Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, trớc xu hớng hoà nhập và phát triển của kinh
tế thế giới, Việt Nam cũng đã mở rộng quan hệ thơng mại, hợp tác kinh tế với
rất nhiều nớc trong khu vực và thế giới. Đi cùng vơi sự mở cửa của nền kinh tế
là sự thay đổi của khung pháp chế. Hiện nay, pháp luật Việt Nam đang cố
gắng tạo ra sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế, Nhà nớc không còn bảo hộ cho các doanh nghiệp nhà nớc nh tr-
ớc đây nữa. Việc này tạo ra cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp trong nền
kinh tế nhng cũng lại đặt ra rất nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp nhà
nớc. Để tồn tại và ổn định đợc trên thị trờng đòi hỏi các doanh nghiệp nhà nớc
phải có sự chuyển mình, phải nâng cao tính tự chủ, năng động để tìm ra phơng
thức kinh doanh có hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao từ đó mới có đủ sức để
cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Kết quả TC là một chỉ tiêu chất lợng tổng hợp phản ánh đích thực tình
hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó liên quan chặt chẽ đến chi phí
bỏ ra và lợi nhuận sẽ đạt đợc, do đó nếu xác định đúng đắn kết qu doanh sẽ
giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp đánh giá theo dõi đợc hiệu quả sản xuất kinh
doanh từ đó đa ra những biện pháp hữu hiệu nhắm giúp cho doanh nghiệp
nâng cao đợc lợi nhuận.
Cùng với việc xác định kết quả kinh doanh, phân phối lợi nhuận cũng có
ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp. Việc phân phối sử dụng
đúng đắn, hợp ký kết quả kinh doanh sẽ đảm bảo cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp phát triển, đảm bảo cho yêu cầu quản lý vốn, phát triển sản
xuất kinh doanh, đảm bảo lợi ích kinh tế của Nhà nớc, của doanh nghiệp và
ngời lao động.
Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, việc xác định kết quả kinh doanh và
phân phối lợi nhuận cũng còn nhiều bất hợp lý gây nên các hiện tợng lãi giả
lỗ thật hoặc lỗ giả lãi thật, việc sử dụng các quỹ vốn còn nhiều tuỳ tiện cha
theo đúng mục đích của chúng. Do đó để khắc phục những mặt tồn tại nêu trên
yêu cầu kế toán với vai trò là công cụ quản lý kinh tế phải không ngừng hoàn
thiện, đặc biệt là kế toán kết quả kinh doanh và phân phối lợi nhuận.
1. Vai trò của kết quả kinh doanh:
Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh đều phải quan tâm đến hiêụ quả. Hiệu quả là chỉ tiêu chất lợng phản
ánh kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả đợc thể hiện tập
trung nhất ở chỉ tiêu lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt đợc trong một kỳ kinh
doanh hoặc một kỳ kế toán.
Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
mỗi doanh nghiệp vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị tr-
ờng, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển đợc hay không, điều quyết định là
doanh nghiệp có tạo ra đợc lợi nhuận hay không? Vì thế, lợi nhuận đợc coi là
đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời còn là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc thực hiện đợc chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo
cho tình hình tài chính của doanh nghiệp đợc vững chắc bởi vì lợi nhuận tác
động đến mọi hoạt động của doanh nghiệp, nó có ảnh hởng trực tiếp đến khả
năng thanh toán, khả năng chi trả, khả năng tái tạo nguồn vốn kinh doanh . . .
Lợi nhuận giúp doanh nghiệp có điều kiện để trang trải các khoản chi phí đã
bỏ ra, thanh toán đúng hạn các khoản tiền vay, lãi vay . . . trên cơ sở đó tăng
uy tín của doanh nghiệp đối với các đối tác quan hệ, điều này sẽ tạo thuận lợi
cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo.
Lợi nhuận còn là nguồn tích luỹ cơ bản để doanh nghiệp bổ xung vốn
trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi có lợi nhuận doanh nghiệp sẽ có điều
kiện để trích lập các quỹ: quỹ đầu t phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ trợ
cấp mất việc làm, quỹ khen thởng - phúc lợi , từ đó có điều kiện tái đầu t vào
quá trình sản xuất kinh doanh, đổi mới hiện đại hoá máy móc thiết bị, mở rộng
quy mô kinh doanh cũng nh có điều kiện cải thiện nâng cao đời sống cho cán
bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.
Lợi nhuận là phơng tiện để doanh nghiệp tận dụng, khai thác những tiềm
năng thế mạnh của mình, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trờng
và làm tròn trách nhiệm của mình với ba khách thể:
Doanh thu bán
hàng thuần
=
Doanh
thu gộp
-
Các khoản
giảm trừ
-
Thuế khâu tiêu
thụ
* Doanh thu gộp là toàn bộ tiền bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ trên thị trờng,
thu từ phần trợ giá của Nhà nớc khi thực hiện việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ
theo yêu cầu của Nhà nớc. Các hàng hoá, dịch vụ đem tặng, cho, biếu hoặc
4
Kết quả
bán hàng
Giá vốn
hàng bán
Chi phí
QLDN
Chi phí
bán hàng
Doanh thu bán
hàng thuần
= -
- -
tiêu dùng trong nội bộ doanh nghiệp cũng phải đợc hạch toán để xác định
doanh thu. Thời điểm để xác định doanh thu là khi ngời mua đã chấp nhận
thanh toán, không phụ thuộc đã thu tiền hàng hay cha.
Công thức xác định:
Kết quả hoạt Thu nhập hoạt Chi phí hoạt Thuế
động tài chính động tài chính động tài chính (nếu có)
5
--
=
Thu nhập hoạt động tài chính là số tiền thu đợc do lãi các hoạt động đầu
t tài chính, bao gồm:
- Lãi do mua bán chứng khoán
- Lợi tức cổ phần, lãi trái phiếu, tín phiếu
- Thu nhập cho thuê TSCĐ tài chính
- Thu lãi cho vay vốn
- Thu nhập do bán bất động sản
- Thu nhập đợc chia từ các hoạt động tham gia liên doanh
- Lãi do mua bán ngoại tệ
- Thu khoản chiết khấu đợc hởng do thanh toán sớm cho ngời bán.
- Thu từ các hoạt động đầu t khác . . .
- Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu t.
Chi phí hoạt động tài chính là các chi phí và các khoản lỗ liên quan đến
hoạt động về đầu t tài chính. Chi phí hoạt động đầu t tài chính bao gồm:
- Lỗ do mua bán chứng khoán
- Chi phí cho các hoạt động đầu t chứng khoán
- Lỗ do hoạt động liên doanh
- Chi chiết khấu bán hàng cho ngời mua do thanh toán sớm
- Chi phí hoạt động đầu t tài chính khác
- Chi phí dự phòng giảm giá đầu t
2.3. Kết quả hoạt động bất thờng:
Kết quả hoạt động bất thờng là khoản chênh lệch giữa thu và chi bất th-
ờng phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Công thức xác định:
KD sản xuất KD động tài chính động bất thờng
Đó là kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất
định. Nếu kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là một số dơng thì chứng tỏ
doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, ngợc lại chứng tỏ doanh nghiệp đã
không bảo toàn đợc nguồn vốn đầu t ban đầu.
3. Các nhân tố ảnh hởng đến kết quả kinh doanh:
Kết quả kinh doanh là kết quả tài chính cuối cùng do đó nó chịu ảnh h-
ởng của rất nhiều nhân tố, cả nhân tố chủ quan lẫn nhân tố khách quan. Trong
doanh nghiệp thơng mại thì kết quả kinh doanh chịu ảnh hởng chủ yếu của 3
nhân tố:
- Doanh thu bán hàng
- Giá vốn hàng bán
- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
3.1. ảnh hởng của doanh thu bán hàng đến kết quả kinh doanh:
Doanh thu bán hàng có ảnh hởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Nếu các nhân tố khác không thay đổi thì doanh thu bán hàng
càng lớn cho ta kết quả kinh doanh càng cao và ngợc lại. Doanh thu bán hàng
lại chịu ảnh hởng của rất nhiều nhân tố nh: thị trờng, giá cả, khối lợng hàng
7
= +
+
bán . . . do đó sự biến động của các yếu tố này cũng tác động không nhỏ đến
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Thị trờng là nơi thể hiện tập trung nhất, đầy đủ nhất mối quan hệ cung
cầu về hàng hoá, vì vậy phơng trâm kinh doanh của doanh nghiệp là phải hớng
ra thị trờng và do thị trờng quyết định. Doanh nghiệp không thể đa ra thị trờng
những hàng hoá có chất lợng thấp với giá cả cao hay là những hàng hoá không
phù hợp với thị hiếu của ngời tiêu dùng vì nh vậy cũng đồng nghĩa với việc
doanh nghiệp sẽ bị diệt vong, bị thị trờng đào thải. Doanh nghiệp chỉ có thể
tồn tại trên thị trờng để thực hiện mục tiêu của mình bằng cách tuân theo thị
với kết quả kinh doanh. Gía vốn hàng bán cao trong điều kiện giá bán hàng
hoá bị khống chế bởi sự cạnh tranh trên thị trờng sẽ làm lợi nhuận của doanh
nghiệp bị giảm xuống và ngợc lại. Do đó để tăng kết quả kinh doanh thì các
doanh nghiệp luôn cố gắng giảm giá vốn hàng bán.
Trong doanh nghiệp thơng mại, giá vốn hàng bán bao gồm: giá mua
hàng hoá, chi phí trực tiếp thu mua, bảo quản, phân loại, đóng gói, vận chuyển
. . . Giá mua hàng hoá là giá thoả thuận giữa doanh nghiệp với ngời bán và nó
phụ thuộc vào giá cả thị trờng vì thế doanh nghiệp khó có thể tự đa ra giá mua
theo chủ quan của mình. ở đây việc giảm giá vốn hàng bán chủ yếu đợc thực
hiện bằng cách tiết kiệm tối đa chi phí phát sinh trong quá trình thu mua hàng
hoá. Muốn vậy, doanh nghiệp cần phải lựa chọn đợc nguồn hàng thích hợp, tổ
chức khoa học hợp lý công tác mua hàng và dự trữ hàng hoá.
3.3. ảnh hởng của chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đến
kết quả kinh doanh:
3.3.1. Chi phí bán hàng:
Để đẩy nhanh tốc độ bán hàng, tăng doanh số tiêu thụ đòi hỏi doanh
nghiệp phải bỏ ra các khoản chi phí gọi là chi phí bán hàng. Chi phí bán hàng
là biểu hiện bằng tiền của các yếu tố phục vụ cho quá trình bán hàng và nó
phát sinh rất thờng xuyên trong các doanh nghiệp thơng mại. Có thể coi chi
phí bán hàng nh là một con dao hai lỡi đối với các doanh nghiệp, nếu biết sử
dụng hợp lý khoản chi phí này sẽ giúp cho doanh nghiệp đẩy mạnh tốc độ lu
chuyển hàng hoá, đánh bật các đối thủ cạnh tranh và tăng thị phần của doanh
nghiệp trên thị trờng từ đó có thể dễ dàng thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi
nhuận của mình. Nhng ngợc lại nếu sử dụng không hợp lý chi phí bán hàng
sẽ làm cho lợi nhuận giảm xuống, doanh nghiệp không có điều kiện mở rộng
quy mô kinh doanh và rất dễ bị các đối thủ cạnh tranh đánh bại. Vì thế khi sử
dụng khoản chi phí này đòi hỏi các doanh nghiệp phải rất quan tâm đến hiệu
quả mà nó mang lại, giảm tối đa các chi phí phát sinh bất hợp lý và các chi phí
không cần thiết ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của mình.
3.3.2. Chi phí quản lý doanh nghiệp:
mặt hàng kinh doanh có thể có nhiều nguồn cung cấp với giá cả khác nhau và
uy tín của từng hàng hoá đó cũng không giống nhau. Do đó, để có thể phục vụ
tốt nhất nhu cầu của khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có sự khôn
khéo trong việc lựa chọn nguồn cung cấp lý tởng. Chẳng hạn nguồn cung cấp
ổn định có chất lợng hàng hoá tốt, uy tín hàng hoá cao, vận chuyển gần, giá
mua vào hợp lý để có giá bán phù hợp, tiêu thụ đợc nhanh và chi phí lu thông
thấp từ đó sẽ làm tăng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Kinh nghiệm cho
thấy doanh nghiệp nên mua hàng ở nhiều nguồn hàng khác nhau để tránh sự
rủi ro trong kinh doanh nhng nên chọn một nguồn hàng chính để tận dụng đợc
sự u đãi của họ.
* Đẩy mạnh quá trình bán hàng:
Đây là một phơng hớng quan trọng để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để
đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ hàng hoá thì ngoài việc tổ chức tốt công tác mua
10
hàng, doanh nghiệp cần phải tổ chức tốt công tác marketing, nâng cao chất l-
ợng phục vụ , tích cực nghiên cứu thị trờng để chọn đúng mặt hàng kinh doanh
mà thị trờng cần, tích cực nghiên cứu đối thủ cạnh tranh để lựa chọn phơng án
kinh doanh thích hợp, đào tạo đội ngũ nhân viên bán hàng có trình độ nghiệp
vụ cao. Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải không ngừng mở rộng mặt hàng, đa
dạng hoá sản phẩm để đáp ứng tối đa nhu cầu của ngời tiêu dùng.
4.2. Tiết kiệm chi phí kinh doanh:
Hạ thấp chi phí kinh doanh gắn liền với nguyên tắc tiết kiệm, nhng nó
phải khác với việc cắt xén các khoản chi phí cần thiết phục vụ cho quá trình
tiêu thụ hàng hóa. Vì vậy, việc phấn đấu giảm tỉ suất chi phí cần có quan điểm
toàn diện. Hạ thấp chi phí kinh doanh thơng mại đồng thời phải hạ thấp chi phí
kinh doanh của xã hội và phải đảm bảo chất lợng cho ngời tiêu dùng. Các biện
pháp hạ thấp chi phí kinh doanh cũng bao gồm một loạt các biện pháp để tăng
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nh tăng mức lu chuyển hàng hoá, phân
bố tiêu thụ, tổ chức vận động hàng hoá hợp lý.
Phấn đấu tiết kiệm chi phí bán hàng trong tất cả các khâu mua vào, dự
thờng và những nguyên nhân khác làm giảm kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
II/ Nội dung và nguyên tắc phân phối lợi nhuận:
Sau một quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thu đợc một
khoản lợi nhuận nhất định và phải tiến hành phân phối số lợi nhuận đó. ở đây
không kể đến trờng hợp doanh nghiệp hoà vốn hay bị lỗ.
Phân phối lợi nhuận không phải là việc phân chia số tiền lãi một cách
đơn thuần mà là việc giải quyết tổng hợp các mối quan hệ kinh tế diễn ra đối
với doanh nghiệp.
Việc phân phối đúng đắn sẽ trở thành động lực thúc đẩy sản xuất kinh
doanh phát triển, sẽ tạo những điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp tục
công việc kinh doanh của mình.
Việc phân phối lợi nhuận phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau :
- Doanh nghiệp cần phải giải quyết hài hoà mối quan hệ về lợi ích giữa
nhà nớc, doanh nghiệp và công nhân viên, trớc hết cần làm nghĩa và hoàn
thành trách nhiệm đối với nhà nớc theo pháp luật quy định nh nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp phải giành phần lợi nhuận để lại thích đáng để giải
quyết các nhu cầu kinh doanh cuả mình, đồng thời chú trọng đảm bảo lợi ích
của các thành viên trong đơn vị mình.
1. Nội dung của việc thực hiện phân phối lợi nhuận:
Theo nghị định 59/CP ngày 3/10/1996 của chính phủ ban hành qui chế
quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nớc, lợi
nhuận thực hiện trong năm của doanh nghiệp sẽ đợc phân phối theo thứ tự sau:
Làm nghĩa vụ với Ngân sách nhà nớc dới hình thức nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp
Nộp tiền thu về sử dụng vốn ngân sách nhà nớc
12
Trừ các khoản tiền phạt vi phạm kỷ luật thu nộp ngân sách, tiền phạt vi
phạm hành chính, phạt vi phạm hợp đồng, phạt nợ quá hạn, các khoản chi phí
hàng kỳ doanh nghiệp tạm phân phối lợi nhuận tài chính theo nguyên tắc
không đợc phân phối sử dụng quá số kết quả thực tế trong kỳ hạch toán, cụ
thể:
* Thuế thu nhập doanh nghiệp:
13
=
=
+
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu, thu trực tiếp vào
thu nhập của doanh nghiệp. Việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp là một
sự điều tiết của nhà nớc đối với số lợi nhuận thu đợc của các đơn vị hoạt động
kinh doanh nhằm góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và động viên một phần
lợi nhuận của cơ sở kinh doanh cho ngân sách nhà nớc, bảo đảm sự đóng góp
công bằng, hợp lý giữa các thành phần kinh tế, kết hợp hài hoà giữa lợi ích của
nhà nớc và của ngời lao động.
Công thức xác định số thuế thu nhập phải nộp:
Thuế thu nhập Thu nhập chịu Thuế suất thuế
phải nộp thuế thu nhập
Trong đó thu nhập chịu thuế đợc xác định nh sau:
Thu nhập chịu Doanh thu tính Chi phí Thu nhập
Thuế thuế hợp lý thuế khác
# Doanh thu tính thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ và
bao gồm các khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh đợc hởng.
Đối với cơ sở kinh doanh tính thuế giá trị gia tăng theo phơng pháp khấu trừ
thuế thì doanh thu tính thu nhập chịu thuế không bao gồm thuế giá trị gia tăng,
còn đối với cơ sở kinh doanh tính thuế giá trị gia tăng theo phơng pháp trực
tiếp thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ giá trị bên mua thanh
toán đã bao gồm thuế giá trị gia tăng.
và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định về chính sách khen th-
ởng của Nhà nớc và doanh nghiệp dới các hình thức sau:
- Khen thởng cuối năm hoặc thờng kỳ cho cán bộ công nhân viên trong
doanh nghiệp
- Thởng đột suất cho những cá nhân tập thể trong doanh nghiệp có những
sáng kiến cải tiến kỹ thuật mang lại hiệu quả kinh doanh.
- Thởng cho những cá nhân của đơn vị ngoài doanh nghiệp có quan hệ hợp
đồng kinh tế đã hoàn thành tốt những điều kiện của hợp đồng, có đóng góp
nhiều cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Trích nộp để hình thành quỹ khen thởng tập trung của công ty.
+ Quỹ phúc lợi dùng để:
- Đầu t xây dựng hoặc sửa chữa các công trình phúc lợi của doanh nghiệp.
- Chi cho các hoạt động phúc lợi công cộng của tập thể công nhân viên
doanh nghiệp, phúc lợi xã hội.
- Góp một phần vốn để đầu t xây dựng các công trình phúc lợi chung trong
ngành, hoặc các đơn vị khác theo hợp đồng.
- Trích nộp để hình thành quỹ phúc lợi tập trung của tổng công ty.
2. Nguyên tắc phân phối lợi nhuận:
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện đợc trong kỳ chỉ đợc
phân phối chính thức khi báo cáo quyết toán năm đợc duyệt. Nhng trong kỳ để
đảm bảo nhu cầu của doanh nghiệp Nhà nớc cho phép doanh nghiệp đợc tạm
phân phối lợi nhuận cho các đối tợng có liên quan nh: ngời lao động, các bên
liên doanh, các cổ đông, Nhà nớc vì vậy quá trình phân phối lợi nhuận của
doanh nghiệp đợc tiến hành theo 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Tạm phân phối theo kế hoạch đợc tiến hành hàng tháng,
hàng quý. Số tạm phân phối đợc chia nh sau: Thuế và khoản thu trên vốn phải
nộp hết; các khoản còn lại không đợc vợt quá 70% số lợi nhuận còn lại trong
kỳ.
Giai đoạn 2: Phân phối chính thức khi quyết toán năm đợc duyệt. Doanh
nghiệp tiến hành tổng hợp và điều chỉnh số đợc phân phối trong kỳ, nếu cần
TK 911 cuối kỳ không có số d.
* TK 421 - Lợi nhuận cha phân phối:
Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình phân phối lợi nhuận của doanh
nghiệp trong kỳ. Nội dung ghi chép của tài khoản này nh sau:
Bên nợ: - Phân phối lợi nhuận
- Lỗ của hoạt động kinh doanh và hoạt động khác.
Bên có: -Lợi nhuân của hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động
khác.
16
- Xử lý các khoản lỗ trong kinh doanh.
Số d có: Lợi nhuận cha phân phối ở cuối kỳ
Số d nợ: Số lỗ cha xử lý.
* Ngoài ra kế toán kết quả kinh doanh cò sử dụng các tài khoản có liên
quan nh:
TK 632 - Giá vốn hàng bán
TK 511 - Doanh thu bán hàng
TK 641 - Chi phí bán hàng
TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp
TK 711 - Thu nhập hoạt động tài chính
TK 721 - Thu nhập hoạt động bất thờng
TK 811 - Chi phí hoạt động tài chính
TK 821 - Chi phí hoạt động bất thờng
* Kế toán phân phối lợi nhuận còn sử dụng các tài khoản:
TK 3334 - Thuế thu nhập doanh nghiệp
TK 3335 - Thu trên vốn
TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh
TK 414 - Quỹ đầu t phát triển
TK 415 - Quỹ dự phòng tài chính
TK 416 - Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm
TK 431 - Quỹ khen thởng, phúc lợi.
Thuế phải nộp ngân sách TK 411,138,415
(tạm nộp và nộp bổ xung)
Quyết định xử lý lỗ ( trừ
vào vốn kinh doanh, quỹ
dự phòng hay các thành
18
viên phải bù lỗ)
TK338,111,112
TK 333, 414
Tạm chia và chia bổ xung cho 415,416,431
các thành viên (cổ đông,liên
doanh . . . ) Số tạm phân phối cho các
lĩnh vực lớn hơn số phải
phân phối khi quyết toán
TK 414,415,416,431 năm chính thức đợc duyệt
Lập các quỹ xí nghiệp (tạm
trích và trích bổ xung)
TK 411
Bổ xung vốn kinh doanh
4. Sổ sách sử dụng:
Để phản ánh nghiệp vụ xác định kết quả kinh doanh và phân phối lợi
nhuận, kế toán sử dụng các sổ sách sau:
- Nhật ký chung (nếu DN áp dụng hình thức sổ kế toán Nhật ký chung)
- Nhật ký - sổ cái (nếu DN áp dụng hình thức sổ sách kế toán Nhật ký -
chứng từ)
-Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ (hình thức sổ kế toán Chứng từ ghi sổ)
- Nhật ký - chứng từ (hình thức sổ kế toán Nhật ký - chứng từ)
- Sổ cái TK 911, TK 421
- Các sổ chi tiết liên quan đến TK 414, 415, 416, 431.
phải ghi hoá đơn, hoặc nếu ngời mua yêu cầu không phải ghi hoá đơn thì ngời
bán cũng phải ghi vào bảng kê bán hàng theo hớng dẫn của cơ quan thuế. Việc
quản lý doanh thu có hiệu quả, đầy đủ, chính xác cũng chính là việc quản lý
tốt kết quả kinh doanh.
Quản lý tốt chi phí kinh doanh phát sinh trong doanh nghiệp cũng là một
yêu cầu cần thiết. Hiện nay các doanh nghiệp rất quan tâm đến việc làm thế
nào để hạ thấp tỉ suất chi phí nhằm tăng kết quả kinh doanh. Tỉ suất chi phí là
một chỉ tiêu chất lợng quan trọng phản ánh trình độ quản lý của doanh nghiệp
trong đó kế toán là một công cụ quan trọng. Vai trò của kế toán không chỉ
dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà kế toán còn phải giúp DN trong việc
quản lý chi phí, đặc biệt là chi phí QLDN. Kế toán cần phải phát hiện và ngăn
chặn những chi phí phát sinh bất hợp lý, những chi phí không cần thiết gây ra
tình trạng lãng phí cho DN. Các chi phí cần phải đợc phản ánh đúng, đủ, kịp
thời vào sổ sách, chứng từ kế toán tránh tình trạng thâm hụt, chi tiêu không có
cơ sở.
Để quản lý tốt kết quả kinh doanh của DN ta không thể không nói đến
công tác quản lý chi phí và thu nhập ở từng đơn vị bộ phận trong DN. Trong
20
từng bộ phận sản xuất kinh doanh của DN, kế toán cùng với bộ phận quản lý
phải lập phơng án quản lý tốt chi phí và thu nhập của bộ phận mình góp phần
thực hiện mục tiêu chung của toàn DN. Hàng tháng hoặc hàng quý, kế toán
các đơn vị bộ phận phải lập kế hoạch chi tiêu, những khoản chi nào không cần
thiết thì không đợc phép chi. Tuỳ theo đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng
DN mà có biện pháp quản lý chi phí, thu nhập riêng nhng nhìn chung ta phải
nhấn mạnh đến vai trò của tổ chức hệ thống chứng từ, sổ chi tiết chi phí, thu
nhập theo bộ phận. Nó có tác dụng to lớn trong công tác xác định chính xác
chi phí, thu nhập của từng bộ phận từ đó cho ta một kết quả kinh doanh đáng
tin cậy.
1.2. Yêu cầu quản lý phân phối lợi nhuận:
Sau khi đã xác định và quản lý tốt kết quả kinh doanh thì yêu cầu đặt ra
- Tổ chức hạch toán chi tiết theo từng khoản thu nhập, đảm bảo đánh giá
đúng đắn hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN.
- Tính toán xác định việc phân chia lợi nhuận rõ ràng theo các nguyên tắc
của chế độ kế toán, xác định phản ánh đúng, đủ nghĩa vụ đối với Nhà nớc và
đảm bảo lợi ích của DN, lợi ích của ngời lao động.
- Phản ánh đầy đủ kịp thời nghiệp vụ trong quá trình tạm phân phối và phân
phối lợi nhuận của DN.
V/ ý nghĩa của việc hoàn thiện quá trình hạch toán kế toán kết quả kinh
doanh và phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp th ơng mại:
1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện kế toán kết quả kinh doanh và phân
phối lợi nhuận:
Trong nền kinh tế thị trờng, DN muốn khẳng định đợc vị trí của mình thì
cần phải làm ăn có lãi từ đó ngày càng mở rộng quy mô kinh doanh. Muốn
vậy DN phải hạch toán lấy thu bù chi, ngoài thu nhập bù đắp chi phí còn phải
thu đợc lợi nhuận. Hạch toán kinh tế là nhân tố kích thích sự sáng tạo trong
quá trình kinh doanh, nó góp phần đem lại hiệu quả cao nhất cho DN.
Kế toán là một bộ môn khoa học về quản lý, là một bộ phận của hệ
thống lý luận quản lý kinh tế tài chính. Vai trò của nó đợc thể hiện nh sau:
Kế toán với chức năng của mình sẽ cung cấp đầy đủ toàn bộ các thông
tin về hoạt động kinh tế tài chính tại DN nhằm giúp cho các nhà quản lý điều
hành và giám sát các hoạt động kinh tế tài chính.
Kế toán phản ánh đầy đủ tài sản hiện có cũng nh sự vận động tài sản ở
đơn vị qua đó giúp DN quản lý chặt chẽ tài sản.
Kế toán phản ánh đầy đủ các khoản chi phí bỏ ra trong quá trình kinh
doanh cũng nh kết quả do nó mang lại nhằm kiểm tra việc thực hiện bù đắp
chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp.
Kế toán phản ánh đợc cụ thể từng loại tài sản, nguồn vốn giúp cho việc
kiểm tra giám sát tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn và tính chủ động trong
kinh doanh.
Kế toán phản ánh đợc kết quả của ngời lao động giúp cho việc khuyến
tế phát sinh trong quá trình hoạt động của DN, làm cơ sở để hạch toán tổng
hợp và hạch toán chi tiết.
Các hoạt động diễn ra trong các DN đều hớng tới mục tiêu lợi nhuận do
đó tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải đợc kế toán phản ánh để xác
định xem lãi hay lỗ. Việc tổ chức tốt công tác hạch toán ban đầu ở các bộ phận
là rất quan trọng để thu nhận những thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác cho
các giai đoạn hạch toán tiếp theo. Công tác hạch toán ban đầu cần phải thực
hiện những nội dung sau:
23
- Xuất phát từ những thông tin kinh tế phát sinh trong DN kế toán căn cứ vài
hệ thống chứng từ theo qui định của Bộ tài chính để lập danh mục các chứng
từ sử dụng trong hạch toán ban đầu với từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở
từng bộ phận.
Đối với kế toán kết quả kinh doanh và phân phối lợi nhuận thì những thông
tin ban đầu thờng là những thông tin về doanh thu, chi phí và các thông tin liên
quan đến quá trình phân phối thu nhập nh: việc nộp thuế thu nhập DN, thuế
vốn, phân phối lợi nhuận vào các quỹ . . .
- Phân công cụ thể và quy định rõ trách nhiệm của từng ngời trong việc ghi
nhận thông tin của từng loại nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào chứng từ
ban đầu phù hợp.
- Phòng kế toán của DN có trách nhiệm hớng dẫn việc ghi chép ban đầu củ
tất cả các bộ phận trong DN và trách nhiệm xây dựng các chơng trình luân
chuyển chứng từ thích hợp đối với từng loại chứng từ ban đầu.
Với nội dung của công tác hạch toán ban đầu và những thông tin kinh tế
phát sinh trong kế toán xác định kết quả kinh doanh và phân phối lợi nhuận,
kế toán phải xây dựng hệ thống chứng từ phản ánh những thông tin đó.
Chứng từ kế toán là phơng tiện chứng minh tính hợp pháp của nghiệp vụ
kinh tế, đồng thời nó còn là phơng tiện thông tin phục vụ cho nhu cầu quản lý.
Chứng từ phải đợc lập theo đúng quy định, ghi chép đầy đủ, kịp thời đúng với
sự thực của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Hệ thống tài khoản kế toán DN đợc ban hành theo quyết định số
1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 và đã đợc sửa đổi bổ xung. Hiện nay hệ
thống tài khoản kế toán có 74 tài khoản cấp I với nhiều tài khoản cấp II và có
7 tài khoản ngoài bảng.
Trên cơ sở các thông tin về: Doanh thu thuần, giá vốn hàng bán, chi phí
bán hàng, chi phí QLDN và các thông tin về phân phối lợi nhuận nh: nộp thuế
thu nhập DN, nộp thuế vốn, trích lập các quỹ xí nghiệp . . . Kế toán kết quả
kinh doanh và phân phối lợi nhuận nghiên cứu hệ thống tài khoản kế toán để
phản ánh các thông tin trên cho thật khoa học.
Việc phản ánh và theo dõi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên các tài
khoản tổng hợp vẫn cha đủ. Trong quá trình sản xuất kinh doanh việc hạch
toán chi tiết kết quả kinh doanh theo từng nhóm hàng, mặt hàng, từng hợp
đồng là rất cần thiết giúp cho cán bộ quản lý biết đợc kết quả kinh doanh cụ
thể của từng nhóm hàng, từng mặt hàng. Từ đó giúp DN có những phơng án
kinh doanh mới.
Để theo dõi chi tiết kết quả kinh doanh theo từng nhóm hàng, mặt hàng,
từng hợp đồng kinh tế kế toán phải xây dựng một hệ thống tài khoản chi tiết
để phản ánh bằng cách mở các tài khoản cấp 3, cấp 4. Tuỳ thuộc vào đặc điểm
kinh doanh của từng DN mà kế toán nghiên cứu hệ thống tài khoản chi tiết cho
thật khoa học và phù hợp.
Chẳng hạn TK 911 Xác định kết quả kinh doanh có thể mở chi tiết cho
từng loại hoạt động (hoạt động bán hàng, hoạt động tài chính, hoạt động bất
thờng . . .) trong đó lại đợc theo dõi chi tiết theo từng loại hàng hoá, từng
25