Giải pháp nhằm mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt tại AGribank Ba Đình - Pdf 89

LỜI NÓI ĐẦU
Tổng kết lịch sử phát triển kinh tế của các nước trên thế giới trong thời kỳ
hiện đại ta thấy rằng một nền kinh tế không thể phát triển mạnh nếu hệ thống ngân
hàng của nó không phát triển. Sự lớn mạnh của các NHTM là điều kiện cần để một
nền kinh tế có thể phát triển một cách ổn định và bền vững. Một trong những chức
năng của NHTM đó là chức năng trung gian thanh toán. Chức năng này được thể
hiện thông qua công tác thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng. Lịch sử
cho thấy, nền kinh tế phát triển càng mạnh thì thanh toán dưới hình thức thanh toán
không dùng tiền mặt càng chiếm tỷ trọng lớn, càng được nhiều người ủng hộ bởi
những tiện ích tuyệt vời do nó mang lại và sự ưu việt của nó so với hình thức thanh
toán bằng tiền mặt. Trong tương lai, cùng với sự phát triển của xã hội ta thấy rằng
thanh toán không dùng tiền mặt có xu hướng phổ biến trên toàn thế giới và là một
hình thức thanh toán chủ yếu của các xã hội văn minh.
Từ năm 1989 trở lại đây, nền kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng với tốc
độ cao, được các chuyên gia kinh tế dự báo sẽ tiếp tục phát triển ổn định trong
khoảng thời gian sắp tới, với khối lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được sản xuất
và tiêu thụ ngày càng lớn. Điều đó đồng nghĩa với sự phát triển mạnh của hoạt động
trao đổi giữa các chủ thể của nền kinh tế mà biểu hiện là sự gia tăng mạnh mẽ của
quy mô thanh toán trong nền kinh tế. Ở nước ta hiện nay việc thanh toán giá trị sản
phẩm chủ yếu vẫn bằng tiền mặt. Tuy nhiên, việc thanh toán bằng tiền mặt có rất
nhiều hạn chế như: chi phí thanh toán, chi phí chuyên trở, bảo quản, kiểm đếm rất
tốn kém cả về thời gian và tiền bạc. Bên cạnh đó, theo yêu cầu của sự phát triển và
xu hướng của thời đại mới thì nhu cầu về thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng
lớn. Do đó, các NHTM với vai trò trung gian thanh toán phải nắm bắt được xu
hướng phát triển đó và phải có các giải pháp hữu hiệu để mở rộng thanh toán không
dùng tiền mặt.
NHNo&PTNT Ba Đình ra đời năm 1996 là một chi nhánh trực thuộc
NHNo&PTNT Hà Nội, mang đầy đủ tính chất và đặc thù của một NHTM.
NHNo&PTNT Ba Đình kể từ khi ra đời đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển
của kinh tế Thủ đô nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, do một
Trang 1

nhất, tiền mặt có thể được hiểu là những thứ có thể sử dụng trực tiếp để thanh toán
các giao dịch và bao gồm cả tiền gửi ngân hàng. Như vậy, trong trường hợp này
khái niệm tiền mặt được dùng để chỉ dạng có khả năng thanh toán cao nhất của tài
sản, bao gồm các đồng tiền do Ngân hàng Trung ương phát hành ra và được công
chúng giữ để chi tiêu, tiền gửi ở tài khoản vãng lai hay tài khoản tiền gửi không kỳ
hạn, có thể rút ra bất cứ lúc nào bằng cách viết séc. Đối với các NHTM khái niệm
tiền mặt bao gồm các đồng tiền cất trong két sắt và số dư của họ tại Ngân hàng
Trung ương. Do được dùng với nhiều nghĩa khác nhau như vậy, nên khi gặp khái
niệm này, chúng ta phải lưu ý xem nó được dùng theo nghĩa nào trong một khung
cảnh nhất định (Từ điển kinh tế học).
Tiền mặt- là hình thức tiền tệ, theo đó, trong thời gian giao dịch, chức
năng lưu thông và cất trữ giá trị được thực hiện mà không cần sự tham gia của các
định chế tài chính trung gian đặc thù.
Thanh toán, trong các mối quan hệ kinh tế, được hiểu một cách khái quát
nhất là việc thực hiện chi trả bằng tiền giữa các bên trong những quan hệ kinh tế
nhất định. Tiền ở đây được hiểu là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc
thanh toán để nhận hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.
Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán trong đó không có
sự xuất hiện của tiền mặt mà việc thanh toán được thực hiện bằng cách trích chuyển
trên các tài khoản của các chủ thể liên quan đến số tiền phải thanh toán.
Thanh toán không dùng tiền mặt còn được định nghĩa là phương thức thanh
toán không trực tiếp dùng tiền mặt mà dựa vào các chứng từ hợp pháp như giấy nhờ
thu, giấy ủy nhiệm chi, séc… để trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản của đợn vị này
sang tài khoản của đợn vị khác ở ngân hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt gắn
với sự ra đời của đồng tiền ghi sổ.
1.2. Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt.
Sự ra đời của hình thức thanh toán không dùng tiền mặt gắn liền với sự ra
đời của đồng tiền ghi sổ và sự phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của hệ
thống ngân hàng. Sự tồn tại và lớn mạnh của hệ thống này đã tạo điều kiện cho cá
nhân và các tổ chức kinh tế mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng và thực hiện việc

và hiệu quả.
Thanh toán không dùng tiền mặt còn giúp tăng cường sự kiểm tra lẫn nhau
giữa các cá nhân, các tổ chức kinh tế. Một trong những phương cách để thẩm định
uy tín của một cá nhân, một tổ chức kinh tế làm ăn trên thị trường là việc xem xét
tình hình thực hiện việc thanh toán của họ với các đối tác.
Thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho ngân hàng giảm bớt nguy cơ mất
khả năng thanh toán.
Thanh toán không dùng tiền mặt làm tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn cho
nền kinh tế.
Thanh toán không dùng tiền mặt an toàn, thuận lợi, nhanh chóng và chính
xác.
Nâng cao sức cạnh tranh cho ngân hàng qua việc nâng cao chất lượng dịch
vụ thanh toán cho ngân hàng.
Tạo điều kiện cho Ngân hàng Trung ương tính toán và kiểm soát lượng tiền
cung ứng cần thiết cho nền kinh tế.
Tạo nguồn thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán.
Tạo nguồn vốn cho vay ngắn hạn.
Sự cần thiết của thanh toán không dùng tiền mặt còn thể hiện ở chỗ nó khắc
phục được các nhược điểm sau của thanh toán bằng tiền mặt:
+ Chi phí lớn trong việc in ấn, vận chuyển, kiểm đếm, bảo quản và thanh
toán.
+ Làm cho một phần vốn của nền kinh tế không vận động vì các chủ thể
thanh toán luôn phải giữ tiền bên mình.
+Làm cho Nhà nước gặp khó khăn trong việc kiểm soát tiền tệ dẫn đến các
hoạt động buôn lậu, rửa tiền, tham ô, tham nhũng khó bị kiểm soát tức là tạo điều
kiện cho sự phát triển của hoạt động kinh tế ngầm.
+ Không an toàn trong khi vận chuyển và bảo quản.
1.4. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị trường.
-Thanh toán không dùng tiền mặt được sử dụng rộng rãi trong mọi tầng lớp
dân cư ở nhiều quốc gia là một tất yếu khách quan do tính hiệu quả và thiết thực của

tốc độ quá trình tái sản xuất xã hội, nó là khâu đầu và cũng là khâu kết thúc của quá
trình sản xuất, nó liên quan đến toàn bộ quá trình lưu thông hàng hoá, tiền tệ của các
tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội.
- Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm soát
lạm phát. Thông qua việc khống chế tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ tái chiết khấu... ngân
hàng Trung ương gián tiếp điều hoà khối lượng tiền tệ cung ứng góp phần bảo đảm
cho nền kinh tế ở một mức độ ổn định. Căn cứ vào việc thanh toán luân chuyển tiền
tệ mà hoạch định các chính sách cần thiết. Với ý nghĩa to lớn đó, ở những quốc gia
có nền kinh tế phát triển người dân sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt như là
một thói quen văn hoá không thể thiếu được.
- Khi ngân hàng tăng được tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt cũng là
lúc ngân hàng thu hút được nhiều hơn nguồn vốn trong xã hội vào ngân hàng. Trên
cơ sở nguồn vốn tăng thêm đó ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng cho vay tăng vốn
cho nền kinh tế. Như vậy thanh toán không dùng tiền mặt vừa góp phần tăng nhanh
vòng quay vốn cho xã hội vừa góp phần tăng cường nhu cầu vốn cho xã hội. Nói
tóm lại nó đem lại lợi ích thiết thực cho xã hội tiết giảm chi phí lưu thông tạo điều
kiện cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả.
2. Trách nhiệm của các bên tham gia thanh toán không dùng tiền mặt.
* Ngân hàng:
+ Thực hiện cung cấp các hình thức thanh toán như séc, thẻ, ủy nhiệm thu, ủy
nhiệm chi, thư tín dụng…Để thực hiện công tác thanh toán không dùng tiền mặt, các
ngân hàng phải sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt được quy
định bởi pháp luật và được các trung tâm thanh toán chấp nhận. Một số hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt mà ngân hàng thường dùng là: séc, thẻ thanh toán,
ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thư tín dụng… Khi sử dụng các hình thức thanh toán
này, các ngân hàng phải thực hiện đúng với các yêu cầu về thời gian, thủ tục thanh
toán… theo như quy định về thanh toán không dùng tiền mặt đã được các cơ quan
có thẩm quyền ban hành. Ngân hàng có trách nhiệm cung cấp các hình thức thanh
toán không dùng tiền mặt mà ngân hàng đã cam kết thực hiện theo yêu cầu của
khách hàng.

Khách hàng thụ hưởng đồng thời là người bán có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và
kịp thời lượng hàng hóa, dịch vụ cho người mua, người trả tiền theo đúng quy cách,
chất lượng đã thỏa thuận trong hợp đồng.
3. Những hình thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện hành.
3.1. Hình thức thanh toán bằng séc.
Séc là một hình thức thanh toán quan trọng không thể thiếu được trong thanh
toán không dùng tiền mặt hiện nay. Mặc dù đã ra đời từ rất sớm và ngày càng có
nhiều công cụ thanh toán hiện đại nhưng thanh toán bằng séc vẫn giữ vị trí quan
trọng trong các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.
Séc là môt tờ lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập trên mẫu đã quy định
sẵn, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tiền từ tài khoản tiền gửi của mình để trả
cho người thụ hưởng có tên trên tờ séc hay người cầm tờ séc đó.
Séc là loại chứng từ thanh toán được áp dụng rộng rãi ở tất cả các nước trên
thế giới, quy định sử dụng séc đã được chuẩn hoá trên Công ước quốc tế.
Séc được sử dụng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ, nộp thuế, trả nợ… hoặc
được dùng để rút tiền mặt tại các chi nhánh ngân hàng. Tất cả các khách hàng mở tài
khoản tại ngân hàng đều có quyền sử dụng séc để thanh toán. Thời hạn hiệu lực của
séc, tùy theo quy định trước, thường là 15 ngày kể từ ngày chủ tài khoản phát hành
séc đến ngày người thụ hưởng nộp séc vào ngân hàng (gồm cả ngày chủ nhật và
ngày lễ). Trường hợp nếu ngày kết thúc thời hạn hiệu lực của tờ séc là ngày nghỉ,
ngày lễ thì thời hạn đó được lùi vào ngày làm việc kế tiếp.
Sau đây ta sẽ xem xét hai loại séc: Séc chuyển khoản và Séc bảo chi.
<1>. Séc chuyển khoản
Séc chuyển khoản là một tờ lệnh trả tiền của người phát hành séc đối với
ngân hàng phục vụ mình về việc trích một khoản tiền nhất định từ tài khoản của
mình để trả cho người được hưởng có tên trong tờ séc.
Séc chuyển khoản chỉ được áp dụng trong phạm vi thanh toán giữa các khách
hàng có tài khoản ở cùng một chi nhánh nhưng các chi nhánh này có tham gia giao
nhận chứng từ trực tiếp cho nhau theo quy định từ trước, thời gian hiệu lực của tờ
séc tối đa là 10 ngày làm việc. Khác với séc lĩnh tiền mặt, khi phát hành séc thanh

( Người thụ hưởng cũng có thể nộp trực tiếp bảng kê nộp séc kèm theo tờ séc vào
ngân hàng phục vụ người trả tiền để đòi tiền).
(3): Ngân hàng sẽ tiến hành kiểm tra ( Nếu lập bảng kê có gì sai sót hoặc có các tờ
séc không hợp lệ, quá thời hạn hiệu lực thanh toán thì từ chối thanh toán) sau đó
chuyển các tờ séc và bảng kê nộp séc cho ngân hàng phục vụ người trả tiền.
(4): Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của tờ
séc và số dư tài khoản tiền gửi của chủ tài khoản sẽ tiến hành trích tài khoản của
người trả tiền và báo Nợ cho họ.
(5): Ngân hàng phục vụ người trả tiền dùng các liên bảng kê nộp séc lập chứng từ
thanh toán bù trừ và chuyển cho ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để thanh toán
cho người thụ hưởng.
Người trả tiền Người thụ hưởng
Ngân hàng phục vụ
người trả tiền
Ngân hàng phục vụ người
thụ hưởng
2’
1
2
6
4
5
3
(6): Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng tiếp nhận các bảng kê nộp séc ( thông qua
thanh toán bù trừ ) sẽ ghi Có vào tài khoản cho người thụhưởng và báo cho họ.
<2>. Séc bảo chi
Séc bảo chi là một loại séc thanh toán được ngân hàng đảm bảo khả năng chi
trả bằng cách trích trước số tiền trên tờ séc từ tài khoản tiền gửi của người trả tiền
sang tài khoản " Đảm bảo thanh toán séc " nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của
tờ séc đó.

ngày một rộng rãi với các ưu thế nổi bật: an toàn, hiệu quả và đặc biệt thuận tiện
dưới sự trợ giúp của các thành tựu phát triển trong lĩnh vực công nghệ tin học
( UNC có thể được xử lý dưới dạng các chứng từ điện tử).
Đơn vị trả tiền sau khi nhận được hàng hoá, dịch vụ cung ứng, trong thời
gian nhất định phải lập các UNC gửi đến ngân hàng để trích tài khoản chuyển trả
cho đơn vị thụ hưởng. Tuỳ theo phạm vi và tổ chức thanh toán, đơn vị phải lập từ
3-4 liên với đâỳ đủ nội dung và các yếu tố cần thiết. Khi lập và nộp UNC vào ngân
hàng, đơn vị trả tiền phải đảm bảo đủ số dư trên tài khoản để đảm bảo chi trả. Nếu
chứng từ hợp lệ, tài khoản đủ tiền, trong phạm vi một ngày làm việc, ngân hàng phải
hoàn tất UNC đó. Nếu chứng từ không hợp lệ, hợp pháp, tài khoản không đủ số dư
thì ngân hàng không thanh toán.
- Quy trình thanh toán:
+ Trường hợp hai chủ thể mở tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau.
Người trả tiền Người thụ hưởng
Ngân hàng phục vụ người
trả tiền
Ngân hàng phục vụ người
thụ hưởng
21 3
2’
HH, DV

(1): Người trả tiền lập 4 liên UNC nộp vào ngân hàng phục vụ mình để trích tài
khoản của mình trả tiền cho người thụ hưởng.
(2): Ngân hàng kiểm tra thủ tục lập UNC, số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng,
nếu đủ điều kiện thanh toán thì tiến hành trích tài khoản tiền gửi của người trả tiền,
báo Nợ cho họ và chuyển tiền sang ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để thanh
toán cho người thụ hưởng.
(3): Khi nhận được chứng từ thanh toán do ngân hàng phục vụ người trả tiền chuyển
đến, ngân hàng phục vụ người thụ hưởng dùng các liên UNC để ghi Có vào tài

thụ hưởng gửi đến sẽ tiến hành ký tên, đóng dấu ghi vào sổ theo dõi UNT và gửi bộ
chứng từ này cho ngân hàng phục vụ người trả tiền.
(3): Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi nhận được bộ chứng từ sẽ kiểm tra
các yếu tố cần thiết và làm thủ tục trích tài khoản tiền gửi của bên trả tiền và báo Nợ
cho họ.
(4): Ngân hàng phục vụ người trả tiền chuyển tiền đến ngân hàng phục vụ người thụ
hưởng để thanh toán cho người thụ hưởng.
(5): Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng ghi Có vào tài khoản của người thụ hưởng
và báo Có cho họ.
Người trả tiền Người thụ hưởng
Ngân hàng phục vụ
người trả tiền
Ngân hàng phục vụ
người thụ hưởng
3
2
1 5
4
3.4. Hình thức thanh toán thư tín dụng(TTD)
TTD là hình thức thanh toán theo sự thoả thuận giữa hai bên bán và mua
trong điều kiện bên bán đòi hỏi bên mua phải có đủ tiền để chi trả phù hợp với giá
trị hàng hoá mà bên bán đã giao theo hợp đồng hay đơn đặt hàng đã ký.
TTD thường dùng để thanh toán giữa các khách hàng có tài khoản ở hai ngân
hàng khác nhau, có thể cùng hoặc khác hệ thống ( trường hợp khác hệ thống thì nơi
ngân hàng bên bán đóng trụ sở phải có ngân hàng cùng hệ thống với ngân hàng mở
TTD và tham gia thanh toán bù trừ với ngân hàng bên bán). Mỗi TTD chỉ được
dùng để thanh toán cho một người thụ hưởng. Thời hạn hiệu lực của một TTD là 3
tháng kể từ ngày ngân hàng bên mua nhận mở TTD. Mức tiền tối thiểu cuả một
TTD là 10 triệu đồng.
- Sơ đồ luân chuyển chứng từ thanh toán TTD

(6): Căn cứ vào bảng kê hoá đơn, chứng từ giao hàng, ngân hàng bên thụ hưởng lập
giấy báo Nợ liên hàng để ghi Nợ TK Liên hàng đi và gửi cho ngân hàng phục vụ
bên trả tiền để xin thanh toán.
(7): Ngân hàng phục vụ bên trả tiền tất toán tài khoản " Đảm bảo thanh toán TTD "
3.5. Hình thức thanh toán thẻ ngân hàng .
Thẻ thanh toán là một công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho
khách hàng của mình để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, thanh toán công nợ hay
lĩnh tiền mặt tại các ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả tiền mặt tự động.
Ở một số nước, các hãng hay các công ty kinh doanh lớn cũng phát hành thẻ thanh
toán để thu tiền bán hàng của mình. Thẻ thanh toán có nhiều loại nhưng có một số
loại thẻ sau được sử dụng phổ biến:
- Thẻ ghi Nợ: Người sử dụng loại thẻ này không phải lưu ký tiền vào tài khoản "
Đảm bảo thanh toán thẻ". Căn cứ để thanh toán thẻ là số dư tài khoản tiền gửi của
chủ sở hữu thẻ tại ngân hàng và hạn mức thanh toán tối đa do ngân hàng phát hành
thẻ quy định. Hạn mức của thẻ được ghi vào bộ nhớ của thẻ nếu là thẻ điện tử hoặc
được ghi vào dải băng từ nếu là thẻ từ.
Loại thẻ này áp dụng cho những khách hàng có quan hệ tốt, thường xuyên và
có tín nhiệm với ngân hàng.
- Thẻ ký quỹ thanh toán(thẻ loại B) : là loại thẻ mà để được sử dụng thẻ, khách hàng
phải lưu ký một số tiền nhất định vào tài khoản " Đảm bảo thanh toán thẻ" thông
qua việc tính tiền gửi hoặc nộp tiền mặt. Số tiền ký quỹ là hạn mức của thẻ và được
ghi vào bộ nhớ của thẻ. Thẻ này áp dụng rộng rãi cho mọi khách hàng.
- Thẻ tín dụng(thẻ loại C): áp dụng với những khách hàng có đủ điều kiện được
ngân hàng đồng ý cho vay tiền để mua thẻ. Mức tiền cho vay được coi như hạn mức
tín dụng và được ghi vào bộ nhớ của thẻ, khách hàng chỉ được thanh toán số tiền
trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được ngân hàng chấp thuận.
Thẻ thanh toán dù dưới hình thức nào cũng phải có đầy đủ các yếu tố: Tên chủ thẻ,
tên ngân hàng phát hành thẻ, số thẻ, nhãn hiệu thương mại và thời hạn sử dụng thẻ.
Trong thanh toán thẻ bao gồm các chủ thể sau:
- Ngân hàng phát hành thẻ: là ngân hàng bán thẻ cho khách hàng và chịu trách

(4): Cơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ lập bảng kê biên lai thanh toán và gửi cho ngân
hàng đại lý thanh toán để thanh toán.
(5): Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ với ngân hàng phát hành thẻ qua thủ tục thanh
toán giữa các ngân hàng.
Người sử dụng thẻ có thể rút tiền mặt nhưng mỗi lần không quá 5 triệu đồng
và mỗi ngày thẻ chỉ rút một lần. Nếu mất thẻ, người sử dụng phải thông báo ngay
bằng văn bản cho ngân hàng phát hành thẻ biết để thông báo cho ngân hàng đại lý
thanh toán thẻ báo cho cơ sở tiếp nhận thẻ biết. Khi sử dụng hết hạn mức hoặc hết
thời hạn sử dụng của thẻ, nếu có nhu cầu, người sử dụng thẻ phải đến ngân hàng
phát hành thẻ làm thủ tục sử dụng tiếp. Trong phạm vi 10 ngày làm việc, kể từ ngày
viết hoá đơn cung ứng hàng hoá, dịch vụ, người tiếp nhận thẻ phải nộp biên lai vào
ngân hàng đại lý để đòi tiền, nếu quá thời hạn trên, ngân hàng không chấp nhận
thanh toán. Trong phạm vi 1 ngày làm việc, kể từ khi nhận được biên lai thanh toán,
ngân hàng đại lý phải thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán thẻ.
Như vậy, ta thấy rằng thanh toán không dùng tiền mặtvới rất nhiều hình thức,
có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra là
trong công tác thanh toán còn một số tồn tại đòi hỏi ta phải xem xét tuỳ từng ngân
hàng cụ thể để có thể đưa ra những biện pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả của
công tác thanh toán không dùng tiền mặt.
4. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác thanh toán không dùng tiền mặt của
các ngân hàng thương mại.
4.1. Môi trường kinh tế vĩ mô.
Ngân hàng hoạt động trong nền kinh tế nên rất nhạy cảm với các yếu tố từ
môi trường kinh tế. Những biến động lớn của nền kinh tế có thể dẫn tới sự sụp đổ
của nhiều ngân hàng và ảnh hưởng thường mang tính hệ thống. Khi môi trường kinh
tế vĩ mô không ổn định, một mặt tác động trực tiếp tới thanh toán không dùng tiền
mặt, mặt khác ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng từ đó lại
tác động gián tiếp tới thanh toán không dùng tiền mặt.
Một nền kinh tế phát triển ổn định sẽ là môi trường thuận lợi cho sự phát
triển của thanh toán không dùng tiền mặt. Nền kinh tế phát triển mạnh, hàng hóa

kinh doanh nói chung và thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng của các ngân
hàng hiện nay. Công nghệ ngân hàng tiên tiến sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình
chu chuyển vốn xã hội , thu hút được nhiều hơn vốn nhàn rỗi trong dân cư phục vụ
cho việc đầu tư phát triển kinh tế, để đất nước tiến nhanh trên con đường công
nghiệp hoá hiện đại hoá .
Việc ứng dụng các thành tựu công nghệ tin học và tự động hóa vào thanh
toán sẽ đáp ứng được yêu cầu nhanh chóng, chính xác, an toàn và tiết kiệm được
chi phí trong thanh toán. Các hoạt động huy động, chi trả tiền gửi cho khách hàng và
thanh toán có thể được thực hiện trên các máy vi tính, vừa chính xác, an toàn lại vừa
nhanh chóng, tiện lợi. Các ngân hàng cũng có thể mở rộng các dịch vụ của mình qua
các mạng máy vi tính, đây là một cách tiếp cận, quảng bá và cung cấp các dịch vụ
ngân hàng tới hàng triệu người với chi phí rất thấp. Để mở rộng thanh toán không
dùng tiền mặt, các ngân hàng có thể đưa vào sử dụng hệ thống máy rút tiền tự động,
tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, …
Công nghệ hiện đại cho phép các ngân hàng vươn xa hơn ngoài trụ sở ngân
hàng, liên kết với nhau để cùng sử dụng mạng công nghệ,… Điều này tạo cơ hội
cho các ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ảnh hưởng lẫn nhau
nhiều hơn trong thanh toán không dùng tiền mặt và cả trong những mặt hoạt động
khác của ngân hàng.
Theo xu thế phát triển hiện nay, các thành tựu khoa học kỹ thuật mới nhất
luôn được ưu tiên ứng dụng vào lĩnh vực ngân hàng để sáng chế và đưa vào sử dụng
các phương tiện thanh toán hiện đại nhất , vừa đảm bảo thanh toán tức thì, vừa đảm
bảo chính xác, an toàn và bí mật.
Hiện nay, công nghệ ngân hàng đang được xem là một thứ vũ khí cực mạnh
trong cạnh tranh. Với chức năng trung gian thanh toán của mình các ngân hàng luôn
coi trọng cải tiến đổi mới công nghệ để hoàn thiện hệ thống thanh toán của mình,
bởi vì ai cũng ý thức được rằng, trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay,
công nghệ lạc hậu sẽ dẫn tới chỗ diệt vong.
4.4. Yếu tố con người.
Các ngân hàng với xu hướng ứng dụng khoa học kỹ thuật cao vào lĩnh vực

Khi các bên có nhu cầu thanh toán, chi trả ngân hàng sẽ đứng ra làm trung gian
thanh toán. Như vậy, giữa các chức năng của NHTM có mối liên hệ mật thiết với
nhau. Khi vai trò trung gian thanh toán làm tốt, khách hàng sẽ tin tưởng ngân hàng
và gửi tiền vào ngân hàng ngày càng nhiều nhờ thanh toán hộ, như thế, vốn ngân
hàng huy động được lại tăng lên, ngân hàng có thêm vốn để đáp ứng nhu cầu đi vay
và chức năng trung gian tài chính của ngân hàng lại càng được phát huy. Với chức
năng trung gian thanh toán và trung gian tài chính trong nền kinh tế quốc dân hệ
thống các NHTM đã tăng khối lượng tiền tệ lên gấp bội thông qua cơ chế thanh toán
chuyển khoản. Điều này đã làm cho các chức năng của NHTM ngày càng liên hệ
chặt chẽ với nhau. Sự phát triển của mỗi chức năng sẽ thúc đẩy các chức năng khác
phát triển theo. Do đó, hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng sẽ ảnh hưởng lớn tới
thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng.
4.6 Yếu tố tâm lý.
Tâm lý cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới thanh toán không dùng
tiền mặt. Con người là những sinh vật có ý thức. Hoạt động ý thức diễn ra trong bộ
não người, một dạng tổ chức đặc biệt của vật chất. Tâm lý là toàn bộ nói chung sự
phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức con người, bao gồm nhận thức, tình
cảm, ý chí... biểu hiện trong hoạt động và cử chỉ của mỗi người. Tâm lý cũng chính
là nguyện vọng, ý thích, thị hiếu,... của mỗi người. Tâm lý hình thành nên thói quen,
tập quán,... Như vậy, mỗi hành vi ứng xử của con người, trong đó có việc thanh toán,
đều chịu tác động của yếu tố tâm lý.
Tâm lý lại chịu tác động rất lớn từ môi trường con người sống và làm việc:
- Trong một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu con người của nó có xu hướng thích
tiền mặt, do đó thanh toán không dùng tiền mặt là không phổ biến, từ đó hạn chế tới
thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng. Ngược lại, trong một nền sản
xuất lớn, hiện đại, nhận thức được lợi ích và tầm quan trọng của việc thanh toán
bằng không dùng tiền mặt, do đó thanh toán không dùng tiền mặt ở trong trường
hợp này rất phát triển.
- Một nền kinh tế ngầm sôi động sẽ khuyến khích con người sử dụng tiền mặt
nhiều hơn trong thanh toán vì lý do bí mật và an toàn cá nhân.

của NHNo&PTNT Ba Đình.
Năm 2003 là năm thứ 3 thực hiện nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX, Đảng bộ quận Ba Đình lần thứ XXII, năm bản lề thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội 5 năm (2001 - 2005). Từ đầu năm 2003, Đảng bộ chính quyền thành
phố nói chung, Quận Ba Đình nói riêng đã xác định nhiệm vụ trong năm là rất nặng
nề, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, tình hình trong nước và quốc tế diễn biến
hết sức phức tạp: Chiến tranh IRắc, dịch bệnh SARS…. , Quận Ba Đình được lựa
chọn thực hiện nhiều chương trình của thành phố. Song với nỗ lực của Đảng bộ,
chính quyền và nhân dân trong quận, sự hợp tác giúp đỡ chặt chẽ của các cấp, các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status