LỜI NÓI ĐẦU
Tổng kết lịch sử phát triển kinh tế của các nước trên thế giới trong thời
kỳ hiện đại ta thấy rằng một nền kinh tế không thể phát triển mạnh nếu hệ
thống ngân hàng của nó không phát triển. Sự lớn mạnh của các NHTM là điều
kiện cần để một nền kinh tế có thể phát triển một cách ổn định và bền vững.
Một trong những chức năng của NHTM đó là chức năng trung gian thanh
toán. Chức năng này được thể hiện thông qua công tác thanh toán không dùng
tiền mặt của các ngân hàng. Lịch sử cho thấy, nền kinh tế phát triển càng
mạnh thì thanh toán dưới hình thức thanh toán không dùng tiền mặt càng
chiếm tỷ trọng lớn, càng được nhiều người ủng hộ bởi những tiện ích tuyệt
vời do nó mang lại và sự ưu việt của nó so với hình thức thanh toán bằng tiền
mặt. Trong tương lai, cùng với sự phát triển của xã hội ta thấy rằng thanh toán
không dùng tiền mặt có xu hướng phổ biến trên toàn thế giới và là một hình
thức thanh toán chủ yếu của các xã hội văn minh.
Từ năm 1989 trở lại đây, nền kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng với
tốc độ cao, được các chuyên gia kinh tế dự báo sẽ tiếp tục phát triển ổn định
trong khoảng thời gian sắp tới, với khối lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
được sản xuất và tiêu thụ ngày càng lớn. Điều đó đồng nghĩa với sự phát triển
mạnh của hoạt động trao đổi giữa các chủ thể của nền kinh tế mà biểu hiện là
sự gia tăng mạnh mẽ của quy mô thanh toán trong nền kinh tế. Ở nước ta hiện
nay việc thanh toán giá trị sản phẩm chủ yếu vẫn bằng tiền mặt. Tuy nhiên,
việc thanh toán bằng tiền mặt có rất nhiều hạn chế như: chi phí thanh toán, chi
phí chuyên trở, bảo quản, kiểm đếm rất tốn kém cả về thời gian và tiền bạc.
Bên cạnh đó, theo yêu cầu của sự phát triển và xu hướng của thời đại mới thì
nhu cầu về thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng lớn. Do đó, các NHTM
với vai trò trung gian thanh toán phải nắm bắt được xu hướng phát triển đó và
phải có các giải pháp hữu hiệu để mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp §inh TuÊn Kiªn - TCDN 42A
NHNo&PTNT Ba Đình ra đời năm 1996 là một chi nhánh trực thuộc
NHNo&PTNT Hà Nội, mang đầy đủ tính chất và đặc thù của một NHTM.
NHNo&PTNT Ba Đình kể từ khi ra đời đã góp phần không nhỏ vào sự phát
1.1. Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt và các khái niệm khác liên
quan.
Tiền mặt theo nghĩa hẹp, đó là tiền do Ngân hàng Trung ương phát
hành ra và nằm trong tay công chúng hay ngoài hệ thống ngân hàng. Còn theo
nghĩa rộng nhất, tiền mặt có thể được hiểu là những thứ có thể sử dụng trực
tiếp để thanh toán các giao dịch và bao gồm cả tiền gửi ngân hàng. Như vậy,
trong trường hợp này khái niệm tiền mặt được dùng để chỉ dạng có khả năng
thanh toán cao nhất của tài sản, bao gồm các đồng tiền do Ngân hàng Trung
ương phát hành ra và được công chúng giữ để chi tiêu, tiền gửi ở tài khoản
vãng lai hay tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, có thể rút ra bất cứ lúc nào bằng
cách viết séc. Đối với các NHTM khái niệm tiền mặt bao gồm các đồng tiền
cất trong két sắt và số dư của họ tại Ngân hàng Trung ương. Do được dùng
với nhiều nghĩa khác nhau như vậy, nên khi gặp khái niệm này, chúng ta phải
lưu ý xem nó được dùng theo nghĩa nào trong một khung cảnh nhất định (Từ
điển kinh tế học).
Tiền mặt- là hình thức tiền tệ, theo đó, trong thời gian giao dịch,
chức năng lưu thông và cất trữ giá trị được thực hiện mà không cần sự tham
gia của các định chế tài chính trung gian đặc thù.
Thanh toán, trong các mối quan hệ kinh tế, được hiểu một cách khái
quát nhất là việc thực hiện chi trả bằng tiền giữa các bên trong những quan hệ
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp §inh TuÊn Kiªn - TCDN 42A
kinh tế nhất định. Tiền ở đây được hiểu là bất cứ cái gì được chấp nhận chung
trong việc thanh toán để nhận hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.
Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán trong đó
không có sự xuất hiện của tiền mặt mà việc thanh toán được thực hiện bằng
cách trích chuyển trên các tài khoản của các chủ thể liên quan đến số tiền phải
thanh toán.
Thanh toán không dùng tiền mặt còn được định nghĩa là phương thức
thanh toán không trực tiếp dùng tiền mặt mà dựa vào các chứng từ hợp pháp
như giấy nhờ thu, giấy ủy nhiệm chi, séc… để trích chuyển vốn tiền tệ từ tài
thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trong việc
lưu chuyển tiền tệ và trong thanh toán giá trị của nền kinh tế.
1.3. Sự cần thiết của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị
trường.
Trước hết, sự vận động của tiền tệ dưới hình thức thanh toán không
dùng tiền mặt đáp ứng tốt hơn nhu cầu chuyển hóa giá trị của hàng hóa và
dịch vụ so với dưới hình thức thanh toán bằng tiền mặt.
Thanh toán không dùng tiền mặt có tác động tích cực đến kinh tế tài
chính quốc gia.
Thanh toán không dùng tiền mặt là một hình thức vận động tiền tệ tiết
kiệm và hiệu quả.
Thanh toán không dùng tiền mặt còn giúp tăng cường sự kiểm tra lẫn
nhau giữa các cá nhân, các tổ chức kinh tế. Một trong những phương cách để
thẩm định uy tín của một cá nhân, một tổ chức kinh tế làm ăn trên thị trường
là việc xem xét tình hình thực hiện việc thanh toán của họ với các đối tác.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp §inh TuÊn Kiªn - TCDN 42A
Thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho ngân hàng giảm bớt nguy cơ
mất khả năng thanh toán.
Thanh toán không dùng tiền mặt làm tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn
cho nền kinh tế.
Thanh toán không dùng tiền mặt an toàn, thuận lợi, nhanh chóng và
chính xác.
Nâng cao sức cạnh tranh cho ngân hàng qua việc nâng cao chất lượng
dịch vụ thanh toán cho ngân hàng.
Tạo điều kiện cho Ngân hàng Trung ương tính toán và kiểm soát lượng
tiền cung ứng cần thiết cho nền kinh tế.
Tạo nguồn thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán.
Tạo nguồn vốn cho vay ngắn hạn.
Sự cần thiết của thanh toán không dùng tiền mặt còn thể hiện ở chỗ nó
khắc phục được các nhược điểm sau của thanh toán bằng tiền mặt:
kiểm đếm, chuyên chở, bảo quản và huỷ bỏ tiền cũ, rách mà vấn đề bức xúc
nhất hiện nay đó là việc chuyên chở và bảo quản tiền mặt. Thanh toán không
dùng tiền mặt ở nước ta được tổ chức thành một hệ thống thống nhất. Trong
hệ thống này ngân hàng là một trung tâm thanh toán, mọi hoạt động trao đổi
hàng hoá dịch vụ đều được kết thúc bằng thanh toán cho nên quan hệ thanh
toán liên quan tới tất cả mọi hoạt động trong xã hội, trong toàn bộ nền kinh tế.
Do đó việc tổ chức tốt công tác thanh toán nói chung và thanh toán không
dùng tiền mặt nói riêng có một ý nghĩa và vai trò lớn trong nền kinh tế. Thanh
toán không dùng tiền mặt là hình thức sử dụng công cụ tiền tệ tiến bộ nhất nó
tạo ra tiền đề để áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mang lại những lợi
ích kinh tế to lớn. Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời và phát triển trên cơ
sở của nền kinh tế thị trường. Song chính nó lại trở thành nhân tố thúc đẩy
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp §inh TuÊn Kiªn - TCDN 42A
nền kinh tế hàng hoá phát triển, do đó nó vừa được coi là “đứa con” sinh ra
của kinh tế thị trường lại được xem như “bà đỡ” của nền kinh tế hàng hoá, nó
góp phần đẩy nhanh tốc độ quá trình tái sản xuất xã hội, nó là khâu đầu và
cũng là khâu kết thúc của quá trình sản xuất, nó liên quan đến toàn bộ quá
trình lưu thông hàng hoá, tiền tệ của các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong
xã hội.
- Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm
soát lạm phát. Thông qua việc khống chế tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ tái chiết
khấu... ngân hàng Trung ương gián tiếp điều hoà khối lượng tiền tệ cung ứng
góp phần bảo đảm cho nền kinh tế ở một mức độ ổn định. Căn cứ vào việc
thanh toán luân chuyển tiền tệ mà hoạch định các chính sách cần thiết. Với ý
nghĩa to lớn đó, ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển người dân sử dụng
thanh toán không dùng tiền mặt như là một thói quen văn hoá không thể thiếu
được.
- Khi ngân hàng tăng được tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt
cũng là lúc ngân hàng thu hút được nhiều hơn nguồn vốn trong xã hội vào
ngân hàng. Trên cơ sở nguồn vốn tăng thêm đó ngân hàng sẽ có điều kiện mở
+ Có đủ số dư trên tài khoản thanh toán, lập các chứng từ thanh toán
(hình thức thanh toán) hợp lệ, hợp pháp. Đối với khác hàng là người trả tiền
khi tham gia vào các hình thức thanh toán nói chung và thanh toán không
dùng tiền mặt nói riêng thì trước hết khách hàng phải có tiền, khi thanh toán
không dùng tiền mặt thì người trả tiền phải có số dư trên tài khoản thanh toán
của mình tại ngân hàng đảm bảo đủ chi trả cho hợp đồng thanh toán đó. Bên
cạnh đó, khách hàng phải lập các chứng từ thanh toán một cách đầy đủ, chính
xác, hợp lệ, hợp pháp. Trong chứng từ đó phải ghi rõ phương thức thanh toán
không dùng tiền mặt được sử dụng, khối lượng thanh toán, thời gian thanh
toán, đối tượng được thanh toán…
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp §inh TuÊn Kiªn - TCDN 42A
+ Thực hiện thanh toán sòng phẳng số tiền phải trả cho khách hàng, nếu
làm sai sẽ bị phạt theo chế độ hiện hành. Khi đến hạn thanh toán người trả
tiền phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình một cách đầy đủ kịp
thời….mà không được chậm trễ vì bất cứ lý do gì. Người trả tiền sẽ bị xử phạt
tiền hoặc bị truy tố trước pháp luật nếu chậm trễ trong việc thực hiện hợp
đồng thanh toán đã đáo hạn.
* Khách hàng thụ hưởng:
+ Kiểm tra tính hợp lệ và hợp pháp của các hình thức thanh toán nhận
được. Để đảm bảo an toàn và để tránh các rắc rối có thể xảy ra, khách hàng
thụ hưởng khi nhận được các chứng từ thanh toán phải kiểm tra các yếu tố
trên các chứng từ này xem có hợp lệ và hợp pháp không. Nếu thấy những
chứng từ này có dấu hiệu bất thường thì phải báo ngay cho các ngân hàng liên
quan để giải quyết.
+ Cung cấp đầy đủ và kịp thời lượng hàng hóa, dịch vụ cho người mua.
Khách hàng thụ hưởng đồng thời là người bán có trách nhiệm cung cấp đầy
đủ và kịp thời lượng hàng hóa, dịch vụ cho người mua, người trả tiền theo
đúng quy cách, chất lượng đã thỏa thuận trong hợp đồng.
3. Những hình thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện hành.
3.1. Hình thức thanh toán bằng séc.
Về nguyên tắc, séc chuyển khoản phải được phát hành trên cơ sở số dư
tài khoản tiền gửi hiện có tại ngân hàng. Nếu tài khoản tiền gửi không đủ để
thanh toán, séc sẽ bị ngân hàng từ chối thanh toán, chủ tài khoản phải chịu
trách nhiệm thanh toán tờ séc đó và những khoản tiền phạt chi phí phát sinh
liên quan đến việc khiếu nại và khởi kiện.
- Sơ đồ luân chuyển séc chuyển khoản:
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp §inh TuÊn Kiªn - TCDN 42A
+ Thanh toán giữa khách hàng mở tài khoản ở cùng một ngân hàng
(1): Người trả tiền
phát hành séc và
giao cho người thụ hưởng.
(2): Người thụ hưởng tiếp nhận séc, sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ
của tờ séc sẽ lập 3 liên bảng kê nộp séc cùng tờ séc nộp vào ngân hàng xin
thanh toán.
(3): Ngân hàng kiểm tra tờ séc, nếu đủ điều kiện thì tiến hành trích tài khoản
tiền gửi của người trả tiền và báo Nợ cho họ.
(4): Ngân hàng ghi Có vào tài khoản của bên thụ hưởng và báo Có cho họ.
+ Thanh toán khác ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn
(1):
Người trả tiền phát hành séc giao cho người thụ hưởng.
(2): Người thụ hưởng sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của tờ séc sẽ lập
3 liên bảng kê nộp séc cùng tờ séc nộp vào ngân hàng phục vụ mình xin
thanh toán ( Người thụ hưởng cũng có thể nộp trực tiếp bảng kê nộp séc kèm
theo tờ séc vào ngân hàng phục vụ người trả tiền để đòi tiền).
Người trả tiền Người thụ hưởng
Ngân h ng phà ục vụ
người trả tiền
Ngân h ng phà ục vụ người
thụ hưởng
người trả tiền sang tài khoản " Đảm bảo thanh toán séc " nhằm đảm bảo khả
năng thanh toán của tờ séc đó.
Séc bảo chi có phạm vi thanh toán rộng hơn séc chuyển khoản. Ngoài
việc sử dụng để thanh toán giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng một chi
nhánh ngân hàng hoặc hai ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ trên cùng
địa bàn séc bảo chi còn được sử dụng để thanh toán giữa khách hàng mở tài
khoản tại các chi nhánh trong cùng hệ thống trong phạm vi cả nước.
- Sơ đồ luân chuyển thanh toán toán séc bảo chi
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp §inh TuÊn Kiªn - TCDN 42A
+ Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản tại cùng một chi nhánh
ngân hàng
(1) : Người trả tiền làm thủ tục bảo chi séc ( lập hai liên giấy "Yêu cầu bảo
chi séc" kèm tờ séc đã ghi đủ các yếu tố nộp vào ngân hàng để xin bảo chi
séc). Ngân hàng đối chiếu giấy yêu cầu và tờ Séc, số dư tài khoản của người
phát hành, nếu đủ điều kiện thì tiến hành trích tiền từ tài khoản tiền gửi
chuyển vào tài khoản " Đảm bảo thanh toán Séc". Sau đó đóng dấu "Bảo chi"
lên tờ séc và giao séc cho khách hàng.
(2): Người trả tiền giao Séc cho người thụ hưởng để nhận hàng hoá, dịch vụ.
(3): Người thụ hưởng lập bảng kê nộp Séc kèm các tờ Séc nộp vào ngân hàng
xin thanh toán.
(4): Ngân hàng kiểm tra ký hiệu mật trên tờ séc và các yếu tố cần thiết khác,
tiến hành ghi Có vào tài khoản của người thụ hưởng và báo Có cho họ.
(5): Ngân hàng tất toán tài khoản " Đảm bảo thanh toán Séc"
+ Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản khác ngân hàng có tham
gia thanh toán bù trừ
Về cơ bản, quy trình luân chuyển chứng từ trong trường hợp này giống như
Séc chuyển khoản, tuy nhiên có sự khác nhau về tài khoản hạch toán.
3.2. Hình thức thanh toán bằng ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi(UNC).
Người trả tiền Người thụ hưởng
Ngân h ng phà ục vụ
21 3
2’
HH, DV
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp §inh TuÊn Kiªn - TCDN 42A
(3): Khi nhận được chứng từ thanh toán do ngân hàng phục vụ người trả tiền
chuyển đến, ngân hàng phục vụ người thụ hưởng dùng các liên UNC để ghi
Có vào tài khoản tiền gửi của người thụ hưởng và báo Có cho họ.
+ Trường hợp bên thụ hưởng không có tài khoản tiền gửi thì ngân hàng
phục vụ bên thụ hưởng ghi Có TK "Chuyển tiền phải trả" và báo cho bên thụ
hưởng đến nhận tiền.
3.3. Hình thức thanh toán ủy nhiệm thu hoặc nhờ thu(UNT).
UNT là giấy uỷ nhiệm đòi tiền do người thụ hưởng lập và gửi vào ngân
hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền theo số lượng hàng hoá đã giao, dịch vụ
đã cung ứng.
UNT được sử dụng rộng rãi trong việc thanh toán các hoá đơn định kỳ
cho người cung ứng dịch vụ công cộng như điện, nước, điện thoại … bởi nó
thường được dùng cho các giao dịch thanh toán có giá trị nhỏ nên các UNT
chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổng các giao dịch thanh toán không dùng
tiền mặt.
UNT được áp dụng thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản trong
cùng một chi nhánh ngân hàng hoặc các chi nhánh ngân hàng cùng hệ thống
hoặc khác hệ thống. Khách hàng mua và bán phải thống nhất thoả thuận dùng
hình thức UNT đối với những điều kiện cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế,
đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho ngân hàng phục vụ người thụ
hưởng biết làm căn cứ để thực hiện các UNT. Sau khi giao hàng hoặc hoàn tất
dịch vụ cung ứng, bên thụ hưởng lập giấy UNT theo mẫu của ngân hàng, kèm
theo hoá đơn gửi tới ngân hàng phục vụ mình hoặc gửi trực tiếp đến ngân
hàng phục vụ bên trả tiền yêu cầu thu hộ. Khi nhận được giấy UNT trong
vòng một ngày làm việc, ngân hàng bên trả tiền trích tài khoản của khách
hàng mình trả ngay cho bên thụ hưởng để hoàn tất việc thanh toán.
4
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp §inh TuÊn Kiªn - TCDN 42A
hợp với giá trị hàng hoá mà bên bán đã giao theo hợp đồng hay đơn đặt hàng
đã ký.
TTD thường dùng để thanh toán giữa các khách hàng có tài khoản ở hai
ngân hàng khác nhau, có thể cùng hoặc khác hệ thống ( trường hợp khác hệ
thống thì nơi ngân hàng bên bán đóng trụ sở phải có ngân hàng cùng hệ thống
với ngân hàng mở TTD và tham gia thanh toán bù trừ với ngân hàng bên bán).
Mỗi TTD chỉ được dùng để thanh toán cho một người thụ hưởng. Thời hạn
hiệu lực của một TTD là 3 tháng kể từ ngày ngân hàng bên mua nhận mở
TTD. Mức tiền tối thiểu cuả một TTD là 10 triệu đồng.
- Sơ đồ luân chuyển chứng từ thanh toán TTD
(1):
Người trả tiền lập 5 liên giấy mở TTD yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích
tài khoản tiền gửi (hoặc vay ngân hàng ) một số tiền bằng tổng giá trị hàng
hoá, dịch vụ đặt mua để lưu ký vào một tài khoản riêng gọi là tài khoản "
Đảm bảo thanh toán TTD "
(2): Ngân hàng phục vụ bên trả tiền mở TTD cho người trả tiền và chuyển
ngay 2 liên TTD cho ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để báo cho người
thụ hưởng biết.
(3): Khi nhận được 2 liên giấy mở TTD do ngân hàng phục vụ bên trả tiền gửi
đến, ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng tiến hành kiểm tra thủ tục mở TTD
như: ký hiệu mật, chữ ký của ngân hàng mở TTD . Sau khi ghi ngày nhận, ký
tên, đóng dấu đơn vị lên các liên giấy mở TTD sẽ gửi 1 liên cho bên thụ
Người trả tiền Người thụ hưởng
Ngân h ng mà ở thư tín
dụng
Ngân h ng phà ục vụ người
thụ hưởng
2
khoản " Đảm bảo thanh toán thẻ". Căn cứ để thanh toán thẻ là số dư tài khoản
tiền gửi của chủ sở hữu thẻ tại ngân hàng và hạn mức thanh toán tối đa do
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp §inh TuÊn Kiªn - TCDN 42A
ngân hàng phát hành thẻ quy định. Hạn mức của thẻ được ghi vào bộ nhớ của
thẻ nếu là thẻ điện tử hoặc được ghi vào dải băng từ nếu là thẻ từ.
Loại thẻ này áp dụng cho những khách hàng có quan hệ tốt, thường
xuyên và có tín nhiệm với ngân hàng.
- Thẻ ký quỹ thanh toán(thẻ loại B) : là loại thẻ mà để được sử dụng thẻ,
khách hàng phải lưu ký một số tiền nhất định vào tài khoản " Đảm bảo thanh
toán thẻ" thông qua việc tính tiền gửi hoặc nộp tiền mặt. Số tiền ký quỹ là hạn
mức của thẻ và được ghi vào bộ nhớ của thẻ. Thẻ này áp dụng rộng rãi cho
mọi khách hàng.
- Thẻ tín dụng(thẻ loại C): áp dụng với những khách hàng có đủ điều kiện
được ngân hàng đồng ý cho vay tiền để mua thẻ. Mức tiền cho vay được coi
như hạn mức tín dụng và được ghi vào bộ nhớ của thẻ, khách hàng chỉ được
thanh toán số tiền trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được ngân hàng chấp
thuận.
Thẻ thanh toán dù dưới hình thức nào cũng phải có đầy đủ các yếu tố: Tên
chủ thẻ, tên ngân hàng phát hành thẻ, số thẻ, nhãn hiệu thương mại và thời
hạn sử dụng thẻ.
Trong thanh toán thẻ bao gồm các chủ thể sau:
- Ngân hàng phát hành thẻ: là ngân hàng bán thẻ cho khách hàng và chịu trách
nhiệm thanh toán số tiền do người sử dụng trả cho người thụ hưởng. Ngân
hàng phát hành thẻ có thể uỷ nhiệm cho một số chi nhánh ngân hàng phát
hành và quản lý thẻ.
- Người sử dụng thẻ: là người trực tiếp mua thẻ tại ngân hàng và dùng thẻ để
mua hàng hoá, dịch vụ.
- Người tiếp nhận thẻ thanh toán bằng thẻ: là các doanh nghiệp cung ứng hàng
hoá, dịch vụ cho người sử dụng thẻ.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp §inh TuÊn Kiªn - TCDN 42A
thanh toán giữa các ngân hàng.
Người sử dụng thẻ có thể rút tiền mặt nhưng mỗi lần không quá 5 triệu
đồng và mỗi ngày thẻ chỉ rút một lần. Nếu mất thẻ, người sử dụng phải thông
báo ngay bằng văn bản cho ngân hàng phát hành thẻ biết để thông báo cho
ngân hàng đại lý thanh toán thẻ báo cho cơ sở tiếp nhận thẻ biết. Khi sử dụng
hết hạn mức hoặc hết thời hạn sử dụng của thẻ, nếu có nhu cầu, người sử
dụng thẻ phải đến ngân hàng phát hành thẻ làm thủ tục sử dụng tiếp. Trong
phạm vi 10 ngày làm việc, kể từ ngày viết hoá đơn cung ứng hàng hoá, dịch
vụ, người tiếp nhận thẻ phải nộp biên lai vào ngân hàng đại lý để đòi tiền, nếu
quá thời hạn trên, ngân hàng không chấp nhận thanh toán. Trong phạm vi 1
ngày làm việc, kể từ khi nhận được biên lai thanh toán, ngân hàng đại lý phải
thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán thẻ.
Như vậy, ta thấy rằng thanh toán không dùng tiền mặtvới rất nhiều hình
thức, có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế thị trường. Vấn đề
đặt ra là trong công tác thanh toán còn một số tồn tại đòi hỏi ta phải xem xét
tuỳ từng ngân hàng cụ thể để có thể đưa ra những biện pháp hợp lý nhằm
nâng cao hiệu quả của công tác thanh toán không dùng tiền mặt.
4. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác thanh toán không dùng tiền mặt
của các ngân hàng thương mại.
4.1. Môi trường kinh tế vĩ mô.
Ngân hàng hoạt động trong nền kinh tế nên rất nhạy cảm với các yếu tố
từ môi trường kinh tế. Những biến động lớn của nền kinh tế có thể dẫn tới sự
sụp đổ của nhiều ngân hàng và ảnh hưởng thường mang tính hệ thống. Khi
môi trường kinh tế vĩ mô không ổn định, một mặt tác động trực tiếp tới thanh
toán không dùng tiền mặt, mặt khác ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp §inh TuÊn Kiªn - TCDN 42A
chung của ngân hàng từ đó lại tác động gián tiếp tới thanh toán không dùng
tiền mặt.
Một nền kinh tế phát triển ổn định sẽ là môi trường thuận lợi cho sự
phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt. Nền kinh tế phát triển mạnh,
nhu cầu khách hàng.
4.3. Khoa học công nghệ.
Công nghệ ngân hàng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn tới hoạt
động kinh doanh nói chung và thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng của
các ngân hàng hiện nay. Công nghệ ngân hàng tiên tiến sẽ góp phần thúc đẩy
nhanh quá trình chu chuyển vốn xã hội , thu hút được nhiều hơn vốn nhàn rỗi
trong dân cư phục vụ cho việc đầu tư phát triển kinh tế, để đất nước tiến
nhanh trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá .
Việc ứng dụng các thành tựu công nghệ tin học và tự động hóa vào
thanh toán sẽ đáp ứng được yêu cầu nhanh chóng, chính xác, an toàn và tiết
kiệm được chi phí trong thanh toán. Các hoạt động huy động, chi trả tiền gửi
cho khách hàng và thanh toán có thể được thực hiện trên các máy vi tính, vừa
chính xác, an toàn lại vừa nhanh chóng, tiện lợi. Các ngân hàng cũng có thể
mở rộng các dịch vụ của mình qua các mạng máy vi tính, đây là một cách tiếp
cận, quảng bá và cung cấp các dịch vụ ngân hàng tới hàng triệu người với chi
phí rất thấp. Để mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, các ngân hàng có
thể đưa vào sử dụng hệ thống máy rút tiền tự động, tham gia hệ thống thanh
toán điện tử liên ngân hàng, …
Công nghệ hiện đại cho phép các ngân hàng vươn xa hơn ngoài trụ sở
ngân hàng, liên kết với nhau để cùng sử dụng mạng công nghệ,… Điều này
tạo cơ hội cho các ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ảnh
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp §inh TuÊn Kiªn - TCDN 42A
hưởng lẫn nhau nhiều hơn trong thanh toán không dùng tiền mặt và cả trong
những mặt hoạt động khác của ngân hàng.
Theo xu thế phát triển hiện nay, các thành tựu khoa học kỹ thuật mới
nhất luôn được ưu tiên ứng dụng vào lĩnh vực ngân hàng để sáng chế và đưa
vào sử dụng các phương tiện thanh toán hiện đại nhất , vừa đảm bảo thanh
toán tức thì, vừa đảm bảo chính xác, an toàn và bí mật.
Hiện nay, công nghệ ngân hàng đang được xem là một thứ vũ khí cực
mạnh trong cạnh tranh. Với chức năng trung gian thanh toán của mình các