Tài liệu TRIỆU CHỨNG HỌC - Pdf 89


TRIỆU CHỨNG HỌC
**********
TÁO BÓN
……….., tháng … năm …….
TRIỆU CHỨNG HỌC
**********
TÁO BÓN
Táo bón là tình trạng giảm tần số đi cầu. Ở một số người, táo bón còn có
nghĩa là khó đi cầu.
Phân của người bị táo bón cứng do nó có chứa ít nước hơn bình thường. Táo
bón là một triệu chứng, không phải là một bệnh.

Thông thường rất khó định nghĩa táo bón một cách rõ ràng do nó là một triệu
chứng có tính chất thay đổi khác nhau ở những người khác nhau.
• Tần số đi cầu ở mỗi người có một sự khác nhau rất lớn, từ 3 lần mỗi
ngày đến 3 lần mỗi tuần. Thông thường, nếu bạn không đi cầu được
trong 3 ngày liên tiếp, phân sẽ cứng lại và bạn sẽ cảm thấy khó khăn,
thậm chí đau đớn khi đi cầu.
• Có một quan niệm sai lầm thường gặp về táo bón cho rằng những chất
thải chứa trong cơ thể bạn sẽ bị hấp thu ngược trở lại và gây nguy
hiểm cho sức khỏe của bạn, có thể làm tuổi thọ của bạn ngắn đi. Một
số người có một nỗi ám ảnh rằng họ sẽ bị nhiễm độc bởi những chất
thải từ chính cơ thể của mình (phân) nếu họ giữ chúng lại lâu quá một
khoảng thời gian nhất định nào đó. Cả hai quan niệm trên đều không
đúng.
• Những người lớn tuổi có nguy cơ bị táo bón cao gấp 5 lần những
người trẻ. Nhưng những chuyên gia lại cho rằng do những người lớn
tuổi trở nên quá quan tâm đến tình trạng đi cầu mỗi ngày của mình và
tình trạng táo bón ở lứa tuổi này được đánh giá cao hơn mức bình
thường.

• Lạm dụng thuốc nhuận trường: sử dụng thuốc nhuận trường theo thói
quen sẽ dần dần trở nên phụ thuộc chúng.
o Cuối cùng bạn có thể sẽ cần phải gia tăng lượng thuốc đưa vào
cơ thể mới có thể đi cầu được.
o Trong một số trường hợp, ruột sẽ trở nên không còn nhạy cảm
với thuốc nữa và không thể đi cầu được.
• Mang thai : táo bón xuất hiện trong thai kỳ có thể do một số nguyên
nhân. Mỗi một tình trạng được kể ra ở phía sau có thể gây đau khi đi
cầu có thể dẫn đến sự co thắt phản ứng của cơ vòng hậu môn. Sự co
thắt này làm chậm nhu động ruột và giảm sự thôi thúc muốn đi cầu để
tránh cho hậu môn không bị đau.
o Thai nhi nặng đè vào ruột tạo ra áp lực.
o Những thay đổi hormon trong thai kỳ.
o Những thay đổi về thức ăn và thức uống của thai phụ.
o Nứt hậu môn
o Trĩ
o Hẹp hậu môn
• Tắc ruột: sự đè nén cơ học làm ngăn cản các chức năng bình thường
của ruột có thể xảy ra theo những cách sau:
o Sự viêm dính của các mô.
o Khối u ruột hoặc dị vật
o Sỏi mật bị chèn bất động vào trong ruột.
o Sự xoắn của ruột vào chính nó.
o Lồng ruột: một phần của ruột bị trượt hoặc bị kéo vào một phần
khác ngay phía dưới nó (xảy ra chủ yếu ở trẻ em)
o Thoát vị: các vòng ruột bị tắt nghẽn.
o Tổn thương các dây thần kinh bên trong ruột: u tủy sống, đa xơ
cứng hoặc tổn thương tủy sống có thể gây táo bón do ngăn cản
chức năng của các dây thần kinh điều khiển ruột.
o Bệnh mô liên kết - chẳng hạn như các bệnh xơ cứng bì và

Hãy đi khám bệnh nếu như bạn gặp những vấn đề sau:
• Các triệu chứng trở nên nặng nề và kéo dài hơn 3 tuần.
• Xuất hiện những thay đổi rõ rệt và gần đây trong tình trạng đi cầu,
chẳng hạn như chuyển từ táo bón thành tiêu chảy.
• Đau ở hậu môn khi đi cầu.
• Triệu chứng của các bệnh khác kèm theo táo bón (VD như mệt mỏi,
kém đáp ứng với trời lạnh có thể là dấu hiệu gợi ý cần phải kiểm tra
chức năng tuyến giáp xem có bị suy giáp không).
• Táo bón trong vòng 2 tuần hoặc lâu hơn kèm theo đau bụng có thể là
dấu hiệu của ngộ độc chì.
Tình trạng cấp cứu: mặc dù táo bón có thể rất khó chịu nhưng nó thường
không nghiêm trọng. Tuy nhiên nó có thể là dấu hiệu của những rối loạn
nghiêm trọng hơn ẩn phía sau, chẳng hạn như ung thư ruột. Do táo bón có
thể dẫn đến một số biến chứng nên bạn cần phải đến phòng cấp cứu ngay khi
gặp những tình huống sau:
• Chảy máu trực tràng
• Đau hậu môn và trĩ
• Nứt hậu môn hoặc đường nứt xuất hiện ở lớp niêm mạc (đau nặng nề
khi đi cầu ở vùng hậu môn)
• Phân đóng chặt ở những trẻ nhỏ và người già.
• Sa trực tràng (đôi khi gắng sức có thể gây một lượng nhỏ niêm mạc
ruột đi ra ngoài lỗ hậu môn có thể chế tiết chất nhầy làm dơ quần lót).
• Nôn ói nhiều lần kèm theo táo bón và đau bụng (có thể là dấu hiệu gợi
ý tắc nghẽn ở ruột và cần phải được điều trị khẩn cấp).
KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

Bác sĩ có thể sẽ hỏi bạn một số câu hỏi, khám cho bạn, và thực hiện một số
xét nghiệm để tìm ra những nguyên nhân khả dĩ có thể gây ra táo bón cho
bạn.
• Những câu trả lời của bạn cho các câu hỏi sau có thể sẽ giúp bác sĩ

nào?
o Bạn có bị đau khớp, bệnh về mắt, đau lưng và cổ, hoặc những
thay đổi về da hay không?
o Bạn có thường cảm thấy thích khí hậu ấm hơn không?
o Bạn có thường cảm thấy mệt mỏi không?
o Có người thân nào của bạn bị táo bón hoặc ung thư ruột không?
• Bác sĩ sẽ khám bụng, hậu môn, và những hệ cơ quan khác của cơ thể
bao gồm hệ thần kinh, tuyến giáp (tìm bướu cổ), và hệ cơ xương. Bác
sĩ sẽ khám những phần nào là tùy thuộc vào những câu trả lời của bạn
ở phía trên và những tiền sử có thể gợi ý ra một số bệnh.
• Bác sĩ sẽ quyết định xem cần phải thực hiện loại xét nghiệm nào dựa
trên các triệu chứng, bệnh sử, và kết quả khám. Những xét nghiệm sẽ
giúp bác sĩ tìm ra được nguyên nhân thật sự của vấn đề. Những xét
nghiệm thường được dùng nhất có thể bao gồm:
o Trong phòng thí nghiệm:
 Khám nghiệm phân dưới kính hiển vi.
 Công thức máu toàn bộ và phết máu.
 Xét nghiệm chức năng tuyến giáp nếu như nghi ngờ suy
giáp.
o Hình ảnh:
 Chụp phim X quang ngực và bụng thẳng có thể cho thấy
khí tự do đi qua từ lỗ thủng ở ruột hoặc những dấu hiệu
tắc nghẽn ở ruột.
 Thụt tháo bằng barit: có thể cho thấy kích thước bình
thường của ruột già.
 Quan sát sự di chuyển của thức ăn - có thể chỉ ra được
khoảng thời gian chuyển tiếp bị kéo dài hoặc chậm trễ.
o Thủ thuật:
 Soi trực tràng xích ma: có thể giúp phát hiện những bệnh
trong trực tràng và phần thấp của đại tràng. Bác sĩ sẽ đưa

kéo dài có thể gây tổn thương lớp niêm mạc ruột và những đầu tận của
các dây thần kinh đi đến ruột.
• Cố gắng tập thể dục mỗi ngày chẳng hạn như tập tư thế gập gối.
Những tư thế này có thể gây kích thích nhu động ruột. Giữ tư thế đó
trong vòng từ 10 - 15 phút. Thở vào và ra sâu.
Tư thế gập gối
Thuốc
Nếu những biện pháp ban đầu phía trên thất bại, bác sĩ có thể cho bạn thử
dùng những loại thuốc nhuận trường có thời gian tác dụng ngắn. Bạn cần
phải hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng một trong những loại thuốc sau, đặc
biệt là nếu sử dụng trong thời gian dài.
• Dầu khoáng.
• Natri docusate hoặc Canxi docusate sẽ có ích nếu như bạn không thể
rặn được, chẳng hạn như trong trường hợp bạn bị bệnh tim mạch, có
thai, hoặc sau phẫu thuật đường tiêu hóa.
• Thuốc nhuận trường là nước muối, chẳng hạn như hydroxide magne
(Phillips Milk của Magnesia) hoặc Natri phosphate ((Phospho-Soda,
Fleet enema) không được khuyến khích sử dụng nếu như bạn bị suy
thận (thận không có khả năng hoặc giảm khả năng loại bỏ chất thải).
Những loại thuốc nhuận trường này có thể gây ra những tác dụng phụ
nặng nề nếu sử dụng trong thời gian dài.
• Polyethylene glycol 3350 (Miralax) là một loại thuốc nhuận trường
thẩm thấu không được dạ dày hấp thu. Nó giữ nước lại bên trong ruột
làm cho phân mềm ra và có tác dụng nhuận trường. Nó có thể được sử
dụng trong một thời gian ngắn để điều trị táo bón (trong vòng 2 tuần).
Miralax là một loại thức uống được pha chế bằng cách hòa lẫn bột với
240mL nước.
• Đường không hấp thu chẳng hạn như lactulose và sorbitol cũng có thể
có tác dụng. Hơn nữa, chúng thường có thể sử dụng được trong một
thời gian dài. Tuy nhiên chúng thường gây ra đau quặn bụng, tiêu

theo dõi thường xuyên để bảo đảm họ không bị những đợt tiếp theo.
• Những người trẻ tuổi bị chứng biếng ăn thần kinh cần phải có một đội
ngũ chuyên gia để tiếp cận và theo dõi những bệnh ẩn bên trong, cũng
như hỗ trợ và giáo dục.
Phòng ngừa
• Tập thói quen đi cầu thường xuyên. Dành một khoảng thời gian sau
khi ăn sáng để đi cầu.
• Không bỏ qua khi cơ thể có nhu cầu muốn đi cầu. Hãy đáp ứng lại
tiếng gọi của cơ thể để làm trống ruột càng sớm càng tốt.
• Ăn một bữa ăn cân bằng dinh dưỡng bao gồm ngũ cốc, trái cây tươi,
rau quả. Có những nghiên cứu gần đây cho thấy việc gia tăng chất xơ
trong bữa ăn có thể có ích cho một số người bị phân cứng nhưng
không nhất thiết phải có ích cho tất cả những người bị táo bón.
• Uống nhiều nước và nước trái cây.
• Tập thể dục thường xuyên. Đi bộ đóng một vai trò đặc biệt quan
trọng.
• Tránh dùng những loại thuốc có thể gây táo bón. Bác sĩ sẽ giúp bạn
trong vấn đề này.
• Dùng thuốc nhuận trường có thể làm trong tình trạng táo bón xấu đi
về lâu dài do đó cần phải tránh.
• Nếu bạn có những bệnh đặc biệt như suy giáp, xơ cứng bì, và lupus,
bạn có thể cần phải được tái khám thường xuyên.
Tiên lượng
Phần lớn những người bị táo bón không có bệnh thực thể của hệ tiêu hóa từ
trước và cũng không có những bệnh toàn thân nào có liên quan đến táo bón.
Hầu hết táo bón là do thói quen ăn uống không cân bằng, uống ít nước và ít
vận động.
• Đối với những người bị táo bón do bệnh, sự phục hồi sẽ giúp xác định
mức độ bệnh của bạn.
• Bạn thường sẽ phục hồi tốt nếu tình trạng táo bón của bạn được gây ra

đường dẫn khí hoặc phổi đều có thể gây ho mạn tính nếu bệnh
nhân phải tiếp tục tiếp xúc với chúng. Khói thuốc lá là nguyên
ngân gây ho mạn tính thường gặp nhất. Những chất kích thích
gây ho khác bao gồm: bụi, phấn hoa, các vảy từ da hoặc lông
vật nuôi trong nhà, những chất đặc hiệu, các hóa chất và chất
gây ô nhiễm công nghiệp, khói thuốc từ xì gà và tẩu thuốc và
độ ẩm của môi trường thấp.
o Bên trong phổi cũng có những nguyên nhân ít gặp và thường
gặp gây ho mạn tính. Những nguyên nhân thường gặp bao gồm
hen phế quản, khí phế thũng, và viêm phế quản mạn tính.
Những nguyên nhân ít gặp hơn gây ho mạn tính của phổi là ung
thư, sarcoidosis, những bệnh của nhu mô phổi, và suy tim sung
huyết kèm tích tụ dịch mạn tính trong phổi.
o Đường nối phổi với môi trường bên ngoài được gọi là đường hô
hấp trên. Viêm xoang mạn tính, chảy nước mũi sau mạn tính,
những bệnh của ống tai ngoài, nhiễm trùng họng, và sử dụng
thuốc ức chế men chuyển để điều trị tăng huyết áp đều có thể
liên quan đến tình trạng ho mạn tính.
o Ngoài những bệnh diễn tiến trong phổi và các đường dẫn khí,
những bệnh nằm ở các nơi khác trong lồng ngực cũng có thể
gây ho mạn tính. Những bệnh bên trong ngực được xác định là
nguyên nhân gây ho mạn tính bao gồm: ung thư, sự phát triển
bất thường của các hạch lympho, sự lớn bất thường của động
mạch chủ, là mạch máu chính xuất phát từ tim.
o Một nguyên nhân hay bị bỏ qua là bệnh trào ngược dạ dày thực
quản (GERD). GERD xảy ra khi acid từ dạ dày đi lên thực quản
gây kích thích thực quản và thanh quản gây phản ứng ho.
TRIỆU CHỨNG
Tuy rằng chính bản thân ho đã là một triệu chứng, nhưng bệnh nhân còn có
những triệu chứng khác đi kèm giúp phân biệt nguyên nhân gây ho. Một yếu

cùng lúc với ho và thường đỡ ho hơn khi dùng các thuốc
corticoid đường xịt hoặc đường uống hoặc những thuốc dạng
xịt khác.
o Nếu cơn ho gây ra bởi viêm xoang mạn tính, chảy nước mũi
mạn tính, hoặc chảy nước mũi sau mạn tính, bạn thường sẽ có
những dấu hiệu và triệu chứng đi chung với những bệnh trên.
Bạn cũng có thể nhận thấy cơn ho của mình nặng nề hơn khi
bệnh nặng hơn và cơn ho thường đỡ hơn khi những bệnh trên
được điều trị.
o Nếu triệu chứng ho gây ra bởi thuốc, chẳng hạn như thuốc ức
chế men chuyển, bạn có thể sẽ bắt đầu ho sau khi bắt đầu sử
dụng những loại thuốc nghi ngờ. Thường là ho khan và đỡ hơn
khi ngừng thuốc.
o Ho do bệnh trào ngược dạ dày thực quản thường đi kèm với
cảm giác nóng rát dọc theo ngực. Loại ho này nặng hơn trong
ngày hoặc khi bạn đang nằm ngửa trên mặt phẳng. Ngoài ra,
một số ít người bị ho do GERD sẽ không cảm thấy có những
triệu chứng của trào ngược, nhưng hầu hết bệnh nhân đều đỡ ho
hơn khi triệu chứng trào ngược được điều trị hợp lý.
o Nếu triệu chứng ho là dấu hiệu báo động của ung thư, bạn có
thể gặp một nhóm các triệu chứng. Nếu là ung thư phổi hoặc
ung thư đường dẫn khí, bạn có thể bị ho ra máu. Những dấu
hiệu và triệu chứng khác có thể là báo động của ung thư bao
gồm mệt mỏi ngày càng nặng hơn, ăn mất ngon, sụt cân không
rõ nguyên nhân, hoặc giảm khả năng nuốt những thức ăn cứng
hoặc lỏng.
KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM BỆNH
Biết được lúc nào nên đi khám bệnh do triệu chứng ho có thể là một quyết
định khó khăn.
• Thông thường, bạn nên gặp bác sĩ nếu gặp những triệu chứng sau:

điều trị nào tại nhà mà bạn đã thử.
• Trong trường hợp ho cấp tính, các bác sĩ có thể chẩn đoán đơn giản
bằng cách hỏi bệnh và thực hiện các thao tác khám. Nếu bạn bị ho cấp
tính, thường bạn sẽ được chụp X quang để giúp bác sĩ chẩn đoán
bệnh. Những người lớn tuổi, những người có hệ miễn dịch bị suy yếu
(thường là do ung thư, đái tháo đường, hoặc AIDS), và những người
được các bác sĩ phát hiện ra âm thanh bất thường trong phổi khi khám
có thể cần phải chụp X quang để kiểm tra xem có bị viêm phổi hay
không.
• Trong trường hợp ho mạn tính, các bác sĩ thường dựa trên những
thông tin thu được trong quá trình hỏi bệnh và khám để đưa ra các
khảo sát cận lâm sàng phù hợp để giúp chẩn đoán bệnh. Nhiều bệnh
nhân sẽ được chụp X quang ngực để tìm nguyên nhân. Ngoài ra, một
số khảo sát khác có thể được thực hiện theo phán đoán của bác sĩ và
dựa trên quá trình hỏi bệnh và khám.
• Điều quan trọng là bạn nên đóng vai trò chủ động trong nhiệm vụ tự
chăm sóc mình và trao đổi với bác sĩ mục đích của những xét nghiệm
được thực hiện và ý nghĩa những kết quả của chúng.
ĐIỀU TRỊ
Tại nhà
Điều trị ho tại nhà thường nhắm trực tiếp đến điều trị những nguyên nhân
gây ra.
• Nếu bạn bị ho cấp tính và không phải đến bác sĩ, bạn có thể thử dùng
các loại thuốc cảm bán không cần toa để làm giảm triệu chứng. Nếu
nghi ngờ bị cảm cúm, những loại thuốc này có thể làm triệu chứng
thuyên giảm cho đến khi tình trạng nhiễm trùng tự hồi phục. Những
cơn ho cấp tính có nguyên nhân dị ứng thường khỏi với những thuốc
chống dị ứng, và ho do những chất kích ứng từ môi trường sẽ đỡ hơn
khi giảm tiếp xúc với chúng.
• Điều trị tại nhà đối với tình trạng ho mạn tính với nguyên nhân đã

được đáp ứng của cách điều trị này do cần phải có đủ thời gian
cho các tổn thương ở phổi và đường dẫn khí hồi phục.
o Nếu bạn bị bệnh phổi, bạn thường cần phải được điều trị kéo
dài những bệnh này. Những phương pháp được sử dụng để điều
trị tùy thuộc phần lớn vào loại bệnh mà bạn mắc phải. Thường
cần phải dùng nhiều phương pháp trị liệu cùng một lúc để giúp
làm giảm các triệu chứng của bệnh nhân. Theo sát cách điều trị
được lựa chọn là điều kiện cần thiết để làm chậm diễn tiến của
bất kỳ loại bệnh nào và làm giảm triệu chứng. Trong trường
hợp điều trị tại nhà không hiệu quả và các triệu chứng ngày
càng nặng hơn, bạn có thể cần phải nhập viện để được điều trị
tăng cường và tích cực hơn.
o Nếu triệu chứng ho của bạn được cho là do thuốc gây ra, bạn sẽ
cho thấy có sự cải thiện khi ngừng sử dụng loại thuốc đang bị
nghi ngờ. Khi đó, triệu chứng ho thường mất vài tuần để khỏi
hoàn toàn. Bạn cần phải dùng một loại thuốc khác để thay thế
loại thuốc mà bạn đã ngừng.
o Nếu nghi ngờ bạn bị ho do GERD, hướng điều trị của bạn có
thể sẽ nhắm trực tiếp vào giảm lượng acid trào ngược từ dạ dày.
Điều này thông thường được thực hiện bằng cách thay đổi chế
độ ăn và thuốc. Để điều trị thành công có thể cần nhiều thời
gian và phối hợp nhiều cách điều trị.
CÁC BƯỚC TIẾP THEO
Theo dõi
Những trường hợp ho cấp tính thường tự khỏi và không cần phải theo dõi.
Nhiều trường hợp ho mạn tính phải mất vài tuần đến vài tháng để thuyên
giảm mặc dù đã theo sát các phương pháp điều trị, do đó cần phải sắp xếp
lịch theo dõi trong khoảng thời gian này. Đối với những cơn ho không
thuyên giảm khi điều trị bằng những phương pháp chuẩn, có thể bệnh nhân
sẽ được chuyển đến các bác sĩ chuyên khoa để tìm ra nguyên nhân và cách

• Mất ngủ kéo dài 1 tuần trở xuống được gọi là mất ngủ thoáng qua.
• Mất ngủ ngắn hạn là mất ngủ kéo dài hơn 1 tuần nhưng khỏi trước 3
tuần.
• Mất ngủ dài hạn hoặc mất ngủ mạn tính là mất ngủ kéo dài hơn 3
tuần.
Mất ngủ cũng có thể được phân loại dựa vào nguyên nhân gây mất ngủ
chẳng hạn như vệ sinh giấc ngủ, bệnh tật, rối loạn giấc ngủ, áp lực v.v...
Ngoài ra cũng cần phân biệt giữa mất ngủ và một số tình trạng tương tự: ngủ
ít và thiếu ngủ.
• Ngủ ít có thể là tình trạng bình thường ở một số người chỉ cần ngủ
trong một thời gian ngắn hơn người khác nhưng không cảm thấy mệt
mỏi vào ban ngày (là triệu chứng chủ yếu trong định nghĩa mất ngủ).
• Những người mất ngủ là những người có đủ thời gian và cơ hội để
ngủ còn những người thiếu ngủ là những người không ngủ được do
thiếu cơ hội hoặc thời gian để ngủ do tránh né giấc ngủ một cách có
chủ tâm.
NGUYÊN NHÂN
Mất ngủ có nhiều nguyên nhân và, như đã nói ở trên, nó có thể được phân
loại dựa trên nguyên nhân gây mất ngủ.
Những áp lực và tình huống gây mất ngủ có thể bao gồm:
• Sự mệt mỏi sau một chuyến bay dài.
• Những sự khó chịu do nguyên nhân vật lý (nóng, lạnh, ánh sáng, tiếng
ồn, lạ chỗ).
• Làm việc theo những ca khác nhau
• Những tình huống gây stress trong cuộc sống (ly dị hoặc chia tay,
người yêu bị chết, mất việc, chuẩn bị cho một kỳ thi).
• Dùng những thuốc bất hợp pháp
• Hút thuốc
• Uống cafe trước khi lên giường
• Nhiễm độc hoặc cai nghiện rượu

• Nghiện
• Lo lắng
• Rối loạn stress sau sang chấn.
Một số tình trạng sinh lý có thể dẫn đến mất ngủ như:
• Mãn kinh
• Kinh nguyệt
• Có thai
• Sốt
• Đau
Một số nguyên nhân gây mất ngủ khác có thể liên quan đến rối loạn giấc ngủ
bao gồm:
• Mộng du
• Ngừng thở lúc ngủ
• Hội chứng chân không nghỉ (cảm giác râm ran ở chân khi ngủ, giảm
đi bằng cách cử động chân)
• Rối loạn vận động chân theo chu kỳ (lập lại những cử động chân
không tự ý trong khi ngủ)
• Rối loạn giờ ngủ (không thể ngủ được do rối loạn đồng hồ sinh học)
Những nguyên nhân khác
Ngoài những tình trạng kể trên, còn có một số loại mất ngủ khác không thật
sự có nguyên nhân. Dưới đây là một số loại mất ngủ thường gặp trong nhóm
này:
• Mất ngủ do tâm sinh lý hay còn gọi là mất ngủ nguyên phát là loại
mất ngủ do hành vi ngăn trở giấc ngủ. Những người bị tình trạng này
không thể thư giãn được đầu óc (suy nghĩ lan man) hoặc gia tăng chức
năng tâm thần khi cố gắng chìm vào giấc ngủ. Đây có thể trở thành
vấn đề lâu dài và việc đi lên giường sẽ gắn liền với gia tăng mức độ lo
lắng và khuấy động tâm thần dẫn đến mất ngủ mạn tính. Tình trạng
này có thể hiện diện ở khoảng 15% người tham gia những nghiên cứu
chính thức về giấc ngủ để đánh giá tình trạng mất ngủ mạn tính.

• Nhức đầu
• Mắc lỗi và sai lầm nhiều hơn
Khi nào nên gọi bác sĩ
Thông thường, những trường hợp mất ngủ liên quan đến những yếu tố tình
huống thoáng qua có thể tự khỏi khi các yếu tố gây ra bị loại bỏ hoặc điều
chỉnh. Tuy nhiên, cần phải có sự đánh giá của bác sĩ nếu như mất ngủ kéo
dài hoặc bị cho rằng có liên quan đến một bệnh hoặc một bất thường tâm lý.
Cũng có những bác sĩ chuyên khoa đánh giá và điều trị mất ngủ và những rối
loạn giấc ngủ khác. Ngưng thở lúc ngủ có thể được đánh giá và điều trị bởi
bác sĩ chuyên khoa hô hấp. Những bác sĩ khác có thể đánh giá và điều trị
những rối loạn giấc ngủ là các bác sĩ chuyên khoa thần kinh.
CHẨN ĐOÁN
Quá trình đánh giá và chẩn đoán mất ngủ có thể bắt đầu bằng việc hỏi bệnh
sử và tâm lý. Như đã nói ở trên, nhiều tình trạng bệnh và trạng thái tâm lý có
thể là thủ phạm gây mất ngủ.
Việc khám thực thể tổng quát để tìm ra những bất thường cũng rất quan
trọng bao gồm tìm hiểu trạng thái tâm thành và chức năng thần kinh, khám
tim, phổi, bụng, tai, mũi và họng, đánh giá đánh giá chu vi cổ và kích thước
thắt lưng. Kiểm tra những loại thuốc dùng thường ngày và những loại thuốc
bất hợp pháp, rượu, thuốc lá hoặc cafe cũng là một phần quan trọng trong
quá trình khám. Xét nghiệm máu hoặc những xét nghiệm khác thích hợp với
những tình trạng trên cũng có thể được khảo sát.
Người thân trong gia đình và người ngủ cùng giường cũng cần được hỏi về
chu trình ngủ của bệnh nhân, hiện tượng ngáy hoặc những cử động trong khi
ngủ.
Một số câu hỏi liên quan đến thói quen và chu kỳ ngủ cũng là một phần quan
trọng để chẩn đoán. Bệnh sử về giấc ngủ tập trung vào những điểm sau:
• Độ dài giấc ngủ
• Thời điểm ngủ
• Thời điểm chìm vào giấc ngủ

máy bay lâu, sắp phải thi thì triệu chứng mất ngủ sẽ khỏi khi những tình
huống này không còn.
Thông thường, điều trị mất ngủ có thể được chia ra làm 2 loại: không dùng
thuốc hoặc điều chỉnh hành vi và loại dùng thuốc. Cả 2 cách đều cần thiết để
điều trị mất ngủ thành công, và nếu kết hợp lại với nhau có thể đem lại hiệu
quả cao hơn là sử dụng riêng lẻ từng cách.
Khi mất ngủ liên quan đến những tình trạng tâm lý hoặc bệnh tật đã được
biết, ưu tiên hàng đầu là giải quyết chúng kèm theo với những biện pháp

Trích đoạn NHỮNG NGUYÊN NHÂN THƯỜNG GẶP NHỮNG CÂU BẠN CÓ THỂ HỎI BÁC SĨ KHI NÀO CẦN ĐẾN SỰ CAN THIỆ PY KHOA
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status