Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16
TIỂU LUẬN
Lịch sử Việt Nam
Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam
1
Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu 02
Phần nội dung
I. Quá trình hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam 04
I.1. Hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX 04
1.1. Tác động của hoàn cảnh quốc tế đến Việt Nam 04
1.2. Tình hình trong nước 07
I.2. Sự du nhập của khuynh hướng dân chủ tư sản vào Việt Nam 14
2.1. Nguồn gốc của tư tưởng dân chủ tư sản 14
2.2. Các con đường du nhập vào Việt Nam 15
2.3. Cơ sở hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam 17
II. Những phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ ... 21
II.1. Phong trào đấu tranh trước chiến tranh thế giới thứ nhất 21
1.1. Điều kiện ra đời của phong trào 21
1.2. Các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ … 23
1.3. Đặc điểm của các phong trào … 35
II.2. Phong trào cách mạng sau chiến tranh thế giới thứ nhất 37
2.1. Điều kiện ra đời và phát triển của các phong trào 37
2.2. Nội dung của các phong trào yêu nước dân chủ sau chiến tranh … 42
2.2.a. Phong trào ở nước ngoài
2.2.b. Phong trào đấu tranh trong nước
2.3. Đặc điểm của các phong trào dân chủ sau chiến tranh thế giới … 49
II.4. Nguyên nhân thất bại của các phong trào theo khuynh… 50
II.5. Vị trí của khuynh hướng dân chủ tư sản trong cuộc … 55
triển tư tưởng dân chủ trong khuynh hướng dân chủ tư sản cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ
XX.
Giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến trước năm 1930, có nhiều phong trào đấu tranh
chống Pháp nổ ra mang khuynh hướng dân chủ tư sản biểu hiện dưới nhiều hình thức
Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam
3
Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16
phong phú, đa dạng. Các phong trào diễn ra sôi nổi thể hiện sự khao khát giải phóng
dân tộc thay đổi số phận hiện tại của đất nước. Đồng thời là sự biểu hiện cụ thể của tinh
thần yêu nước Việt Nam.
Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn nuôi dưỡng âm mưu chống phá hòng tiêu diệt
chế độ xã hội chủ nghĩa nước ta. Do đó, vấn đề khẳng định, phát huy chủ nghĩa yêu
nước hơn bao giờ hết càng giữ một vị trí quan trọng.
Tìm hiểu khuynh hướng dân chủ tư sản ở nước ta để thấy sự chuyển biến của con
đường giải phóng dân tộc, thấy được sự hy sinh, đóng góp của các bậc tiền bối trong
quá trình mày mò tìm giải pháp cứu nước. Đó là một chặng đường dài để thấy rằng giá
trị của nền độc lập hôm nay cao quý biết nhường nào, góp phần thức tỉnh ý thức dân
tộc, dân chủ trong việc góp công giữ gìn độc lập, phát huy những thành tựu đã dày công
đạt được.
Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam
4
Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16
PHẦN NỘI DUNG
I. Quá trình hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam
I.1. Hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
1.1. Tác động của hoàn cảnh quốc tế đến Việt Nam
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thế giới có nhiều sự kiện quan trọng tác động
mạnh mẽ đến sự chuyển biến của cách mạng Việt Nam.
Thời gian này, hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới chuyển từ tự do
cạnh tranh sang giai đoạn cao hơn của nó, đó là chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy nhu cầu về
tiến hành duy tân, đưa Nhật Bản phát triển theo con đường của các nước tư bản
phương Tây. Cuối cùng, nhờ có một số nhà lãnh đạo thức thời sớm tỉnh ngộ trước họa
xâm lăng, đã chiến thắng các lực lượng bảo thủ trong nước, theo hướng tư bản chủ
nghĩa, mặc dù còn nhiều tàn tích phong kiến. Nhờ có duy tân, đổi mới, Nhật đã trở
thành nước độc lập, không những thế mà còn sớm cường thịnh và có chính sách bành
trướng thực dân.
Trong thời gian này, Việt Nam đang lúng túng trước cuộc chiến tranh xâm lược
của Pháp. Đặc biệt, khi phong trào Cần Vương thất bại (1896), những người Việt Nam
yêu nước đang lo tìm con đường cứu nước mới thì chiến tranh Nga-Nhật nổ ra. Nhật
đại thắng, sự kiện này vang dội khắp năm châu, tác động mạnh mẽ đến các nhà yêu
nước Việt Nam cũng như nhiều nhà yêu nước khác trong khu vực Châu Á. Họ bỏ qua
bản chất đế quốc của Nhật chỉ chú ý đến việc một cường quốc da vàng đánh bại một
cường quốc da trắng. Chỉ những điều đó thôi, Nhật cũng đã được tôn làm anh cả, làm
đầu đàn cho Châu Á vùng lên. Nhật Bản được xem là vị cứu tinh của dân tộc da vàng.
Xu hướng thân Nhật đã phát triển ở nhiều nước châu Á như: Trung Quốc, Thái Lan,
Miến Điện, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam,… Bằng chứng là khi sang Nhật, Phan Bội
Châu đã gặp Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu cũng đang hoạt động ở đây.
Bên cạnh sự tác động của Nhật Bản thì những sự kiện ở Trung Quốc lúc bấy giờ
cũng tác động tới cách mạng Việt Nam.
Sau chiến tranh Trung-Nhật (1895), uy thế của triều đình phong kiến Mãn Thanh
xuống thấp. Phong trào đấu tranh của nhân dân lên cao. Nhiều sĩ phu tiến bộ và trí
thức tư sản Trung Quốc đã mạnh dạn đòi cải cách. Họ thành lập nhiều học hội, học
đường, nhà xuất bản, toà soạn,… truyền bá học thuyết mới mẻ. Tiêu biểu là học hội
của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu (ảnh hưởng của tư tưởng quân chủ lập hiến trực
Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam
6
Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16
tiếp từ Nhật Bản), Hưng Trung hội của phái trí thức Tây học do Tôn Dật Tiên đứng
đầu.
Trong khuôn khổ một nước phong kiến thì đề nghị của Lương-Khang, tức cải
Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16
Các nước tư bản phương Tây đi xâm lược vô tình mang theo tư tưởng dân chủ,
Tự do-Bình đẳng-Bác ái (thành quả tiến bộ của các cuộc cách mạng tư sản) sang các
nước phụ thuộc và thuộc địa. Chính nó là một trong những nguyên nhân lớn thúc đẩy
phong trào giải phóng dân tộc, đặc biệt lúc bấy giờ ở Châu Á như: Thổ Nhĩ Kỳ, Trung
Quốc, Miến Điện,…
Cao trào Châu Á thức tỉnh càng làm cho khao khát giải phóng dân tộc giành độc
lập dân tộc trước hết của Việt Nam thêm cháy bỏng. Nó góp phần nâng cao chí quyết
tâm trong quá trình chống thực dân, đế quốc.
1.2. Tình hình trong nước
Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ
quyền nhưng chế độ phong kiến đã bộc lộ những dấu hiệu của sự khủng hoảng và suy
yếu nghiêm trọng. Kinh tế ngày càng sa sút, tài chính khó khăn. Đúng như Nguyễn Tri
Phương nhận xét năm 1960 về tình hình Việt Nam, khi thực dân Pháp xâm lược thì
nước ta “của đã hết, sức đã thiếu”. Đã thế nhà Nguyễn còn đưa ra một số chủ trương
chính sách gây bất lợi cho sự phát triển nền kinh tế. Đường lối đối ngoại sai lầm “bế
quan toả cảng” đã khiến cho Việt Nam bị cô lập. Việc hạn chế ngoại thương không
xuất phát từ bảo vệ thị trường trong nước mà xuất phát từ ý định ngăn chặn sự xâm
nhập của đạo Thiên chúa, cho nên dã dẫn đến chính sách đàn áp giáo sĩ và giáo dân
một cách mù quáng. Việc cấm đạo, sát đạo gay gắt càng tạo thêm cớ cho kẻ thù bên
ngoài lợi dụng triển khai mưu đồ xâm lược. Các vua kế tiếp nhau càng ra sức củng cố
chế độ quân chủ chuyên chế, quyền lực tập trung trong tay vua. Chỗ dựa của nhà nước
là giai cấp địa chủ. Ruộng đất tư lúc bấy giờ phát triển mạnh hơn lúc nào hết với 83%,
còn lại là 17% là đất công. Chính vì vậy, đời sống của nhân dân ngày càng cực khổ,
hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nổ ra làm cho đất nước luôn không ổn định. Mười tám
năm cai trị của Gia Long (1802-1820) với 73 cuộc khởi nghĩa của nông dân, 7 năm ở
ngôi của Thiệu Trị (1940-1947) có 56 cuộc khởi nghĩa của nông dân… Bên cạnh đó,
khả năng quốc phòng yếu kém. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc chống xâm
lược của các nước đế quốc thực dân.
Trong cuộc chạy đua giành giật thuộc địa giữa các nước tư bản phương Tây,
với 3 chế độ khác nhau. Nam Kì là xứ thuộc địa do Pháp nắm nên được gọi là chế độ
trực trị do một viên Thống đốc của Pháp đứng đầu. Bắc Kì và Trung Kì là 2 xứ bảo hộ
vẫn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức. Bắc Kì do Thống sứ đứng đầu,
Trung Kì do Khâm sứ đứng đầu, cả hai cũng đều là người Pháp. Người Việt Nam
muốn đi lại giữa các kì phải xin giấy phép như ra nước ngoài. Với thủ đoạn này, thực
dân Pháp muốn xoá tên Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới, vì bấy giờ chỉ
Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam
9
Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16
còn là Liên bang Đông Dương, chia rẽ nhân dân thuộc địa với nhân dân Pháp, chia rẽ
nhân dân các nước thuộc địa với nhau.
Riêng ở Việt Nam, thực dân Pháp đã phá hoại tính thống nhất dân tộc, dựng nên
hàng rào chia cắt về chế độ, kéo theo các cơ quan cai trị riêng biệt, ngăn cản sự giao
lưu qua lại, ngăn cản sự phát triển chung, đặc biệt là nhằm phá vỡ khối đoàn kết dân
tộc của ta, giảm sức mạnh trong việc chống lại chúng.
Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn ra đạo luật về tổ chức quân đội thuộc địa
(7/1/1900) bao gồm lính Pháp và lính bản xứ. Quân đội đặt dưới quyền chỉ huy trực
tiếp của viên Tổng chỉ huy người Pháp. Mục đích là nhằm đàn áp các cuộc khởi nghĩa,
canh giữ các nhà tù, đàn áp chống đối, ổn định thuộc địa.
Cùng với quân đội chính quy ngày 30 tháng 6 năm 1915, Tổng thống Pháp ra sắc
lệnh thành lập lực lượng cảnh sát đặc biệt. Nhiệm vụ là đảm bảo trật tự, an ninh trong
tỉnh, canh giữ các công sở, các tuyến đường giao thông. Để tăng cường đàn áp, ngày
28 tháng 6 năm 1917, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập Sở tình báo và
an ninh trung ương (Sở mật thám Đông Dương). Mỗi xứ có một cơ quan mang tên
cảnh sát an ninh.
Đi đôi với bộ máy quân sự, cảnh sát to lớn là hệ thống pháp luật khắc nghiệt cùng
hệ thống toà án nhà tù dày đặc khắp Việt Nam. Từ huyện, phủ, châu trở lên đều có nhà
tù và trại giam.
Như vậy, rõ ràng bộ máy chính quyền của thực dân Pháp được thiết lập trên cơ sở
của sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân Pháp với giai cấp phong kiến phản động do thực
Vân Nam (1910),…Tính đến năm 1912, tổng số chiều dài đường sắt đã xây dựng ở
Việt Nam là 2099 km. Tất cả những tuyến đường sắt trừ tuyến Hải Phòng-Vân Nam
đều do nhà nước thực dân Pháp thu lãi.
Đường thuỷ cũng được khai thông ở các con sông lớn như: Sông Hồng, Thái
Bình, Đồng Nai, sông Hậu Giang và các kênh rạch. Các cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài
Gòn cũng được xây dựng. Riêng ở Nam Kì đến năm 1914 có 1745 km đường thủy và
tàu chạy bằng hơi nước.
Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn (hơn 10 năm đầu thế kỉ XX), thực dân
Pháp đã đầu tư làm thay đổi hẵn cơ sở hạ tầng Việt Nam. Đó là sự đầu tư có dụng ý,
nhằm phục vụ cho quyền lợi thực dân, phục vụ cho mưu đồ thống trị, khai thác và bóc
lột của chúng.
Trái với tinh thần của cuộc Đại cách mạng Pháp (1789) là diệt trừ tận gốc chế độ
phong kiến, mở đường cho nước Pháp hướng mạnh vào con đường phát triển tư bản.
Chính sách kinh tế của Pháp ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng lại duy
1
Ngọc Cơ (chủ biên) (2005), Lịch sử Việt Nam từ năm 1858-1918, Nxb Đại học sư phạm, 128
Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam
11
Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16
trì phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu kết hợp với thiết lập rất hạn chế phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong nông nghiệp, Pháp cướp đoạt ruộng đất của nông dân một cách trắng trợn,
được che đậy bằng sự hợp thức hoá của Điều ước, Nghị định: “Năm 1897, thực dân
Pháp bắt triều đình Huế kí điều ước cho thực dân Pháp quyền khai khẩn đất hoang.
Tiếp đó, ngày 1/5/1900 Thực dân Pháp ra Nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng
đất trong luật pháp phong kiến”
2
. Chúng lập ra hàng loạt các đồn điền kinh doanh theo
phương thức tư bản chủ nghĩa nhưng lại bóc lột bằng cách phát canh thu tô kiểu phong
kiến. Những chính sách trong nông nghiệp của Pháp đã kiềm hãm nền nông nghiệp
triển nhưng không cân đối về cơ cấu, què quặt và phụ thuộc nặng nề vào đế quốc Pháp.
Pháp là nước tư bản già lạc hậu so với các nước tư bản trẻ phát triển mạnh lúc bấy
giờ: Mĩ, Đức,… Pháp có nền kỉ thuật đã lỗi thời, hàng hoá không thể cạnh tranh nổi
với các nước tư bản đang lên nên Pháp phải giải quyết khủng hoảng của mình bằng
cách độc chiếm thị trường thuộc địa, hạn chế cạnh tranh, đồng thời là khai thác triệt để
nguồn lợi thuộc địa đem về chính quốc sản xuất rồi lại mang hàng hóa sang tiêu thụ ở
thuộc địa. Đây là phương thức kinh doanh khác cơ bản so với Mĩ, Đức. Chính vì vậy,
thuộc địa của Pháp có nền kinh tế bị què quặt, không tiếp nhận được thành tựu mới,
không được giao lưu. Đó cũng chính là nguyên nhân cho sự trì trệ kéo dài, khó khắc
phục, cải tạo của Việt Nam sau cách mạng giải phóng dân tộc.
+ Về xã hội: Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX dưới sự tác động
của công cuộc khai thác của Pháp đã phân hoá sâu sắc.
Giai cấp địa chủ phong kiến vốn thuộc giai cấp thống trị nay đầu hàng đế quốc,
dựa vào đế quốc để áp bức bóc lột nhân dân ta. Vì vậy, đây là đối tượng của cách
mạng. Song, do chính sách cai trị của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hoá, một
bộ phận làm tay sai cho thực dân Pháp, một bộ phận địa chủ nhỏ và vừa ít nhiều có
tinh thần dân tộc đứng lên chống Pháp khi có cơ hội.
Giai cấp nông dân là giai cấp đông đảo nhất trong xã hội, chiếm 90% dân số bị đế
quốc, địa chủ bóc lột nặng nề. Vì vậy, họ căm thù thực dân phong kiến, khao khát độc
lập và ruộng đất, họ tích cực tham gia và là nguồn động lực chính trong các cuộc đấu
tranh chống đế quốc, phong kiến. Nhưng trong cách mạng dân tộc, dân chủ, họ không
thể đóng vai trò lãnh đạo vì không đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến.
Bên cạnh các giai cấp phong kiến cũ thì thời kì này xuất hiện các giai tầng mới.
Đó là công nhân và tư sản.
Giai cấp công nhân ra đời là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa
của thực dân Pháp. Mặc dù mới ra đời số lượng còn ít, trình độ văn hoá còn thấp
nhưng giai cấp công nhân Việt Nam đã nhanh chóng trưởng thành về số lượng và chất
lượng, có khả năng lãnh đạo cách mạng sau này.
Còn tư sản thì thật sự trở thành một giai cấp từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất.
Bị tư bản Pháp chèn ép nên giai cấp tư sản Việt Nam phân hoá thành hai bộ phận: tư
chúng những nhà có thù với đế quốc Pháp. “Họ tất nhớ lại cha anh họ bị đày, bị giết
vì nước, người trước gnười sau sớm muộn gì cũng theo dấu cha anh, đứng lên đỡ lấy
cái gánh nặng non sông mà cha anh họ còn để lại giữa đường,…”
4
.
4
. Đinh Trần Dương (2002), Sự chuyển biến của phong trào yêu nước trong ba mươi năm đầu thế kỉ
XX, Nxb Đại học quốc gia Hà Nộ, 22
Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam
14
Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16
Dưới ách cai trị của thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam đang khao khát tìm kiếm
một con đường giải phóng dân tộc khi tư tưởng phong kiến đang suy tàn, mất hết vai
trò lãnh đạo, tư tưởng dân chủ-tư tưởng mới được tiếp thu một cách nhanh chóng.
Thực dân Pháp cố gắng tìm mọi cách ngăn chặn nhưng có một thứ mà chúng không
thể nào ngăn chặn nổi đó là tinh thần tìm hiểu, nghiên cứu về giải phóng dân tộc của
nhiều người yêu nước Việt Nam.
Như vậy, những chính sách cai trị của Pháp ở Việt Nam mang đậm tính chất thực
dân: chuyên chính về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế, nô dịch tàn bạo về văn hoá
giáo dục.
Khi mà hệ tư tưởng phong kiến không còn giữ vai trò chủ đạo nữa, phong trào
yêu nước theo lập trường phong kiến dần tàn lụi, thất bại, thì những biến đổi về chính
trị-kinh tế-văn hoá trong chế độ thực dân là tiền đề cho sự xuất hiện những luồng tư
tưởng khác nhau. Đồng thời là cơ sở cho sự tiếp nhận, hấp thụ những nguyên lí cứu
nước mới đối với Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là khuynh hướng dân chủ tư sản.
I.2. Sự du nhập của khuynh hướng dân chủ tư sản vào Việt Nam
2.1. Nguồn gốc của tư tưởng dân chủ tư sản
Dân chủ ngày nay được hiểu là một chính quyền mà trong đó nhân dân là người
làm chủ, là người quyết định mọi việc. Dân chủ bao hàm ý nghĩa thừa nhận quyền tự
do bình đẳng của mọi công dân. Nguyên tắc đặc trưng của chế độ dân chủ là thiểu số
khoa học tới Việt Nam với mục đích nghiên cứu, dạy học… Và đặc biệt trong đó
không thể không kể tới, đó chính là các giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa, họ ít nhiều
cũng đã mang tư tưởng bình đẳng của Chúa đến với giáo dân và ảnh hưởng sâu rộng tỉ
lệ thuận với quá trình phát triển của đạo Thiên Chúa đối với nhân dân Việt Nam. Lê-
nin viết “Thế kỉ XIX là thế kỉ đem lại văn minh và văn hoá cho toàn thể nhân loại đã
tiếp diễn dưới dấu hiệu của đại cách mạng Pháp” [3; 191]. Hơn thế nữa, nền giáo dục
Pháp ở Việt Nam mặc dù với mục đích chính là đào tạo những người làm việc cho bộ
máy cai trị chính quyền thực dân nhưng ít hay nhiều cũng mang đến cho những người
Việt Nam theo Pháp học có những hiểu biết về tư tưởng “ánh sáng” với Milê, người
đã có quan niệm về chủ nghĩa cộng sản không tưởng; Mông-te-xki-ơ với tư tưởng xây
dựng hệ thống nhà nước “tam quyền phân lập, kiềm chế đối trọng”; Vôn-te có tư
tưởng chống độc tài phong kiến và nhà thờ Thiên Chúa; hay Đi-đơ-rô với quan điểm
triết học duy vật và Rut-xô với tư tưởng dân chủ cách mạng và nhà nước dân chủ,…
Vì vậy, nền giáo dục Pháp ở Việt Nam không tránh khỏi đem những tư tưởng này vào
giới trí thức của nước ta.
Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam
16
Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16
Tư tưởng dân chủ tư sản ở Pháp đến Việt Nam không chỉ thâm nhập qua những
người Việt Nam làm việc cho Pháp, các trí thức Tây học trong nước, mà còn qua một
lực lượng quan trọng là những người Việt Nam xuất ngoại sang Pháp. Những người
Việt tới Pháp gồm những nhà tư sản hay trí thức, bằng cách này hay cách khác sang
Pháp học tập, làm ăn. Do Pháp ra sức ngăn cản việc người Việt Nam đi du học nước
ngoài, đặc biệt là qua Pháp vì sợ họ tiếp thu những thu tưởng mới nên số lượng này là
không nhiều ở nước ta lúc bấy giờ. Chiếm số lượng khá đông là người Việt Nam làm
việc trên những chuyến tàu của Pháp (Bác Hồ cũng từng làm việc như thế) hay bị đưa
sang Pháp tham chiến trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất.
Đây là con đường tiếp cận tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây trực tiếp chính
bằng trình độ nhận thức của người Việt. Tuy nhiên, trong buổi đầu tư tưởng dân chủ tư
sản du nhập vào, thành phần tiếp nhận có nhiều hạn chế giai cấp, lịch sử cùng với
tưởng này qua Trung Quốc phần nào cũng vì tác động từ những cuộc đấu tranh của trí
thức tư sản Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn,… qua
cuộc vận động biến pháp, qua cách mạng Tân Hợi,… Hơn thế nữa, cả hai nước đều sử
dụng Hán tự. Chính vì những lí do đó mà tư tưởng dân chủ tư sản qua Trung Quốc vào
Việt Nam có vai trò rất lớn của Tân thư, Tân văn Trung Quốc bấy giờ. Và theo Tân
thư, Tân văn từ Trung Quốc, tư tưởng của những nhà “khai sáng” Pháp cũng được
dịch truyền vào Việt Nam một cách phổ biến.
Tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây vào Việt Nam thông qua Nhật Bản và Trung
Quốc rõ ràng đã có sự biến dạng nhất định. Bởi vì đó là cách vận dụng, cách nhìn của
phần lớn những nhà theo tư tưởng quân chủ lập hiến.
Cùng với sự thất bại của khuynh hướng cứu nước theo phong kiến, chính sách cai
trị của chính quyền thực dân, sự khao khát độc lập, tự do mãnh liệt của nhân dân Việt
Nam càng tạo điều kiện cho những nhà yêu nước nhanh chóng tiếp thu tư tưởng dân
chủ tư sản, một tư tưởng mới và tiến bộ so với Việt Nam lúc bấy giờ.
2.3. Cơ sở hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam
Sự thất bại của các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến
Sau khi buộc triều đình Huế kí Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884), thực dân Pháp về cơ
bản đã hoàn thành quá trình xâm lược toàn bộ Việt Nam. Nhưng chúng còn mất thêm
hơn mười năm liên tục, hao người, tốn của để tiến hành cuộc bình định bằng quân sự
nhằm đối phó với cuộc chiến tranh quyết liệt của ta. Đó là cuộc nổi dậy của phái chủ
chiến ở kinh thành Huế (1884), phong trào yêu nước của văn thân, sĩ phu hưởng ứng
Chiếu Cần Vương (1885-1896). Và phong trào nông dân tự phát, tiêu biểu là khởi
Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam
18
Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16
nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1884-1913). Và đó cũng
chính là những phong trào thể hiện sự nổ lực cuối cùng của khuynh hướng cứu nước
theo tư tưởng phong kiến.
Cuối thế kỉ XIX, phong trào vũ trang chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương do
Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết đứng đầu với hy vọng khôi phục lại chủ quyền. Tôn
tưởng dân chủ tư sản, nên khi kết thúc không có mầm mống chuyển sang dân chủ tư
sản. Còn đối với phong trào nhân dân Yên Thế, thời gian tồn tại có ảnh hưởng của dân
chủ tư sản. Vì thế giai đoạn sau, phong trào này có sự dao động khi mà người lãnh đạo
Hoàng Hoa Thám có tiếp xúc với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và Tôn Trung Sơn
(khi Tôn Trung Sơn sang tuyên truyền tư tưởng cách mạng cho Hoa kiều, ẩn náo tạm
thời vì mục đích cách mạng…). Phong trào nông dân Yên Thế cuối cùng cũng thất bại.
Song đặc điểm của nó là sự dao động, mang hơi hướng của lập trường dân chủ tư sản.
Đây là bước quá độ chuyển biến tư tưởng đầu tiên trong cách mạng Việt Nam.
Như vậy, tất cả những phong trào chống Pháp nổ ra cuối thế kỉ XIX đều lần lượt
thất bại. Thất bại không phải vì người lãnh đạo kém nhiệt huyết, nhân dân kém anh
dũng mà do nguyên nhân chủ quan, khách quan chi phối. Đặc biệt, thất bại là do hệ tư
tưởng phong kiến lúc bấy giờ đã lạc hậu, lỗi thời, mất vai trò trong lãnh đạo cách
mạng Việt Nam trong tình tình mới. Điều đó chỉ ra yêu cầu bức thiết của phong trào
yêu nước Việt Nam thời điểm này cần nhanh chóng thoát khỏi những bế tắc của thời
đại. Và quan trọng là mau chóng tìm ra một hệ tư tưởng mới chỉ đạo cho con đường
cứu nước giành độc lập tự do.
Những chuyển biến kinh tế-xã hội Việt Nam sau cuộc khai thác thuộc địa lần
thứ nhất của Pháp
Chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam đã gây ra nhiều hậu quả: kinh tế
tàn tạ, chính trị ngột ngạt, các giai cấp trong xã hội phân hoá sâu sắc, đời sống nhân
dân hết sức khó khăn,… Những cơ sở kinh tế-xã hội lúc bấy giờ là nguồn gốc tất nhiên
của chế độ thực dân nửa phong kiến. Được sống độc lập, tự do là nguyện vọng thiết
tha của mọi người. Đó là những tiền đề cho cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở nước
ta.
Trong những năm đầu thế kỉ XX, chính sách cai trị của thực dân Pháp đã tước
đoạt hết quyền tự do của nhân dân ta. Chính sách khai thác của thực dân đã làm cho
nền kinh tế nước ta phụ thuộc hoàn toàn vào nền kinh tế nước Pháp. Những nhà máy
xí nghiệp, hãng buôn, hệ thống giao thông, hải cảng, thành thị ra đời hợp thành bộ
phận kinh tế tư bản thực dân, chỉ có tác dụng tiêu thụ hàng công nghiệp của tư bản
Pháp; vơ vét các mặt hàng nông-lâm-nghiệp để xuất khẩu và “ăn cướp có tổ chức” tài
Việt Nam đầu thế kỉ XX đang trong tình trạng một nước thuộc địa nửa phong
kiến. Do vậy, các khuynh hướng chính trị-tư tưởng lúc bấy giờ có gắn bó chặt chẽ với
những phong trào đấu tranh, hoặc đòi hỏi quyền dân tộc hoặc đòi quyền dân chủ. Đầu
Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam
21
Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16
thế kỉ XX cũng là thời gian mà khuynh hướng dân chủ tư sản chính thức đóng vai trò to
lớn trong cuộc đấu tranh đó. Các cuộc khởi nghĩa nông dân cho đến đầu thế kỉ XIX đã
hầu như bị Pháp “bình định” cơ bản, chỉ còn cuộc khởi nghĩa Yên Thế vẫn còn hoạt
động, nhưng cũng không gây ra nhiều đe dọa cho chính quyền thuộc địa. Đứng trước
sự bế tắc của con đường cứu nước cũ và sự du nhập của con đường cứu nước mới,
những trí thức Nho học đã có sự nhìn nhận lại phương pháp cách mạng của mình. Đó
là những cơ sở cho sự chuyển biến tư tưởng cứu nước của Việt Nam đầu thế kỉ XX.
Quá trình cai trị của thực dân Pháp làm cho tình hình Việt Nam có nhiều biến đổi,
đặc biệt xã hội ngày càng phân hóa. Do đó, phong trào cách mạng Việt Nam theo
khuynh hướng tư sản theo thời gian cũng có sự khác nhau về đặc điểm.
Trước hết phải thấy rằng, giai cấp tư sản Việt Nam hình thành về cơ bản không
phải do sự phát triển của sức sản xuất xã hội trong sự vận động tự thân của lịch sử Việt
Nam mà do chính quá trình xâm lược và thống trị của Pháp. Ngay từ đầu các yếu tố tư
bản ở Việt Nam đã mang tính “ngoại nhập”. Những xí nghiệp, hầm mỏ, đồn điền, các
hoạt động công-thương nghiệp ở Việt Nam, phần lớn đều bị tư sản Pháp thao túng. Hơn
thế nữa, với tính cách tư bản tài chính là ít chú trọng đầu tư hạ tầng mà chủ yếu là sử
dụng hình thức đổ vốn vào việc khai thác và bóc lột thuộc địa với phương châm “một
vốn bốn lời”, thì nền kinh tế tư bản ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX què cụt
hơn nhiều ở các nước tư bản công nghiệp.
Việc thực dân Pháp gán ghép chủ nghĩa tư bản một cách không đầy đủ vào Việt
Nam đã khiến cho giai cấp tư sản Việt Nam hình thành có những đặc điểm khác với tư
sản các nước phương Tây. Một đặc điểm đầu tiên là giai cấp tư sản Việt Nam hình
thành rất muộn: sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp (1897-1914). Trước
đó, tư sản Việt Nam đã xuất hiện nhưng chưa đủ điều kiện để hình thành một giai cấp.
nhiều hình thức phong phú lôi kéo quần chúng tham gia.
Những điều kiện nói trên, đặc biệt về giai cấp lãnh đạo sẽ quyết định rất nhiều tới
đặc điểm của khuynh hướng chính trị-tư tưởng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ
XX.
1.2. Các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ tư sản trước chiến
tranh thế giới thứ nhất
1.2.a. Phong trào Đông Du
Đây là cuộc vận động giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản do
Phan Bội Châu khởi xướng.
Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam
23
Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16
Phan Bội Châu xuất thân là một tri thức Nho học. Ông lớn lên có sự gắn bó mật
thiết với các phong trào yêu nước theo tư tưởng phong kiến trước đó. Lúc nhỏ, ông
thường cùng bạn bè chơi trò “bình Tây”. Khi Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất (1883),
ông thảo hịch “Bình Tây thu bắc” để kêu gọi nhân dân chống Pháp. Năm 1885, hưởng
ứng chiếu Cần Vương, ông lập “Đội Thí sinh quân”. “Tiếp đó là mười năm dạy học,
mở rộng giao du, tìm những người đồng tâm, đồng chí bí mật liên lạc với các dư đảng
Cần Vương…”
5
Trong buổi giao thời, tư tưởng dân chủ tư sản bên ngoài dội vào ngày càng nhiều.
Trong đó, gương tự cường của Nhật Bản theo chủ nghĩa dân chủ tư sản có sức hấp dẫn
lớn đối với các sĩ phu yêu nước tiến bộ. Nó giúp cho các sĩ phu khắc phục nhanh chóng
sự luyến tiếc chế độ phong kiến, cung cấp cho họ nhiều kiến thức mới về tư tưởng
chính trị và truyền cho họ ngọn lửa nhiệt tình cách mạng. Cả châu Á xuất hiện phong
trào “Châu Á bừng tỉnh”. Lúc này bất luận là cách mạng Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung
Quốc hay là cuộc đấu tranh chống Anh của Ấn Độ do Tilak lãnh đạo đều mang tính
quần chúng rộng rãi và thêm vào đó tính chất mới-tính chất tư sản. Điều đáng nói ở đây
là sự vùng lên của phong trào “Châu Á bừng tỉnh” đều có ảnh hưởng ít nhiều từ phong
trào Minh Trị Duy Tân (1868). Thành công của nước Nhật trên con đường cải cách và
thức quân sự. Phan Bội Châu cùng các đồng chí của ông lập ra Hội Việt Nam Công
Hiến (10/1907). Hội chú trọng tổ chức những buổi sinh hoạt chính trị giúp học sinh rèn
luyện tư tưởng, đạo đức cách mạng. Hệ thống tổ chức bố trí nhân sự và điều hành hoạt
động ở đây giống như một chính phủ lâm thời.
Cũng chính vào lúc này, Pháp nhận thấy sự phát triển của phong trào Đông Du
ngày càng gây bất lợi cho chúng. Pháp-Nhật câu kết nhau đàn áp cách mạng Việt Nam.
Tháng 9 năm 1908, Bộ Nội vụ Nhật hạ lệnh giải tán tổ chức học sinh Việt Nam, đuổi
học sinh ra ngoài nước Nhật. Phía Pháp ở Việt Nam bắt buộc các phụ huynh có con em
du học tại Nhật phải viết thư gọi về, nhiều người còn bị bắt giam. Tháng 2 năm 1909,
Phan Bội Châu và Cường Để cũng bị trục xuất khỏi Nhật.
Có thể khẳng định, Đông Du là hoạt động đầu tiên chống chủ nghĩa thực dân trên
nền tảng duy tân, đổi mới. Đây là một cuộc đổi mới từ tư duy yêu nước, cứu nước
truyền thống là bạo động để khôi phục độc lập dân tộc đã chuyển sang tư duy cải cách,
đề cao việc học tập tiến bộ. Xuất dương cầu học là một quyết định mang tính đột phá,
thay đổi hướng đi và phương pháp đấu tranh, mở cửa hướng ra bên ngoài để học hỏi,
tiếp nhận những cái mới cho phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Phan Bội
Châu, chính là con người với hoài bão cách tân, đứng trước bế tắc của lịch sử dân tộc
đã cố gắng đi tìm lời giải đáp: tự cường để cứu nước. Xuất phát điểm của Phan Bội
Châu chính là lòng yêu nước, thương dân-nền tảng vĩ đại đưa ông suốt cuộc đời phấn
6
Nguyễn Khánh Toàn (2004), Lịch sử Việt Nam, tập II (1958-1945), Nxb Khoa học xã hội, 144
Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam
25