Lời mở đầu
Thế giới này đang ở giai đoạn phát triển cao nhất của kinh tế thị trờng. Đặc
trng cơ của kinh tế thị trờng là sản xuất hàng hóa. Mà mục đích cuối cùng của sản
xuất hàng hoá là đem lại ngày càng nhiều lợi nhuận về cho sản xuất. Muốn vậy
nhà sản xuất (Tức doanh nghiệp) phải sản xuất ra đợc những sản phẩm có thể
thoả mãn cao nhất các nhu cầu về vật chất, văn hoá tinh thần của con ngời (Nhu
cầu tiêu dùng), với chu trình sản xuất nhanh nhất, rẻ nhất, thuận tiện nhất với chất
lợng cao, hình thức mẫu mã đẹp, hợp thi hiếu, đợc ngời tiêu dùng a chuộng. Và do
đó nhà sản xuất cũng đạt đợc mục đích thu lợi nhuận của mình.
Hơn bao giờ hết việc sản xuất, việc sản xuất hàng hóa của các nhà doanh
nghiệp bao giờ cũng bị chi phối bởi các quy luật tất yếu khách quan của kinh tế thị
trờng. Đó là các quy luật về giá trị, quy luật giá trị thặng d, quy luật cung, - cầu,
và quy luật cạnh tranh trên thị trờng.
Đất nớc Việt Nam ta đang phát triển ở những bớc ngoặc quan trọng trên con
đờng đổi mới dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh. Đại hội
toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ là:
Đẩy mạnh công cuộc đổi
mới toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản của Nhà nớc, theo định hớng Xã hội chủ
nghĩa.
Nh vậy là Đảng ta khẳng định việc phải thừa nhận các quy luật chung của
kinh tế thị trờng, coi chúng nh là một đòi hỏi tất yếu khách quan để thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế đất nớc. Do đó cạnh tranh và khát vọng lơi nhuận đã
thực sự trở thành động lực thôi thúc các doanh nghiệp tăng cờng đầu t đổi mới
thiết bị công nghệ, đầu t phát triển sản xuất để chiếm lĩnh thị trờng.
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế
quốc dân. Sự phát triển của nền kinh tế thể hiện ở cơ cấu vốn đầu t, lĩnh vực đầu t
và tốc độ đầu t cho xây dựng cơ bản. Sự hình thành và phát triển của các đơn vị
xây lắp là đòi hỏi tất yếu của việc phát triển của nền kinh tế đất nớc.
Trong nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trờng thì hệ thống kinh tế - tài
Tuy nhiên do thời gian và trình độ hiểu biết còn hạn chế em rất mong các
thầy,cô và các cô chú ở phòng kế toán xí nghiệp góp ý chỉ bảo để em hoàn thiện đ-
ợc tốt chuyên đề này.Trong chuyên đề này ngoài phần mở đầu và kết luận bao
gồm ba phần sau :
Phần I: lý luận chung về kế toán chi phí sản xuấ kinh doanh và tính giá
thành sản phẩm xây lắp ở doanh nghiệp xây lắp.
Phần II: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất kinh doanh và tính giá
thành sản phẩm xây lắp ở xí nghiệp Sông Đà 8.06.
Phần III: hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất kinh doanh và tính giá
thành sản phẩm xây lắp ở Xí nghiệp Sông Đà 8.06
2
Phần I
lý luận chung về kế toán chi phí sản xuấ kinh doanh và
tính giá thành sản phẩm xây lắp ở doanh nghiệp xây lắp
I. Đặc điểm hoạt động xây lắp có ảnh hởng đến kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1. Chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm xây lắp
1.1 Chi phí sản xuất kinh doanh và phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
1.1.1 Khái niệm và bản chất của chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá mà DN đã bỏ ra để tiến hành các HĐSXKD trong một
thời kỳ, một loại sản phẩm, một công trình, một hạng mục công trình nhất định .
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài ngời gắn liền với quá trình sản
xuất. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phơng thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự
vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất . Nói cách khác,
quá trình sản xuất hàng hoá là quá kết hợp của 3 yếu tố: t liệu lao động, đối tợng
lao động và sức lao động. Đồng thời, qua quá trình sản xuất hàng hoá cũng chính
là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên. Nh vậy, để tiến hành sản
xuất hàng hoá, ngời ta phải bỏ chi phí về thù lao lao động, về t liệu lao động và đối
tợng lao động. Vì thế, sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản
quản lý và hạch toán, cần thiết phải tiến hành phân loại CPSX. Xuất phát từ mục
đích và yêu cầu khác nhau của quản lý, CPSX cũng đợc phân loại theo những tiêu
thức khác nhau. Phân loại CPSX là việc sắp sếp theo CPSX vào từng loại, từng
nhóm khác nhau theo những đặc trng nhất định.
Xét về mặt lý luận cũng nh thực tế, có rất nhiều cách phân loại CP khác
nhau nh phân theo nội dung kinh tế, theo công dụng, theo vị trí, theo quan hệ của
chi phí với quá trình sản xuất Mỗi cách phân loại này đều đáp ứng ít nhiều cho
mục đích quản lí, hạch toán, kiểm tra, kiểm soát chi phí phát sinh ở các góc độ
khác nhau. Vì thế các cách phân loại đều tồn tại, bổ sung cho nhau và giữ vai trò
nhất định trong quản lý CPSX và giá thành sản phẩm. Sau đây là một số cách phân
loại đợc sử dụng phổ biến .
* Phân theo lĩnh vực hoạt động SXKD :
Căn cứ vào việc tham gia của chi phí vào HĐKD, toàn bộ chi phí đợc chia
làm ba loại:
- CPSXKD: bao gồm những chi phí liên quan đến HĐSX KD, tiêu thụ và quản lý
hành chính, quản trị kinh doanh .
- Chi phí hoạt động tài chính: gồm những chi phí liên quan đến hoạt động về vốn
và đầu t tài chính.
- Chi phí bất thờng: gồm những chi phí ngoài dự kiến có thể do chủ quan mang lại.
Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí đợc chính xác phục vụ
cho việc tính giá thành, xác định chi phí và kết quả của từng HĐ KD đúng đắn
cũng nh lập báo cáo tài chính nhanh chóng kịp thời.
* Phân theo yếu tố chi phí :
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu
đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh của chi
phí, chi phí đợc phân theo yếu tố. Về thực chất chỉ có 3 yếu tố chi phí là chi phí về
sức lao động, chi phí về đối tợng lao động và chi phí về t liệu lao động. Tuy nhiên,
để cung cấp thông tin về chi phí một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc xây
dựng và phân tích định mức vốn lu động, việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán
chi phí, các yếu tố chi phí trên có thể đợc chi tiết hoá theo nội dung kinh tế cụ thể
vụ nh tiền lơng, tiền công, các khoản phụ cấp. Riêng đối với hoạt động xây lắp,
chi phí này không bao gồm khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên quỹ lơng
nhân công trực tiếp của hoạt động xây lắp.
- Chi phí sử dụng máy thi công:
Chi phí sử dụng máy thi công là các hao phí về chi phí sử dụng xe, máy thi
công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình. Chi phí này bao gồm:
+ Chi phí nhân công: Là chi phí về tiền lơng lái máy phải trả cho nhân viên trực
tiếp điều khiển xe, máy thi công, chi phí này không bao gồm các khoản trích
BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên lơng của nhân viên trực tiếp điều khiển xe, máy
thi công. Khoản trích này phản ánh vào chi phí sản xuất chung.
+ Chi phí vật liệu: Dùng để phản ánh nhiên liệu (xăng, dầu, mỡ ) vật liệu
khác phục vụ xe máy thi công.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Dùng để phản ánh công cụ, dụng cụ liên quan đến
hoạt động của xe máy thi công.
+ Chi phí khấu hao máy thi công: Dùng để phản ánh khấu hao xe, máy thi công
sử dụng vào hoạt động xây lắp công trình.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài nh: thuê
ngoài sửa chữa xe, máy thi công, tiền mua bảo hiểm xe, máy thi công, tiền thuê
TSCĐ
+ Chi phí bằng tiền khác: Dùng để phản ánh các chi phí bằng tiền phục vụ cho
hoạt động xe, máy thi công, tiền chi cho lao động nữ.
5
- Chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là các chi phí sản xuất ngoại trừ chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công nh đã nói ở trên.
Theo hệ thống kế toán hiện hành ở Việt nam, chi phí sản xuất chung đợc tập
hợp theo các yếu tố chi phí sau:
+ Chi phí nhân viên phân xởng: Bao gồm các khoản tiền lơng, phụ cấp lơng,
phụ cấp lu động phải trả cho nhân viên quản lý đội công trình, khoản trích BHYT,
BHXH, KPCĐ đợc tính theo tỉ lệ (19%) quyđịnh hiện hành trên tiền lơng phải trả
xuất ra hoặc đợc mua; còn chi phí thời kỳ là những chi phí làm giảm lợi tức trong
một thời kỳ nào đó, nó không phải là một phần giá trị sản phẩm đợc sản xuất ra
hoặc đợc mua nên đợc xem là các phí tổn cần đợc khấu trừ ra từ lợi tức của thời kỳ
mà chúng phát sinh (Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp).
6
* Phân loại theo quan hệ của chi phí với khối lợng công việc, sản phẩm hoàn
thành:
Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và điều tra chi phí, đồng thời làm căn cứ
để đề ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh lại đợc
phân chia theo quan hệ với khối lợng công việc hoàn thành, theo cách này chi phí
đợc chia thành biến phí và định phí.
Biến phí là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỉ lệ so với khối lợng công
việc hoàn thành, nh chi phí về nguyên vật liệu, nhân công trực tiếp Cần l u ý rằng
các chi phí biến đổi nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì lại có tính cố định. Định
phí là những chi phí không đổi về tổng số so với công việc hoàn thành, nh các chi
phí về khấu hao TSCĐ, chi phí thuê mặt bằng, phơng tiện kinh doanh Các chi
phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì lại biến đổi nếu số lợng sản phẩm
thay đổi.
Ngoài cách phân loại phổ biến nói trên trong quá trình nghiên cứu, chi phí
còn có thể đợc phân loậi theo quan hệ với quá trình sản xuất (chia thành chi phí
trực tiếp và chi phí gián tiếp), theo khả năng kiểm soát (chi phí kiểm soát đợc và
chi phí không kiểm soát đợc)
Chi phí trực tiếp là những chi phí tự bản thân chúng có quan hệ trực tiếp tới
quá trình sản xuất và có thể chuyển trực tiếp cho sản phẩm hay đối tợng chịu chi
phí, còn chi phí gián tiếp là những chi phí chung, không phân định đợc cho từng
đối tợng nên cần phân bổ.
Chi phí kiểm soát đợc và chi phí không kiểm soát đợc là chi phí tuỳ thuộc
vào cấp quản lý đó đủ thẩm quyền ra quyết định về chi phí đó hay không. Thông
thờng, ở những cấp quản lý thấp do thẩm quyền có hạn nên mới có chi phí không
kiểm soát đợc phát sinh.
Chi phí sản xuất dở dang
đầu kỳ
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
A B C
Tổng giá thành sản pẩm
D
Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Qua sơ đồ ta thấy: AC = AB + BD - CD
Hay: Tổng giá Chi phí sản Chi phí sản Chi phí sản
thành = xuất dở dang + xuất phát sinh - xuất dở dang
sản phẩm đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ
Khi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kỳ và cuối kỳ
bằng nhau hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng sản phẩm
bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
Nh vậy, giá thành sản phẩm là một phạm trù sản xuất hàng hoá, phản ánh l-
ợng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi ra
cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những
chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất tiêu thụ phải đợc
bồi hoàn để tái sản suất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát
sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi phí đa vào giá thành sản
phẩm phải phản ánh đợc giá trị thực của các t liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất,
tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan đến việc bù đắp giản đơn hao phí
lao động sống. Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúng các yếu tố giá
trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá - tiền tệ,
không xác định đợc hiệu quả kinh doanh và không thực hiện đợc tái sản xuất giản
đơn và tái sản xuất mở rộng.
1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm:
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành
cũng nh yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành đợc xem xét dới nhiều góc
độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Về lý luận cũng nh trên thực tế, ngoài các
dung kinh tế, mục đích công dụng riêng đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh nhằm mục đích hạ thấp chi phí và giá thành sản phẩm để đạt lợi nhuận tối
đa .
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm là biểu hiện hai mặt của cùng quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh, chúng giống nhau về chất vì đều là chi phí, nhng lại khác nhau về lợng do
có sự khác nhau về giá trị sản phẩm làm dở đầu kỳ và cuối kỳ. Sự khác nhau đó
thể hiện ở công thức tính giá thành nh sau:
Tổng giá Chi phí sản Chi phí sản Chi phí sản
thành = xuất dở dang + xuất phát sinh - xuất dở dang
sản phẩm đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ
Nh vậy chi phí sản xuất luôn gắn liền với từng thời kỳ phát sinh chi phí, còn
giá thành lại gắn liền với khối lợng công trình, hạng mục công trình đã hoàn
thành, công việc lao vụ đã sản xuất. Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan
tới những sản phẩm đã hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm dở dang
9
cuối kỳ, còn giá thành sản phẩm không liên quan tới chi phí sản xuất của sản
phẩm dở dang cuối kỳ nhng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở
dang của kỳ trớc chuyển sang.
Tóm lại: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau vì nội dung cơ bản của chúng đều là biểu hiện bằng tiền của những chi
phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất. Sự tiết kiệm hay lãng phí
của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh hởng trực tiếp đến giá thành sản
phẩm hạ hay cao. Quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất.
II. Kế toán chi phí sản xuất kinh doanh và tính gía thành sản
phẩm xây lắp
1. Kế toán chi phí sản xuất kinh doanh
1.1. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh và phơng pháp tập hợp chi
phí sản xuất kinh doanh
1.1.1. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh
cấu kiện hoặc các bộ phận rời, vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực thể
sản phẩm xây lắp hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối lợng xây lắp
nh: gạch, gỗ, cát, đá, sỏi, xi măng
Chi phí NVL thờng chiếm khối lợng lớn trong giá thành công trình xây
dựng nên việc hạch toán chính xác các chi phí về vật liệu có tầm quan trọng đặc
biệt để xác định lợng tiêu hao vật chất trong sản xuất và đảm bảo tính chính xác
của giá thành công trình xây dựng.
Trong quá trình hạch toán chi phí vật liệu trực tiếp của hoạt động xây lắp kế
toán phải tôn trọng những nguyên tắc sau:
- Các loại vật liệu sử dụng cho việc xây dựng hạng mục công trình nào thì phải
tính trực tiếp cho hạng mục công trình đó, trên cơ sở các chứng từ gốc có liên
quan theo số lợng thực tế đã sử dụng và theo giá thực tế xuất kho.
- Cuối kỳ hạch toán hoặc khi công việc đã hoàn thành phải tiến hành kiểm kê số
vật liệu lĩnh về cha sử dụng hết ở các công trờng, bộ phận sản xuất để ghi giảm chi
phí vật liệu trực tiếp sử dụng cho công trình, đồng thời phải tổ chức hạch toán và
đánh giá đúng đắn giá trị phế liệu thu hồi (nếu có) theo từng đối tợng sử dụng.
Chi phí thực tế Trị giá NVL Trị giá NVL Trị giá phế
NVL trực tiếp = xuất đa - còn lại cuối kỳ - liệu thu hồi
trong kỳ vào sử dụng cha sử dụng (nếu có)
b/. Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 621- Chi phí NL,VL trực tiếp. Tài khoản này đợc mở chi tiết theo
từng công trình, hạng mục công trình.
c/. Định khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh:
- Khi mua vật liệu, công cụ dụng cụ về nhập kho ghi:
Nợ TK: 152, 153 (Giá cha có thuế GTGT)
Nợ TK: 133 - Thuế GTGT đợc khấu trừ
Có TK: 111,112,331 - Tổng giá thanh toán
- Khi xuất NVL phục vụ cho sản xuất kinh doanh, kế toán ghi:
11
trình, hạng mục công trình nào thì phải hạch toán trực tiếp cho công trình, hạng
mục công trình đó trên cơ sở các chứng từ gốc về lao động và tiền lơng nh: Bảng
chấm công, hợp đồng làm khoán, bảnh thanh toán lơng.
- Ngoài việc tập hợp tiền lơng theo các đối tợng sử dụng lao động kế toán còn
phải phân loại tiền lơng theo thành phần, quỹ lơng nh: Lơng sản phẩm, lơng thời
gian, các khoản phụ cấp
- Các khoản trích theo lơng tính trên tiền lơng phải trả công nhân trực tếp thi
công( BHXH, BHYT, KPCĐ ) không đợc tính vào chi phí nhân công trực tiếp mà
đợc hạch toán vào chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp.
b/. Tài khoản sử dụng :
Tài khoản 622 - Chi phí nhân công trực tiếp.
Trong hoạt động xây lắp tài khoản này đợc mở chi tiết theo từng công trình,
hạng mục công trình.
c/. Định khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
12
- Căn cứ vào khối lợng công việc thực hiện, đơn giá tiền lơng tính trên lơng phải
trả cho công nhân trực tiếp tham gia thi công, kế toán ghi:
Nợ TK: 622 - Chi phí nhân công trực tiếp.
Có TK: 334 - Phải trả công nhân viên.
Khi thanh toán lơng kế toán ghi sổ:
Nợ TK: 334 - Phải trả công nhân viên.
Có TK: 111, 112
- Đối với tiền công phải trả cho công nhân thuê ngoài , kế toán ghi:
Nợ TK: 622 - Chi phí nhân công trực tiếp.
Có TK: 111, 112
- Tạm ứng chi phí nhân công để thực hiện giá trị khoán xây lắp nội bộ (trờng hợp
đơn vị nhận khoán không tổ chức hạch toán kế toán riêng). Khi bản quyết toán
tạm ứng về giá trị khối lợng xây lắp đã hoàn thành bàn giao, đợc duyệt thì riêng
phần chi phí nhân công trực tiếp kế toán sẽ ghi:
Nợ TK: 622 - Chi phí nhân công trực tiếp.
- Không hạch toán vào Tài khoản 623 các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính
trên lơng của công nhân vận hành máy thi công.
b/ Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 623 - Chi phí sử dụng máy thi công
c/. Định khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh:
Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công phụ thuộc vào hình thức sử dụng
máy thi công: tổ chức đội máy thi công riêng biệt chuyên thực hện các khối lợng
thi công bằng máy hoặc giao máy thi công cho các đội, xí nghiệp xây lắp.
* Trờng hợp không tổ chức đội máy thi công riêng, hoặc tổ chức đội máy thi công
nhng không tổ chức kế toán riêng thì đợc hạch toán nh sau:
- Căn cứ vào tiền lơng, tiền công phải trả cho công nhân điều khiển xe máy phục
vụ thi công, kế toán ghi:
Nợ TK: 623 - Chi phí sử dụng máy thi công (6231)
Có TK: 334 - Phải trả công nhân viên
- Khi xuất kho NVL, nhiên liệu, công cụ dụng cụ dùng cho xe, máy thi công, kế
toán ghi:
Nợ TK: 623 - Chi phí sử dụng máy thi công (6232, 6233)
Có TK:152,153
Có TK: 142 - Chi phí trả trớc.
+ Trờng hợp mua NVL, nhiên liệu, công cụ dụng cụ trực tiếp cho máy thi công,
kế toán ghi:
Nợ TK: 623 - Chi phí sử dụng máy thi công (6232, 6233)
Nợ TK: 133 - Thuế GTGT đợc khấu trừ
Có TK: 111, 112, 331
- Chi phí khấu hao xe, máy thi công sử dụng ở đội máy thi công, kế toán ghi:
Nợ TK: 623 - Chi phí sử dụng máy thi công (6234)
Có TK: 241 - Hao mòn tài sản cố định
Đồng thời ghi Nợ TK: 009 - Nguồn vốn khấu hao cơ bản.
- Trờng hợp tạm ứng chi phí máy móc thi công thực hiện khoán xây lắp nội bộ,
khi bản quyết toán tạm ứng về xây lắp hoàn thành đã bàn giao đợc duyệt, kế toán
- Trờng hợp chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều đối tợng xây lắp khác
nhau thì kế toán tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tợng có liên
quan theo phơng thức phân bổ thích hợp .
- Trong doanh nghiệp xây lắp có nhiều khoản chi phí có liên quan đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của nhiều kỳ hạch toán nh chi phí phải trả về thuê nhà xởng;
công cụ dụng cụ xuất dùng một lần với giá trị lớn; chi phí nghiên cứu, thí nghệm,
chi phí sửa chữa lớn TSCĐ phát sinh một lần quá lớn nên ch a thể tính hết vào chi
phí sản xuất kinh doanh xây lắp trong kỳ, mà đợc tính vào nhiều kỳ hạch toán tiếp
theo. Vì vậy, việc tính và phân bổ các khoản chi phí này phải căn cứ vào tính chất,
mức độ từng loại chi phí mà lựa chọn phơng pháp và tiêu thức phù hợp.
b/. Tài khoản sử dụng:
Tài khoản: 627-Chi phí sản xuất chung, tài khoản này có 6 tài khoản cấp 2:
Tài khoản: 6271- Chi phí nhân viên đội sản xuất
Tài khoản: 6272- Chi phí nguyên vật liệu
Tài khoản: 6273- Chi phí công cụ dụng cụ sản xuất
Tài khoản: 6274- Chi phí khấu hao TSCĐ
Tài khoản: 6277- Chi phí dịch vụ mua ngoài
Tài khoản: 6278- Chi phí bằng tiền khác
c/. Định khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh:
- Khi tính tiền lơng, tiền công, các khoản phụ cấp phải trả cho đội xây dựng; tiền
ăn giữa ca của nhân vên quản lý đội công trình, của công nhân xây lắp, trích
BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lơng phải trả công nhân
trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý đội (thuộc
biên chế của doanh nghiệp), kế toán ghi:
Nợ TK: 627 - Chi phí sản xuất chung.
Có TK: 334 - Phải trả công nhân viên .
Có TK: 338 - Phải trả phải nộp khác (3382, 3383, 3384)
- Tạm ứng chi phí để thực hiện giá trị khoán xây lắp nội bộ (trờng hợp đơn vị
nhận khoán không tổ chức hạch toán kế toán riêng) khi bản quyết toán về giá trị
khối lợng xây lắp hoàn thành đã bàn giao đợc duyệt, kế toán ghi:
chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung cho các công trình, hạng mục công
trình, kế toán ghi:
Nợ TK: 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang (1541)
Có TK: 627 - Chi phí sản xuất chung
2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh. Kết chuyển đánh giá sản
phẩm dở dang
2.1. Tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh
Sau khi đã tập hợp đầy đủ chi phí phát sinh trong kì kế toán căn cứ vào đối t-
ợng hạch toán chi phí và phơng pháp hạch toán chi phí đã xác định tơng ứng. Cuối
kỳ kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí
sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung cho từng hạng mục công trình.
Tài khoản sử dụng : TK 154 Chi phí kinh doanh dở dang tài khoản này đ-
ợc dùng để tập hợp chi phí sản xuất và xác định giá thành sản phẩm hoàn thành.
Kết cấu tài khoản :
Trình tự hạch toán :
Cuối kỳ kế toán tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh
16
TK 154
Tæng hîp c¸c chi phÝ
ph¸t sinh trong kú
- Ghi gi¶m chi phÝ s¶n xuÊt
- Gi¸ thµnh s¶n phÈm hoµn thµnh
D nî: chi phÝ s¶n xuÊt
KD cuèi kú
+ KÕt chuyÓn chi phÝ nguyªn vËt liÖu trùc tiÕp
Nî TK 154 : Chi phÝ s¶n xuÊt kinh doanh dë dang
(chi tiÕt cho tõng c«ng tr×nh, h¹ng môc c«ng tr×nh )
Cã TK 621 : Chi phÝ nguyªn vËt liÖu trùc tiÕp
+ KÕt chuyÓn chi phÝ nh©n c«ng trùc tiÕp
Nî TK 154 : Chi phÝ s¶n xuÊt kinh doanh dë dang
thầu và bên giao thầu. Nếu qui định thanh toán sản phẩm xây lắp theo điểm dừng
kĩ thuật hợp lý thì sản phẩm dở dang là các khối lợng xây lắp cha đạt tới điểm
dừng kĩ thuật hợp lý đã qui định của hạng mục công trình đó, cho các giai đoạn
còn dở dang theo dự toán của chúng.
2.1.1. Phơng pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí dự toán
Phơng pháp này đợc áp dụng trong trờng hợp đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và
đối tợng tính giá thành trùng nhau. Theo phơng pháp này, chi phí thực tế của khối
lợng xây lắp dở dang cuối kỳ đợc xác định theo công thức :
Chi phí cho khối l-
ợng xây lắp dở
dang cuối kỳ
=
Chi phí dở dang
đầu kỳ
Giá dự toán của
LK xây lắp đã
hoàn thành
+
+
Chi phí SX phát
sinh trong kỳ
Giá dự toán của
KL xây lắp cha
hoàn thành
x
Giá dự toán KL xây
lắp cha hoàn thành
18
2.2.2. Phơng pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo tỉ lệ hoàn thành tơng đơng
Phơng pháp này áp dụng với việc đánh giá sản phẩm làm dở của công tác
công trình đã hoàn thành; các khối lợng xây lắp có dự toán thiết kế riêng đã hoàn
thành (gọi chung là sản phẩm xây lắp)
Trong tròng hợp các doanh nghiệp xây lắp có tổ chức thêm phân xởng sản
xuất phụ (sản xuất vật liệu, cung cấp lao vụ, dịch vụ) thì đối tợng tính giá thành là
các dơn vị sản phẩm, lao vụ, dịch vụ cung cấp. Khi xác định đơn vị tính cũng phải
xem xét trong trờng hợp cụ thể nhng phải sử dụng những đơn vị đợc thừa nhận
phổ biến trong nền kinh tế quốc dân.
3.1.2. Kỳ tính gía thành
Cùng với việc xác định đối tợng tính giá thành sản phẩm, xác định kỳ tính
giá thành thích hợp sẽ giúp cho việc tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm đợc
hợp lý, chính xác, khoa học; đảm baỏ cung cấp số liệu về giá thành thực tế của sản
phẩm kịp thời, phát huy đầy đủ chức năng giám đốc tình hình thực hiện kế hioạch
hạ giá thành sản phẩm của kế toán.
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành phải hoàn thành cộng
việc tính giá thành cho các đối tợng tính giá thành. Để xác định kỳ tính giá thành
cho thích hợp, kế toán phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản phẩm vào chu kỳ sản
xuất sản phẩm của doanh nghiệp.
Trờng hợp sản xuất sản phẩm có khối lợng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn và xen
kẽ liên tục thì kỳ tính giá thành thích hợp là hàng thánh - vào thời điểm cuối
tháng.
Trờng hợp tổ chức sản xuất đơn chiếc hoặc theo đơn đặt hàng, chu kỳ sản
xuất dài, sản xuất chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳ sản xuất dài, sản xuất chủ
19
hoàn thành khi kết thúc chu kỳ sản xuất thì kỳ tính giá thành thích hợp là thời
điểm mà sản phẩm đã hoàn thành.
Nh vậy kỳ tính giá thành trong trờng hợp này không phù hợp với kỳ báo cáo.
Căn cứ vào đặc điểm riêng của ngành xây dựng cơ bản là sản phẩm mang
tính chất đơn chiếc, thời gian thi công dài, mỗi sản phẩm đều có thiết kế, dự toán
riêng nên kỳ tính giá thành trong xây dựng cơ bản thờng là đối với những loại sản
phẩm, sản phẩm theo đơn đặt hàng có thời gian sản xuất dài, công việc đợc coi là
(hạng mục Tổng giá thành kế hoạch phẩm đó
công trình) của nhóm sản phẩm
b/. Phơng pháp hệ số:
Phơng pháp hệ số đợc sử dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng
một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lợng lao động
20
nhng thu đợc đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng
cho từng loại sản phẩm đợc mà phải tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất. Tuy
nhiên theo phơng pháp này phải xác định đợc hệ số hợp lý chính xác cho từng sản
phẩm:
Tổng chi phí của nhóm sản phẩm Hệ số
Giá thành sản phẩm = x từng
Tổng hệ số của nhóm sản phẩm sản phẩm
c/. Phơng pháp tính giá thành giản đơn:
Theo phơng pháp này, giá thành sản phẩm đợc tính bằng cách căn cứ trực
tiếp vào chi phí sản xuất đã tập hợp đợc (theo đối tợng tập hợp chi phí) trong kỳ và
giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ, cuối kỳ để tính. Do vậy còn gọi là phơng pháp
tính giá thành trực tiếp:
Tổng giá Chi phí sản Chi phí sản Chi phí sản
thành = xuất dở dang + xuất phát sinh - xuất dở dang
sản phẩm đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ
21
phần II
thực trạng kế toán chi phí sản xuất kinh doanh và
tính gía thành sản phẩm xây lắp ở xí nghiệp Sông Đà 8.06
I. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức công tác
kế toán của Xí nghiệp Sông Đà 8.06
1. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp Sông đà 8.06
Xí nghiệp Sông đà 8.06 đợc thành lập tiền thân từ Công ty xây lắp thi công
tế độc lập, đợc mở Tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng đầu t và phát triển Ninh Bình
và đợc sử dụng con dấu theo mẫu quy định của Nhà nớc.Xí nghiệp có trụ sở chính
đóng tại: Phờng Thanh châu - Thị xã Phủ lý - Tỉnh Hà nam.
22
1.2. Chức năng, nhiệm vụ của xí nghiệp
Doanh nghiệp xây lắp là các tổ chức kinh tế có t cách pháp nhân và có đủ
điều kiện để thực hiện những công việc có liên quan đến quá trình xây dựng và lắp
đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình nh: đội xây dựng, xí nghiệp xây
dựng, công ty lắp máy, công ty phát triển đô thị Các đơn vị này tuy khác nhau về
quy mô sản xuất, hình thức quản lý nhng đều là những tổ chức hạch toán kinh tế
có chức năng nhận thầu xây lắp các công trình xây dựng cơ bản.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây lắp có những đặc
điểm sau:
- Chủ yếu là thực hiện các hợp đồng đã ký với đơn vị chủ đầu t khi trúng thầu
hoặc đợc chỉ định thầu. Trong đó hai bên đã thống nhất với nhau về giá trị thanh
toán của công trình cùng với các điều kiện khác cho nên tính chất hàng hoá của
sản phẩm xây lắp không đợc thể hiện rõ và nghiệp vụ bàn giao công trình, hạng
mục công trình Hoàn thành bàn giao cho bên giao thầu chính là quá trình tiêu
thụ sản phẩm xây lắp.
- Trong ngành xây lắp, việc sản xuẩt ra những sản phẩm nào, tiêu chuẩn
chất lợng, kỹ thuật ra sao đã đợc xác định cụ thể, chi tiết trong hồ sơ thiết kế kỹ
thuật đợc duyệt. Doanh nghiệp xây lắp phải chịu trách nhiệm trớc chủ đầu t về kỹ
thuật, chất lợng xây lắp công trình. Doanh nghiệp xây lắp phải có bộ phận kiểm
tra kỹ thuật và chất lợng để thực hiện các công tác quản lý kỹ thuật và chất lợng
xây lắp công trình theo thiết kế đợc duyệt nhằm đảm bảo thời gian sử dụng lâu dài
của sản phẩm xây lắp.
- Sản phẩm xây lắp là những công trình, vật kiến trúc... có quy mô lớn, kết
cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian xây dựng dài, có khi từ 5 đến 7 năm.
Trong điều kiện đó, không thể chờ cho đến khi xây dựng xong mới tính toán kết
quả và thanh toán đợc mà phải tiến hành hàng tháng, quý, năm. Điều đó đòi hỏi
- Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có thể là
các công trình, hạng mục công trình xây lắp, các giai đoạn công việc có điểm
dừng kỹ thuật, các khối lợng xây lắp có giá trị dự toán riêng.
- Phơng pháp tập hợp chi phí: Tuỳ theo điều kiện cụ thể, có thể vận dụng
các phơng pháp tập hợp trực tiếp hoặc phân bổ gián tiếp
- Phơng pháp tính giá thành thờng dùng là phơng pháp trực tiếp hay tỉ lệ,
phơng pháp định mức hoặc theo đơn đặt hàng
- Cấu tạo giá thành sản phẩm xây lắp: xuất phát từ đặc điểm của phơng
pháp lập dự toán trong xây dựng cơ bản. Dự toán đợc lập theo từng công trình,
hạng mục công trình và đợc phân tích theo từng khoản mục chi phí. Để có thể so
sánh, kiểm tra chi phí sản xuất xây lắp thực tế phát sinh với dự toán, chi phí sản
xuất xây lắp đợc phân loại theo các khoản mục chi phí sau đây:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
+ Chi phí nhân công trực tiếp.
+ Chi phí sử dụng máy thi công.
+ Chi phí sản xuất chung.
- Giá thành hạng mục công trình hoặc công trình hoàn thành toàn bộ là giá
thành sản phẩm cuối cùng của sản xuất xây lắp.
- Việc xác định công tác xây lắp dở dang cuối kỳ phụ thuộc vào phơng thức
thanh toán khối lợng xây lắp hoàn thành đã ký giữa xí nghiệp xây lắp với bên giao
thầu.
Các nội dung khác của việc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp
xây lắp nh tổ chức ghi chép ban đầu, tổ chức hệ thống sổ kế toán, kiểm tra kế toán,
phân tích hoạt động kinh tế, tổ chức bộ máy kế toán... nói chung giống với các
ngành khác.
1.3.2. Mô hình tổ chức bộ máy của xí nghiệp
Xuất phát từ đặc điểm sản xuất, chức năng, nhiệm vụ của Xí nghiệp Sông
Đà 806, mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Xí nghiệp đợc bố trí theo mô hình
trực tuyến. Theo mô hình này Giám đốc xí nghiệp là ngời chịu trách nhiệm cao
nhất trong xí nghiệp về hoạt động sản xuất kinh doanh, về bảo toàn và phát triển
Phòng
KTKH
Phòng
TCKT
Đội
18-1
Đội
18-2
Đội
18-3
Đội
18-4
Đội
Mỹ
đình