Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại TECHCOMBANK - Pdf 89

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường vấn đề lợi nhuận là một vấn đề vô cùng quan
trọng mà bất cứ một doanh nghiệp nào cũng quan tâm. Lợi nhuận không chỉ phản
ánh kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp mà còn phản ánh khả năng tồn tại,
phát triển và uy tín của doanh nghiệp đó trên thị trường.
Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam nói chung và Ngân hàng Kỹ Thương Việt
Nam (NHKTVN) nói riêng là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Tài
Chính-Tiền Tệ và dịch vụ ngân hàng, làm sao để đạt hiệu quả kinh doanh tạo ra lợi
nhuận là một vấn đề lớn được đặt ra hàng đầu. Ngay từ những ngày đầu thành lập,
dưới sự lãnh đạo cuả Đảng, Nhà nước và dưới sự chỉ đạo kịp thời của Ngân Hàng
Nhà Nước Việt Nam (NHNNVN), NHKTVN đã phát huy tốt vai trò của mình góp
phần thúc đẩy luân chuyển vốn trong nền kinh tế, đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu
vốn cũng như cung cấp ngày càng nhiều các dịch vụ tiện ích cho ngươì sử dụng và
trở thành Ngân Hàng đô thị đa năng hàng đầu Việt Nam
Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, việc
tạo ra một đồng lợi nhuận là vô cùng khó khăn. Chính vì vậy lầm sao để có thể tăng
thu nhập, tiết kiệm chi phí là vấn đề quan trọng đặt ra cho mỗi Ngân Hàng Thương
Mại (NHTM) trong đó không loại trừ NHKT.Tìm ra các giải pháp là quan trọng
nhưng làm sao để các giải pháp đó trở thành hiện thực lại càng quan trọng hơn. Điều
này đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức của ngành Ngân Hàng cũng như của các
nhà hoạch định chính sách Kinh tế vĩ mô khác.
Với những lý do nêu trên, sau khi hoàn thành chương trình học tập tai Học
Viện Ngân Hàng cùng hai tháng thực tập tại Hội Sở Chính NHKT em mạnh dạn lựa
chọn đề tài:
"Một số giải pháp nhằm tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí, nâng cao kết quả
kinh doanh tại NHKTVN"
Trang 1
Chuyên đề của em được trình bày theo kết cấu sau:
Lời mở đầu
Chương 1:Các hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Thương Mại trong nền
Kinh tế thị trường và cơ chế Tài Chính của NHTM

1.2 Đặc trưng của NHTM
Mặc dù có những cách hiểu khác nhau song nhìn chung thì Ngân Hàng có
những đặc trưng sau:
-NHTM là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác liên quan đến
tiền tệ.
NHTM là các doanh nghiệp vay mượn ,huy động tiền tệ từ các chủ thể đang
nắm giữ tiền tạm thời chưa dùng tới để rồi dùng tiền đó cho vay, đầu tư vào những
lĩnh vực nhà nước cho phép.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt lĩnh vực kinh doanh ngân hàng với
các lĩnh vực kinh doanh khác. Tuy nhiên các Ngân Hàng ngày càng phải hoạt động
Trang 3
trong sự cạnh tranh gay gắt nên sản phẩm và phương thức kinh doanh của Ngân
Hàng cũng có sự thay đổi, theo đó, sản phẩm của Ngân hàng còn bao gồm các dịch
vụ khác như : dịch vụ về tài chính, về thông tin, kế toán ….
Hoạt động kinh doanh Ngân Hàng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Thường thì
Ngân Hàng đi vay, huy động vốn ngắn hạn với lãi suất thấp để cho vay với thời hạn
dài hơn với lãi suất cao hơn. Từ đó Ngân Hàng sẽ thu được lợi nhuận. Tuy nhiên chỉ
bằng những kinh nghiệm giản đơn cũng có thể thấy được tính chất tập trung rủi ro
của lĩnh vực Ngân hàng. Nếu đến hạn vì một nguyên nhân nào đó người vay tiền
không trả được nợ hoặc trả không dủ sẽ làm cho Ngân Hàng lâm vào tình trạng rủi
ro. Trường hợp khác nữa là Ngân hàng sẽ có thể gặp rủi ro thanh khoản nếu khách
hàng đến rút tiền trước hạn, ngân hàng phải trả tiền cho khách hàng khi đáo hạn
nhưng ngân hàng lại không có đủ tiền để thanh toán do các khoản cho vay hoặc đầu
tư chưa thu hồi được và ngân hàng cũng không thể vay tiền ở các thị trường tài
chính khác…
Chính vì đặc điểm này mà Ngân Hàng phải tạo ra những biện pháp, kỹ thuật
để phòng ngừa rủi ro cho người gửi tiền, người vay tiền và cho chính bản thân mình.
Ngân hàng thương mại kinh doanh mang tính hệ thống cao và chịu sự quản lí
nghiêm ngặt của Nhà nước. Có thể nói, tình hình lưu thông và giá trị của tiền tệ có
ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế; hơn nữa, rủi ro trong kinh doanh ngân

lưu thông, đẩy nhanh hình thức thanh toán không dùng tiền mặt với chi phí thấp hơn
rất nhiều. Hoạt động thanh toán khẳng định vai trò trung giân không thể thiếu của
NHTM đồng thời tạo ra nguồn thu cho ngân hàng từ phí thanh toán.
Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng đang ngày một phát triển với tốc độ nhanh chóng,
thời gian cho thanh toán rút ngắn đến tối đa do công nghệ ngân hàng đang ngày
càng hoàn thiện. Điều này hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của các quan hệ kinh
tế ngày càng sôi động và đa dạng đang diễn ra.
Trang 5
2.3. Chức năng tạo tiền của NHTM
Sự tạo tiền bắt đầu từ khi "đồng tiền ghi sổ" ra đời .Từ một khoản tiền gửi
ban đầu vào một ngân hàng thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong một hệ
thống ngân hàng thương mại, số tiền gửi ban đầu đã tăng lên gấp bội. Tuy nhiên chỉ
có một hệ thống ngân hàng mới thương mại mới có thể mở rộng tiền gửi lên nhiều
lần, còn nếu chỉ có một ngân hàng thì không thể có chức năng tạo tiền .Khoản tiền
gửi ban đầu có khả năng tăng lên bao nhiêu lần là do hệ số mở rộng tiền gửi quyết
định.Hệ số mở rộng tiền gửi của một ngân hàng thương mại chịu sự tác động của
các yếu tố:tỷ lệ dự trữ bắt buộc ,tỷ lệ rút tiền mặt của khách hàng, tỷ lệ dự trữ dư
thừa .
Giả sử trong điều kiện không xuất hiện khoản thanh toán nào bằng tiền mặt
và các ngân hàng đều cho vay hết quỹ cho vay thì hệ số mở rộng tiền gửi được tính
theo công thức:
H = (H: Hệ số mở rộng tiền gửi)
Khi đó nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% thì hệ số mở rộng tiền gửi là
10.Nghĩa là hệ thống ngân hàng có khả năng mở rộng tiền gửi gấp 10 lần số tiền gửi
ban đầu.
Trên thực tế nếu một khách hàng nào đó rút một phần tiền mặt để thanh toán
hoặc ngân hàng không cho vay hết quỹ cho vay thì khả năng mở rộng tiền gửi cũng
gỉam đi. Vì thế hệ số mở rộng tiền gửi trong thực tế được tính theo công thức:
H =
Như vậy ngân hàng cần phải đẩy mạnh nghiệp vụ thanh toán không dùng

Đặc biệt các ngân hàng thương mại có đối tượng kinh doanh là vốn tiền tệ ,bởi vậy ,
trong quá trình hoạt động các ngân hàmg thương mại luôn chú trọng công tác bảo
toàn và phát triển vốn. Các nghiệp vụ tạo vốn của ngân hàng thương mại bao gồm
có:
Trang 7
3.1.1 Vốn tự có
Vốn tự có là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được thuộc sở hữu của
ngân hàng .Vốn tự có trước hết dùng để đầu tư vào trụ sở máy móc , văn phòng làm
việc… sau đó mới sử dụng để kinh doanh và chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn
vốn của ngân hàng nhưng lại đóng vai trò vô cùng quan trọng bởi nó là căn cứ pháp
lý bắt buộc khi thành lập ngân hàng đông thời là cơ sở để xác định quy mô hoạt
động của ngân hàng .Vốn tự có khẳng định thế mạnh cũng như khả năng thanh toán
của ngân hàng thương mại đối với người gửi tiền trong trường hợp nếu xảy ra rủi ro.
Vốn tự có của ngân hàng thương mại còn mang tính ổn dịnh rất cao và là cơ sở để
thu hút các nguồn vốn khác.
Vốn tự có của ngân hàng được hình thành từ nhiêù nguồn khác nhau. Nếu là
ngân hàng thương mại quốc doanh thì vốn tự có do ngân sách nhà nước cấp ;ngân
hàng thương mại cổ phần thì vốn tự có do các cổ đông đóng góp ;ngân hàng liên
doanh có vốn tự có do các đối tác góp và ngân hàng nước ngoài có vốn tự có do
ngân hàng mẹ ở chính quốc quyết định.
Vốn tự có bao gồm:
-Vốn pháp dịnh và vốn điều lệ:trong đó ,vốn pháp định là số vốn tối thiểu mà
ngân hàng phải có khi thành lập do pháp luật quy định . Vốn điều lệ là vốn do các
cổ đông đóng góp và ghi vào điều lệ hoạt động của ngân hàng.Vốn điều lệ mức tối
thiểu phải bằng vốn pháp định.
-Vốn tự có bổ sung:bao gồm quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự trữ
đặc biệt để bì dắp rủi ro. Việc hình thành các quỹ này phụ thuộc vào kết quả hoạt
động kinh doanh của ngân hàng
Ngoài ra , vốn tự có của ngân hàng thương mại còn bao gồm lợi nhuận chưa
chia và các quỹ như: quỹ khen thưởng phúc lợi , quỹ trợ cấp mất việc làm…

tháng,36 tháng… .Mức lãi mà ngân hàng trả cho khách hàng là tuỳ thuộc vào kỳ hạn
khách hàng gửi tiền vào ngân hàng và các yếu tố khác trên thị trường.
*Tiền gửi tiết kiệm:là một bộ phận thu nhập của nguươì lao động chưa sử
dụng đến và gưỉ vào ngân hàng với mục đích an toàn tài sản và hưởng lãi từ số tiền
đó .Gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.Tiền gửi
tiết kiệm đã trở thành công cụ huy động vốn truyền thống của các ngân hàng thương
Trang 9
mại .Vốn huy động từ tài khoản tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng khá cao trong tiền
gưỉ ngân hàng và có tính chất ổn định
nên ngân hàng có thể lên kế hoạch sao cho sử dụng có hiệu quả.
*Ngoài các hình thức tạo vốn thông qua việc huy động tiền gửi thì khi cần
thiết các ngân hàng thương mại có thể phát hành các loại giấy tờ có giá như:
+Kỳ phiếu:thường có thời hạn từ 3 tháng đến 12 tháng
+Trái phiếu: thường có thời hạn trên 12 tháng
+Chứng chỉ tiền gửi :có thời hạn dưới 12 tháng
Ngân hàng thương mại sẽ phát hành giấy tờ có giá theo từng đợt với quy mô,
thời hạn cũng như cách trả lãi và mức lãi suất khác nhau tuỳ thuộc vào nhu cầu vốn
của ngân hàng lúc bấy giờ. Lãi suất trả cho nghiệp vụ này thường cao hơn so với lãi
suất tiền gửi dựa trên cơ sở quan hệ cung- cầu về vốn trên thị trường cũng như lãi
suất chung của nền kinh tế. Ngược lại ngân hàng có thể chủ động trong việc huy
động vốn của mình.
Có thể nói qua nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng thương mại nắm trong tay
một lượng lớn của cải xã hội về mặt giá trị lợi tức là vốn tiền tệ. Để có được một
khoản vốn lớn như vậy , ngân hàng phải bỏ ra một khoản chi phí để trả lãi cho
khách hàn , mà khoản chi phí này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí cuả
ngân hàng.
3.1.3 Vốn đi vay
Khi nguồn vốn huy động từ dân cư , từ tổ chức kinh tế không đủ yêu cầu cho
sử dụng vốn thì NHTM phải đi vay từ Ngân Hàng Trung Ương hoặc vay từ TCTD
khác .

ngân hàng được phân chia thành các khoản mục sau:
-Nghiệp vụ ngân qũy
-Nghiệp vụ tín dụng
-Nghiệp vụ tài chính
3.2.1. Nghiệp vụ ngân quỹ
Nghiệp vụ ngân quỹ trước hết bao gồm Tiền mặt tại quỹ của ngân hàng như
tiền giấy, tiền kim loại và những khoản được coi là tiền mặt hiện có tại kho của
ngân hàng, được giữ chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng gửi tiền
và dự trữ theo luật định. Nhu cầu dự trữ tiền mặt cao hay thấp là tùy thuộc vào qui
mô hoạt động của ngân hàng, nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng. Đây là nghiệp vụ
không sinh lời của một ngân hàng nhưng đóng vai trò rất quan trọng nó bảo đảm
uy tín trong thanh toán cho khách hàng với ngân hàng khác và đặc biệt sự tuân thủ
trong quy định về dự trữ bắt buộc và dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán của
NHTU áp dụng đối với các NHTM. Tùy thuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ
trong từng thời kỳmà NHTU xác định một tỷ lệ dự trữ nhất định cho các NHTM.
3.2.2 Nghiệp vụ tín dụng
Đây là nghiệp vụ chủ yếu và quan trọng của các NHTM, nó thường chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng tài sản Có của ngân hàng và là thành phần tài sản sinh lời nhiều
nhất cho NHTM .
Trang 12
Nghiệp vụ tín dụng giúp ngân hàng cung ứng vốn cho nền kinh tế thúc đẩy
mở rộng sản xuất kinh doanh. Các NHTMluôn phấn đấu để đạt mức dư nợ cao nhất
bởi thu lãi cho vay là nguồn thu chính, tuy nhiên bên cạnh đó nghiệp vụ này cũng
chứa đựng nhiều rủi ro.
Các NHTM thường thực hiện nghiệp vụ này thông qua các hình thức phổ
biến sau:
*Nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn ,trong đó bao gồm :
- Cho vay chiết khấu: là nghiệp vụ mà trong đố khách hàng phải chuyển giao
cho ngân hàng những giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toánvà số tiền được vay sẽ
bằng mệnh giá trừ đi lãi suất chiết khấu và hoa hồng phí.

nghiệp vụ đầu tư Tài chính cũng là nghiệp vụ sinh lời và phân tán rủi ro cho NHTM.
Đầu tư Tài chính là nghiệp vụ sử dụng vốn của Ngân hàng, đầu tư vào các
Tài sản Tài chính như: giấy tờ có giá của Nhà nước, chứng khoán của công ty, các
công cụ phái sinh.
Thực hiện nghiệp vụ này, các NHTM chủ yếu nhằm mục đích sinh lời, kế
đến là để đa dạng hoá các khoản mục bên Tài sản có nhằm hạn chế rủi ro, nâng cao
khả năng thanh khoản và đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Tuy nhiên, khi tham gia vào lĩnh vực này, các NHTM phải tuân theo các quy định
rất chặt chẽ, chỉ được dùng Vốn tự có để đầu tư Tài chính và chịu giới hạn mức đầu
tư tối đa. Thu nhập từ khoản vốn đầu tư có thể do chứng khoán mang lại do chênh
lệch giá trên thị trường chứng khoán. Điều hiển nhiên là Ngân hàng phải chịu thua
lỗ nếu các chứng khoán, các khoản đầu tư mất giá.
3.2.4. Các nghiệp vụ kinh doanh khác
Mặc dù mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của Ngân hàng là lợi nhuận
nhưng NHTM vẫn cần có sự an toàn, tránh được các rủi ro trong hoạt động kinh
doanh của mình. Do vậy, ngoài các nghiệp vụ chính là Tín dụng, Ngân quỹ, Đầu tư
Tài chính, các NHTM hiện đại ngày nay ngày càng quan tâm đến việc phát triển các
dịch vụ mới, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng qua đó Ngân hàng tìm kiếm lợi
nhuận với mức rủi ro thấp nhất. Các dịch vụ khác mà ngân hàng cung cấp vô cùng
phong phú, gồm có:
*Dịch vụ thanh toán
Trang 14
Đây là nghiệp vụ mang tính dịch vụ đơn thuần mà không cần sử dụng đến
nguồn vốn của ngân hàng, thêm vào đó nó còn tạo ra một nguồn vốn tương đối lớn
cho ngân hàng thông qua quá trình thanh tóan.
NHTM có thể thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước thông qua các phương
tiện thanh toán như: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ …hoặc thanh toán quốc tế
dưới các hình thức như: chuyển tiền, nhờ thu, L/C…Thông qua các dịch vụ thanh
toán, NHTM không những thu được các khoản phí mà còn tăng sức cạnh tranh của
mình đối với các đối thủ.

điều hành tài sản vì lợi ích của người uỷ thác.
Uỷ thác cho doanh nghiệp gồm: quản lý quỹ hưu trí, uỷ thác làm đại lý cho
các tổ chức…
Nhìn chung nghiệp vụ uỷ thác mang lại cho ngân hàng những khoản thu nhập
đáng kể và quan hệ tốt đẹp với những khách hàng có doanh số hoat động lớn.
*Dịch vụ tư vấn:
Là loại dịch vụ được thực hiện trên cơ sở hợp đồng ký kết và cung cấp cho
bên được tư vấn những trợ giúp của những nhân viên được đào tạo về chuyên môn
một cách khách quan độc lập.
Hơn bất cứ một doanh nghiệp nào, NHTM là một doanh nghiệp mà hoạt
động kinh doanh luôn chứa đựng rủi ro tiềm ẩn cao bởi đối tượng kinh doanh của
NHTM là tiền tệ và nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng là do đi vay dưới nhiều hình
thức. Chính vì vậy trong haot động của mình Ngân hàng là một doanh nghiệp có
quan hệ với rất nhiều khách hàng, lưu giữ nhiều thông tin của các tổ chức kinh tế,
hơn nữa ngân hàng còn có các nhân viên đầy kinh nghiệm trong lĩnh vực Tài chính
tiền tệ. Điều này giúp cho các chuyên gia của ngân hàng có thể đưa ra các lời
khuyên tối ưu cho các khách hàng, giúp cho họ giải quyết các vấn dề trong kinh
doanh của mình một cách có hiêu quả nhất .
Dịch vụ tư vấn không chỉ giúp cho ngân hàng thu được các khoản phí mà còn
nâng cao hình ảnh của ngân hnàg trong mắt khách hàng.
Ngoài các dịch vụ trên, NHTM còn cung cấp các sản phẩm dịch vụ khác như:
quản lý ngân quỹ, cho thuê két…
Nói tóm lại, các NHTM hiện nay, ngoài việc thực hiện các nghiệp vụ truyền
thống còn thực hiện đa dạng hoá các nghiệp vụ khác bằng cách đầu tư vào các thiết
bị kỹ thuật, ứng dụng CNTT vào việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ cho khách
Trang 16
hàng sao cho có thể trở thành ngân hàng đa năng hiện đại, đáp ứng tối đa nhu cầu của
khách hàng để từ đó thu về các khoản lợi nhuận.
II. Cơ chế tài chính của NHTM
.1. Cơ chế tài chính của NHTM

thu nhập đúng đắn của NHTM trong một thời kỳ kế toán xác định ằng việc thích
ứng các chi phí với thu nhập được tạo ra.
Niên độ tài chính của NHTM được bắt đầu từ ngày 01/01 đến hết ngày
31/12. Mọi khoản doanh thu, chi phí phải được hạch toán trong hết năm tài chính.
Cuối năm (31/12), NHTM xác định kết quả kinh doanh một lần. Tuy nhiên để có
căn cứ tạm trích và trả lương cho cán bộ, công nhân viên, tạm trích các quỹ thì hàng
tháng NHTM tạm tính kết quả hoạt động kinh doanh theo kế hoạch lợi nhuận quý.
Cuối năm sau khi xác định kết quả kinh doanh chính thức sẽ thanh toán phần tạm
chi lương và tạm trích các quỹ.
NHTM phải thưc hiện chế độ kế toán theo quy định của pháp luật, ghi chép
đầy đủ chứng từ ban đầu, cập nhật sổ sách kế toán và phản náh đầy đủ kịp thời,
trung thực chính xác cá hoạt động kinh tế, tài chính. Thực hiện chế độ quản lý tài
chính của nhà nước và của ngân hàng. Xây dựng kế hoạch tài chính, lập dự toán và
quyết toán các khoản chi phí theo quy định.
Hàng năm, hoạt động tài chính của NHTM phải được kiểm toán nội bộ và
kiểm toán độc lập. Báo cáo tài chính sau khi được kiểm toán độc lập NHTM phải
công khai cho ba đối tượng: Nhà nước (gồm các cơ quan quản lý tài chính, thống kê,
thuế và NHNN), trong nội bộ NHTM (gồm tổ chức Đảng, đoàn thể nguời lao động
và các cổ đông), bên ngoài NHTM (gồm các nhà đầu tư, khách hàng). Nội dung
công khai cho từng đối tượng theo quy định của chế độ tài chính đối với NHTM.
2.Các khoản thu nhập - chi phí và kết quả kinh doanh của NHTM
2.1 Các khoản thu nhập của NHTM
Các khoản thu nhập của NHTM được tạo ra từ nghiệp vụ sử dụng vốn của
ngân hàng. Các NHTM hiện đại ngày nay kinh doanh đa năng nên nội dung các
khoản thu cũng rất phong phú.
-Thu từ hoạt động nghiệp vụ bao gồm: thu lãi cho vay, hùn vốn liên doanh
liên kết, thu lãi tiền gửi, thu từ nghiệp vụ cho thuê tài chính, htu từ dịch vụ thanh
Trang 18
toán và ngân quỹ, thu từ nghiệp vụ chứng khoán và bảo lãnh, thu khác liên quan đến
hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng.

Tài khoản phản ánh doanh thu của NHTM được phản ánh và bố trí ở loại 7
trong hệ thống tài khoản của TCTD
- Thu về hoạt động tín dụng : phản ánh ở tài khoản cấp 1 số 70
- Thu về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ : phản náh ở tài khoản cấp 1 số
71
- Thu từ các hoạt động khác : phản ánh ở tìa khoản cấp 1 số 72
- Các khoản thu nhập bất thường: phản ánh ở tài khoản cấp 1 số 79
Kết cấu của tài khoản thu nhập :
Bên có ghi:-Các khoản thu về hoạt động kinh doanh trong năm
Bên nợ ghi:-Số tiền thoái thu các khoản thu trong năm.
- chuyển số dư có cuối năm vào tài khoản lợi nhuận trong
năm nay khi quyết toán
Số dư có: - Phản ánh số thực thu trong năm
2.2 Các khoản chi phí của NHTM
Đối ứng với các khoản thu nhập, NHTM cũng như các doanh nghiệp khác cần
phải bỏ ra các chi phí để duy trì các hoạt động của mình. Các khoản chi phí của
NHTM gồm có :
Chi phí về huy động vốn như : chi trả lãi tiền gửi, chi trả lãi tiền vay, chi trả lãi
việc phát hành giấy tờ có giá và các chi phí khác liên quan đến huy động vốn.
Trong đó việc trả lãi tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí của
ngân hàng thương mại, nhưng đây là khoản chi không thể hạn chế hay tiết kiệm vì
đây là chi cho nghiệp vụ hình thành nguồn vốn của NHTM. Mức chi phụ thuộc vào
số dư tiền gửi của khách hàng và lãi suất phải trả theo quy định của nhà nước. Chi
trả lãi tiền vay phụ thuộc vào số dư tài khoản tiền vay của ngân hàng, thời hạn vay
và lãi suất vay được thoả htuận giữa hai bên. Lãi suất tiền vay thường tương đối cao
nên nếu sử dụng nhiều vốn vay để kinh doanh thì ngân hàng sẽ thu được ít lợi nhuận
hơn, cho nên các ngân hàng thường hạn chế việc đi vay. Chi trả lãi phát hành kỳ
phiếu, trái phiếu phụ htuộc vào số vốn ngân hàng huy động được bằng cách phát
hành kỳ phiếu, trái phiếu hay chứng chỉ tiền gửi. Chi phí naỳ cao hơn chi phí tiền
gửi tuy nhiên nó chỉ mang tính chất thời điểm.

Tài khoản phản ánh chi phí của ngân hàng thương mai.
Trang 21
Tài khoản phản ánh chi phí của ngân hàng thương mại được bố trí ở loại 8
trong hệ thống tài khoản của các TCTD.
- Chi về hoạt động huy động vốn : Tài khoản cấp I số 80
- Chi về dịch vụ ngân quỹ : Tài khoản cấp I số 81
- Chi nộp thuế và các khoản phí, lệ phí : Tài khoản cấp I số 83
- Chi cho nhân viên : Tài khoản cấp I số 84
- Chi cho hoạt động quản lý và công vụ : Tài khoản cấp I số 85
Kết cấu của tài khoản chi phí
Bên nợ ghi : - Các khoản chi về hoạt động trong năm
Bên có ghi : - Số tiền thu được để giảm chi trong năm.
- Chuyển số dư nợ cuối năm vào tài khoản lợi nhuận
năm nay khi quyết toán
Số dư nợ : Phản ánh số thực chi trong năm.
2.3. Kết quả kinh doanh của NHTM
Kết quả kinh doanh của NHTM hay lợi nhuận là khoản chênh lệch được xác
định giữa tổng doanh thu phải trừ đi tổng các khoản chi phí phải trả hợp lý, hợp lệ,
bao gồm lợi nhuận trong hoạt động nghiệp vụ và lợi nhuận trong hoạt động khác.
Việc xác định kết quả kinh doanh được thực hiện vào cuối ngày 31/12 khi quyết toán
niên độ.
Tài khoản phản ánh kết quả kinh doanh được bố trí ở loại 6 của hêj thống tài
khoản các TCTD, cụ thể la tài khoản cấp I số 69 “ Lợi nhuận chưa phân phối”. Tài
khoản 69 có 2 tài khoản cầp II.
Tài khoản 691 “ Lợi nhuận năm nay” dùng để phản ánh số lãi. lỗ hàng năm
của NHTM.
Bên có ghi : - Số dư cuối năm của các tài khoản thu nhập chuyển sang khi
quyết toán.
Bên nợ ghi : - Số dư cuôi năm của các tài khoản chi phí chuyển sang khi quyết
toán.

là TCB) ra đời ngày 27 tháng 9 năm 1993 theo giấy phép số 0040/NH-GP cấp ngày
6 tháng 8 năm 1993 của Thống Đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam, với số vốn điều
lệ là 20 tỷ đồng, được chia thành 4000 cố phiếu, mỗi cổ phiếu có mệnh giá 5 triệu
đồng.
Cổ đông lớn nhất của ngân hàng – hãng Hàng không Việt Nam với tổng số vốn
góp là 6 tỷ đồng. Ngoài ra còn có một số doanh nghiệp nhà nước như Tổng công ty
da giầy, Tổng công ty Dệt may... và một số cá nhân.
Sau 10 năm hoạt động, trong bối cảnh ngày càng khó khăn của nền kinh tế, TCB
vẫn đứng vững và tiếp tục phát triển. Hiện nay TCB đã có vốn điều lệ lên đến
117.87 tỷ đồng và tổng tài sản lên đến 4097 tỷ. TCB ngày càng trở nên quen thuộc
với công chúng và các khách hàng hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau như kĩ
thuật , công nghệ, thương mại, dịch vụ. Đặc biệt TCB đã thiết lập được quan hệ với
những đối tác vững chắc, những tổ chức tài chính - tín dụng lớn trong và ngoài
nước.
Mạng lưới hoạt động của TCB gồn Hội sở chính đặt tại 15 Đào Duy Từ – Hà
Nội, 9 chin nhánh gồm: các chi nhánh tại Hà Nội (Techcombank Thăng Long,
Techcombank Hoàn Kiếm, Techcombank Chương Dương, Techcombank Đống Đa),
các chi nhánh tại Đà Nẵng( Techcombank Đà Nẵng, Techcombank Thanh Khê), chi
nhánh Hải Phòng, chi nhánh thành phố Hồ CHí Minh (Techcombank Hồ Chí Minh,
Techcombank Tân Bình) và 4 phòng giao dịch tại Hà Nội, Hải Phòng, Hồ Chí Minh,
dự kiến TCB sẽ nâng cấp phòng giao dịch và mở rọng phạm vi hoạt động ra các tỉnh
lân cận như Bắc Ninh, Hà Tây...
Là một ngân hàng đô thị thương mại đa năng, TCB sẽ cung ứng phong phú và đa
dạng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống cũng như các dịch vụ mới với
công nghệ hiện đại.
Phương châm hoạt động của TCB là “ Techcombank chăm lo để bạn thành
công”
2.Điều kiện hoạt động
Với số vốn điều lệ chỉ hơn 117 tỷ, lại hoạt động trong một lĩnh vực luôn tồn tại
sự cạnh tranh khốc liệt nên TCB cũng vướng phải rào cản, gặp nhiều khó khăn thử

có một số lợi thế riêng được coi là những nhân tố chủ quan mang đến cho TCB
nhiều thành quả.
Trang 25

Trích đoạn Tình hình chi phí của Techcombank Kết hợp làm tốt các dịch vụ truyền thống: không ngừng đưa ra các dịch Tận dụng các nguồn lực, đặc biệt là nâng cao các nguồn vốn huy động tại HSC Việt Nam. Mở rộng mạng lưới khách hàng đi đôi với nâng cao chất lượng các khoản tín dụng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status