ngành, đáp
ứng được nhu cầu thi công các công trình hiện nay. Toàn bộ máy móc thiết bị
được giao cho đội xe cơ giới thuộc Ban Vật tư – Thiết bị quản lý và tổ chức
sử dụng theo yêu cầu thi công từng công trình. Hoạt động của đội thi công cơ
- Kinh doanh dịch vụ kỹ thuật và lắp đặt thiết bị phòng cháy chữa cháy.
Chủ yếu công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Theo quy mô trong
giấy phép hành nghề do Bộ xây dựng cấp, công ty có quy mô vừa và phạm vi
hoạt động trên cả nước.
Với lực lượng nòng cốt ban đầu là cán bộ chiến sĩ công binh Phòng
không không quân, từ khi thành lập cho đến nay, công ty đã trưởng thành
nhanh chóng, có đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân viên có trình độ chuyên
môn vững vàng và đội ngũ công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, được tuyển
chọn kỹ càng.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Tµi chÝnh doanh nghiÖp
42C
22
Trong những năm gần đây, tiếp thu được những công nghệ tiên tiến
trong nước và quốc tế, cùng với sự năng động và nhạy bén, ngoài việc hoàn
thành tốt nhiệm vụ quốc phòng được giao, công ty đã mở rộng thị trường
không chỉ ở trong nước mà còn ở nước ngoài. Một số công trình tiêu biểu mà
công ty đã thi công là:
- Sân đỗ máy bay A75 sân bay Tân Sơn Nhất - TPHCM
- Đường lăn sân đỗ máy bay Phú Bài - Huế
- Đường cất hạ cánh sân bay Cần Thơ
- Đường cách hạ cánh, sân đỗ sân bay Phù Cát - Bình Định
- Sân bay Savanakhet – CHDCND Lào
Hiện nay, công ty đang tiến hành thi công các công trình mang tầm cỡ
quốc gia như là:
- Cảng Hàng không Liên Khương – Đà Lạt
- Công trường 1B Nội Bài
- Sân đỗ nặng cảng Hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất.
Và nhiếu công trình sân bay khác trong quân đội và ngành hàng không
dân dụng Việt nam.
Những công trình công ty thi công đều đảm bảo chất lượng, có nhiều
85.155.747
5.084.053
152.237.673
29.578.245
122.659.428
97.156.000
87.425.120
9.730.880
182.663.886
33.528.976
149.134.910
102.345.120
90.254.000
12.091.120
( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh các năm 2000, 2001, 2002, 2003 của Công ty xây
dựng công trình hàng không)
Qua bảng sau ta thấy: Tuy chi phí tăng nhưng mang ý nghĩa tích cực. đó
là do công ty nhận được nhiều công trình. Tốc độ tăng của chi phí lại nhỏ hơn
tốc đọ tăng của doanh thu đã làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp không
ngừng tăng điều này đã tạo điều kiện cho công ty tăng cường nghĩa vụ đóng
góp cho NSNN. Mặt khác, nó còn giúp công ty có điều kiện tái sản xuất mở
rộng thể hiện qua việc tăng cường vốn lưu đọng và vốn cố định.
Với những thành tựu đã đạt được, công ty ACC đã được Đảng và Nhà
nước trao tặng Huân chương lao động Hạng Nhì tháng 6 năm 1998. Công ty
đang từng bước phát triển đi lên và hiện nay đã trở thành nhà thầu có đủ năng
lực để nhận thầu thi công và hoàn thành các công trình xây dựng, tìm được
chỗ đứng nhất định trong ngành xây dựng, góp phần nhỏ bé vào công cuộc
Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức hoạt động của Công ty xây dựng công trình hàng
không
- Văn phòng: làm nhiệm vụ thực hiện các nghiệp vụ văn thư, lưu trữ hồ
sơ, tài liệu của toàn công ty.
- Ban tài chính – Kế toán: có trách nhiệm quản lý, cấp ngân sách, tiền
vốn cho các xí nghệp, hạch toán chi tiết, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh của doanh nghiệp, lập báo cáo tài chính hàng tháng, quý, năm, phân tích
tình hình tài chính của công ty và cung cấp các thông tin kế toán – tài chính
cần thiết giúp Giám đốc công ty có quyết định phù hợp.