MỤC LỤC
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN......................................67
TẠI NGÂN HÀNG ĐẠI DƯƠNG...............................................................67
LỜI MỞ ĐẦU
Để có thể tồn tại và phát triển, các ngân hàng thương mại phải lựa chọn
cho mình con đường đi phù hợp nhất, từng bước khẳng định uy tín và thương
hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Phương pháp tốt nhất giải quyết
vấn đề của mình trong bối cảnh hiện nay là các ngân hàng thương mại phải tăng
cường họat động huy động vốn để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của
đất nước, từ đó có thể đảm bảo khả năng thanh tóan, phát triển các hoạt động
đầu tư và cho vay, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình
Hiện nay ngân hàng Đại Dương đang xây dựng được mối quan hệ khá
tốt với khách hàng của mình trên thị trường cho vay. Tuy nhiên tình hình huy
động vốn vẫn gặp phải những khó khăn nhất định ảnh hưởng nghiêm trọng
đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng. Trên thực tế cho thấy các khoản huy
động của Đại Dương chưa mang tính chiều sâu, phạm vi huy động chưa được
mở rộng và chưa mang tính chủ động cao. Đặc biệt trong tình hình tài chính
căng thẳng và nhiều biến động như hiện nay thì ngân hàng nào huy động vốn
tốt, ngân hàng nào có nguồn vốn dồi dào thì họ sẽ đạt nhiều thành công.
Nhận thức được tầm quan trọng của vốn huy động trong sự phát triển
của ngân hàng, nhất là những thời điểm diễn biến tình hình tài chính biến động
như hiện nay và tính cấp thiết của hoạt động huy động vốn trong thời điểm hiện
nay, em đã chọn đề tài nghiên cứu “Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Đại Dương”. Đề tài có kết cấu gồm 3 phần:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn của
Ngân hàng Thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại ngân Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Đại Dương.
Chương 3: Giải pháp để tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Đại Dương
tổng vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập
một ngân hàng. Với chức năng bảo vệ, nguồn vốn này được coi như tài sản
đảm bảo gây lòng tin đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh tóan trong
trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ.
Nguồn vốn hình thành ban đầu
Một NHTM muốn bắt đầu hoạt động thì ngân hàng đó phải đáp ứng
được yêu cầu của NHNN về mức vốn pháp định. Vốn pháp định là mức
vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng do pháp luật quy định. Khác
với vốn pháp định, vốn điều lệ lại là vốn do các cổ đông đóng góp và được
ghi vào điều lệ hoạt động của ngân hàng và theo quy định tối thiểu phải
bằng vốn pháp định. Khi ngân hàng bứơc vào hoạt động thì nguồn vốn này
được thể hiện dưới dạng văn phòng, trụ sở, trang thiết bị, dự trữ…, và ngân
hàng không được phép sử dụng vốn này chia lợi tức hay trích lập quỹ phúc lợi
khen thưởng.
Theo Nghị định số 141/2006/NĐ- CP ban hành ngày 22 tháng 11 năm
2006 của Chính phủ quy định, mức vốn pháp định đối với NHTM Nhà nước,
đầu tư là 3.000 tỷ đồng; các NHTM cổ phần, liên doanh, hợp tác, 100% vốn
nước ngoài và Quỹ tín dụng nhân dân TƯ là 1.000 tỷ (3.000 tỷ vào 2010).
Vốn pháp định của chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 15 triệu USD…
Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng, vốn điều lệ không phải
luôn giũ cố định mà vẫn được bổ sung và tăng dần theo các hình thức: ngân
sách nhà nước cấp thêm, huy động thêm từ các cổ đông, lợi nhuận tích lũy…
tùy thuộc vào điều kiện cụ thể.
3
Cổ phần phát hành thêm, ngân sách nhà nước cấp thêm
Để mở rộng quy mô hoạt động, tăng cường khả năng chống đỡ rủi ro các
NHTM cổ phần có thể huy động thêm vốn bằng con đường phát hành thêm cổ
phiếu (có thể là cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu ưu đãi), các NHTM thuộc sở
hữu nhà nước có thể xin cấp thêm vốn ngân sách, các ngân hàng tư nhân hay
trong quá trình kinh doanh sau khi đã được bù đắp bằng tiền bồi thường của
các cá nhân, tổ chức gây ra tổn thất, của các tổ chức bảo hiểm và sử dụng dự
phòng trích lập từ chi phí. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quỹ này
được trích bằng 10% lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp và đã trừ đi
các khoản phải trừ như trích quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự trữ bổ sung vốn
điều lệ. Số dư tối đa của quỹ này bằng 25% vốn điều lệ của NHTM
Ngòai ra, các NHTM còn có thể trích lập các quỹ sau:
Quỹ bảo tòan vốn
Khi nền kinh tế có lạm phát, quỹ này nhằm bảo toàn vốn bằng cách tăng
quy mô vốn tự có của ngân hàng. Khi nền kinh tế ổn định, các NHTM có thể
không cần lập quỹ này.
Quỹ thặng dư vốn
Đối với các NHTM cổ phần trong đợt phát hành cổ phần mới, nếu thị
giá của cổ phiếu mà lớn hơn mệnh giá của cổ phiếu đó thì phần chênh lệch
giữa thị giá và mệnh giá được ngân hàng hạch toán vào quỹ thặng dư vốn.
Quỹ đánh giá lại
Do giá trị thị trường của các tài sản đặc biệt mà ngân hàng nắm giữ như
bất động sản, chứng khoán… có xu hướng biến động mạnh trong từng thời kì
5
khác nhau nên quỹ này nhằm ghi chép phần chênh lệch do đánh giá lại giá trị
của các tài sản và nợ của ngân hàng. Dựa vào quỹ này, nhà quản lý ngân hàng
có thể theo dõi và đánh giá giá trị thị trường của nguồn vốn chủ sở hữu.
Các quỹ khác
Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
Các khoản vay trung và dài hạn của NHTM có khả năng chuyển đổi
thành vốn cổ phần như trái phiếu có khả năng chuyển đổi có thể được coi là
một bộ phận của vốn chủ sở hữu của ngân hàng (vốn bổ sung) do một số đặc
điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa đất đai và có thể không
phải hoàn trả khi đến hạn. Nguồn vốn này thực sự là một công cụ hữu hiệu
đối với ngân hàng trong việc gia tăng vốn chủ sở hữu mà lại không làm mất đi
Nhìn chung, lãi suất của khoản tiền này rấy thấp hoặc bằng không, thay vào
đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp.
Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng.
Tiền gửi có kì hạn
Nhiều khỏan thu bằng tiền của doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cá nhân sẽ
được chi trả sau một thời gian xác định. Vì thế trong một khoảng thời gian
nhất định, các tổ chức, cá nhân này có một khoản tiền nhàn rỗi muốn gửi vào
ngân hàng nhằm mục đích an toàn và gia tăng thu nhập. Tiền gửi thanh toán
tuy rất thuận tiện cho hoạt động thanh toán song lãi suất lại thấp. Để đáp ứng
nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có
kì hạn.
Tiền gửi tiết kiệm
Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của một tầng lớp dân cư chưa
sử dụng cho tiêu dùng. Họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích lũy tiền một
7
cách an toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó. Tiền gửi tiết kiệm là một
dạng đặc biệt để tích lũy tiền tệ trong lĩnh vực tiêu dùng cá nhân. Trên thực
tế, trong nền kinh tế thị trường, tiền gửi tiết kiệm được phát triển thành hai
loại hình tiết kiệm: tiền gửi tiết kiệm không kì hạn và tiền gửi tiết kiệm có kì
hạn. Khoản tiền gửi tiết kiệm không kì hạn là khoản tiền gửi tiết kiệm có thể
rút ra bất kì lúc nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi
trả cho người khác. Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn là khoản tiền có sự thỏa thuận
về thời hạn gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi tiết kiệm
không kì hạn. Hình thức tiền gửi này được ngân hàng đa dạng hóa thành các
kì hạn với các mức lãi suất tương ứng khác nhau, thỏa mãn tốt nhất yêu cầu
của mọi đối tượng khách hàng.
1.1.3.Nguồn vốn đi vay
Tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng. Tuy nhiên, khi
các ngân hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ vốn hoạt động
thì các NHTM sẽ đi vay vốn để bổ sung vào vốn hoạt động của mình. Vốn đi
thương phiếu. Các thương phiếu này phải là các thương phiếu có chất lượng,
tức là phải thỏa mãn những điều kiện: hợp pháp, hợp lệ, đảm bảo an toàn, thời
gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao và phù hợp với mục tiêu của ngân
hàng. Tái cấp vốn bao gồm hai hình thức:
- Cho vay tái chiết khấu: Ngân hàng Nhà nước nhận các thương phiếu
mà các NHTM đã chiết khấu trước đây để thực hiện các nghiệp vụ giống như
trước đây các NHTM đã làm. Tuy nhiên, việc cho vay tái chiết khấu đối với
các NHTM đã được giới hạn trong mức cho phép (hạn mức tái chiết khấu) để
thực hiện chính sách tiền tệ của Nhà nước.
9
- Cho vay có đảm bảo: là hình thức các NHTM đem các thương phiếu
đến Ngân hàng Nhà nước để làm đảm bảo xin vay vốn. Căn cứ trên tổng
mệnh giá các chứng từ có giá làm đảm bảo, Ngân hàng Nhà nước sẽ cho vay
theo tỷ lệ nhất định tùy theo sự quản lý của Nhà nước.
Vay các tổ chức tín dụng khác
Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức
tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng do trong quá trình hoạt động,
cũng có lúc các NHTM thiếu hụt dự trữ hoặc thiếu tiền mặt, buộc phải vay
mượn các tổ chức tín dụng khác. Các tổ chức tín dụng đang có dự trữ vượt
yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm
cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao
hơn. Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức
thời để đảm bảo thanh toán. Như vậy nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác
là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó
bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ ngân hàng Nhà nước. Quan hệ
vay mượn này diễn ra khá thường xuyên nhưng chỉ trong một thời gian ngắn
thường là dưới một tuần hoặc chỉ trong vài ngày do tính chất của các khoản vay
này là đáp ứng nhu cầu trước mắt, hoặc do các NHTM không muốn lạm dụng
hình thức vay mượn này. Quá trình vay mượn rất đơn giản.
Vay trên thị trường
Bao gồm các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán như lương chưa trả,
thuế chưa nộp…
1.2.Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.1.Sự cần thiết của hoạt động huy động vốn
Vốn là những giá trị tiền tệ do doanh nghiệp tạo lập hoặc huy động được,
11
là biểu hiện bằng tiền giá trị của các tài sản hữu hình, tài sản vô hình, tài sản
tài chính được đầu tư vào các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh,
đối ngoại, trong đó chủ yếu là bỏ vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
nhằm tạo ra lợi nhuận. Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động
kinh doanh được thì điều kiện trước nhất là phải có vốn, bởi vì vốn phản ánh
năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Với đặc thù là kinh
doanh chủ yếu dựa trên đồng vốn vay mượn của người khác, nguồn vốn có
vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống còn của NHTM
Vốn là cơ sở để các NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Ngân hàng không có vốn thì không thể thực hiện được các nghiệp vụ
kinh doanh. Vốn là điều kiện bắt buộc đối với các NHTM để được phép hoạt
động. Ngay từ khi bước vào hoạt động, các ngân hàng cần vốn để mua đất
đai, xây dựng cở sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, và những điều kiện làm
việc khác. Và với đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là
phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của
NHTM.
Vốn quyết định quy mô của ngân hàng trong hoạt động tín dụng và
các hoạt động khác
Vốn của ngân hàng có tính chất quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp
quy mô hoạt động tín dụng, đầu tư của ngân hàng, khả năng thanh tóan, chi
trả cũng như các họat động khác. Thông thường, so với các ngân hàng lớn,
các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn, phạm
vi và đối tượng cho vay của các ngân hàng này cũng nhỏ hơn. Trong khi đó,
các ngân hàng lớn dễ dang mở rộng phạm vi cho vay, không chỉ trên địa bàn
loại khác nhau.
1.2.2.1.Theo đối tượng huy động
Huy động vốn từ dân cư
13
Trong nền kinh tế phát triển, đời sống dân cư được nâng cao thì ngoài
khỏan tiền tiêu dùng, các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời
nhàn rỗi. Nhằm mục đích đảm bảo an toàn và sinh lời, họ có thể sử dụng các
hình thức đầu tư như mua vàng, ngoại tệ mạnh, bất động sản, cổ phiếu hay
trái phiếu. Các hình thức này mặc dù mang lại nguồn lợi nhuận cao nhưng lại
tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn. Do đó, trong đại bộ phận dân chúng thì đều chọn
hình thức gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng vừa được đảm bảo an toàn, vừa có
thể thu được một khoản lợi tức nhất định. Tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng tiền
mặt mà khách hàng có thể lựa chọn các hình thức gửi tiền khác nhau với các
kì hạn khác nhau.
Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế, các tổ chức tín dụng và các tổ
chức khác
Đây là khoản tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng trong
và ngoài nứơc, các tổ chức xã hội khác như cơ quan nhà nước, đơn vị vũ
trang, tổ chức chính trị xã hội… Phần lớn mục đích của nguồn tiền gửi này là
nhằm mục tiêu thanh tóan, hưởng các dịch vụ của ngân hàng. Bên cạnh đó,
còn nhằm mục đích sinh lời đối với khỏan tiền nhàn rỗi chưa cần sử dụng.
1.2.2.2.Theo phương thức huy động
Huy động tiền gửi
Tiền gửi không kỳ hạn
Đây là khoản tiền mà người gửi có thể rút ra sử dụng bất cứ lúc nào và
ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu đó của khách hàng. Tiền gửi không kỳ hạn
có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi. Tùy theo mục đích gửi tiền mà người
ta phân chia thành tiền gửi thanh toán và tiền gửi không kỳ hạn thuần túy
- Tiền gửi thanh toán: đây là khoản tiền gửi thanh toán của các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân gửi vào ngân hàng trước hết được sử dụng để tiến
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền
có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc
15
nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có
thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận
tiền gửi tiết kiệm.
Phát hành giấy tờ có giá
Các giấy tờ có giá là các công cụ Nợ do ngân hàng phát hành để huy
động vốn trên thị trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định để sự dụng cho
một mục đích nào đó. Các giấy tờ có giá do NHTM phát hành bao gồm kỳ
phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi.
1.2.2.3.Theo thời gian huy động
Ngắn hạn
Các khoản huy động có thời gian dưới 12 tháng được gọi là các khoản
huy động ngắn hạn. Tùy theo chiến lược phát triển cũng như mức độ đa dạng
hóa các sản phẩm tiền gửi của các NHTM mà có thể chia nhỏ các kỳ hạn theo
ngày, tuần, tháng, quý. Đối với khoản tiền gửi này, tỷ lệ dự trữ bắt buộc
thường cao. Theo quyết định của thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc điều
chỉnh dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng ban hành ngày 16 tháng 1
năm 2008 thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với loại tiền gửi có kỳ hạn dưới 12
tháng là 11% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc. Đây là nguồn tiền
thường được khách hàng ưa chuộng nên chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn
huy động.
Trung và dài hạn
Do ngân hàng chủ yếu là cho vay dài hạn nên để nâng cao khả năng
thanh khoản cũng như hạn chế rủi ro lãi suất, các NHTM thường huy động
các nguồn tiền trung hạn (từ 12 tháng đến dưới 60 tháng) và dài hạn (từ 60
tháng trở lên). Do kỳ hạn dài nên lãi suất chi trả cho nguồn tiền này thường
cao. Theo quyết định của thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc điều chỉnh
mô đầu tư, cho vay của NHTM. Việc tăng cường trong công tác HĐV là
17
nhiệm vụ hàng đầu mà các ngân hàng đặt ra.
Lượng vốn huy động hàng năm phải lớn, chi phí bỏ ra ít nhưng vẫn thu
hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các TCTD hay các TCKT. Nguồn
vốn huy động phải đáp ứng nhu cầu đầu tư, cho vay của ngân hàng. Lợi
nhuận mang lại từ nguồn vốn huy động phải đạt được so với các chỉ tiêu mà
ngân hàng đặt ra. Tránh tình trạng huy động vốn một cách ồ ạt nhưng lại
không được mang ra sử dụng, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh
doanh. Nguồn vốn huy động phải phù hợp với công tác sử dụng vốn thì hoạt
động kinh doanh mới có hiệu quả.
1.2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng
thương mại
Để đánh giá hiệu quả vốn huy động, cần xem xét các chỉ tiêu: Mức độ
tăng trưởng vốn ổn định, quy mô vốn phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn, chi
phí vốn, kỳ hạn vốn hợp lý.
a. Mức tăng trưởng ổn định của vốn huy động
Vốn huy động tăng trưởng ổn định theo thời gian sẽ đáp ứng nhu cầu tín
dụng cũng như hoạt động kinh doanh khác ngày càng tăng của ngân hàng.
Nếu ngân hàng huy động được một lượng vốn đủ lớn phù hợp với quy mô và
nhu cầu của mình, thì giả sử như khi có một lượng tiền lớn bị rút ra cũng sẽ
không gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của ngân hàng, ngân hàng sẽ không
gặp khó khăn trong vấn đề thanh khoản. Vốn huy động tăng trưởng ổn định sẽ
khẳng định được vị thế uy tín và thương hiệu của ngân hàng. Một ngân hàng
có đủ tiềm năng về tài chính cũng như uy tín mới có thể giữ được mức tăng
trưởng về huy động vốn ổn định qua các năm. Tính ổn định của vốn huy động
quyết định một phần an toàn trong kinh doanh ngân hàng và thời hạn tín
dụng. Nó phản ánh khả năng tìm kiếm các khoản nợ mới nhanh chóng với lãi
suất thấp nhằm tăng cường khả năng thanh khoản cho ngân hàng. Vốn huy
động tăng trưởng ổn định sẽ tạo lập và định hướng chiến lược kinh doanh cụ
thị trường tiền tệ để bổ xung thanh khoản. Nếu cung thanh khoản lớn hơn cầu
thanh khoản thì ngân hàng vẫn còn dư vốn, ngân hàng nên tiếp tục đầu tư có
hiệu quả nguồn vốn khả dụng cho tới khi yêu cầu thanh khoản mới xuất hiện.
Nếu cung thanh khoản nhỏ hơn cầu thanh khoản thì ngân hàng phải có kế
hoạch bổ xung nguồn vốn khả dụng từ các nguồn khác nhau sao cho chi phí
thấp nhất. Thanh khoản mang tính thời điểm đòi hỏi ngân hàng phải hết sức
thận trọng vì khách hàng có thể rút tiền ra bất cứ khi nào. Thanh khoản mang
tính thời kỳ bao giờ cũng gắn với tính chất và chu kỳ do đó ngân hàng có thể
sử dụng nhiều nguồn để đáp ứng.
Mặt khác, mục đích của ngân hàng là huy động để cho vay và đầu tư,
nên ngân hàng thường tìm cách khai thác và sử dụng tối đa số vốn và huy
động để sử dụng hiệu quả cao nhất chi phí vốn đã bỏ ra, mang lại nhiều nhất
lợi nhuận cho ngân hàng. Nếu huy động vốn nhiều nhưng sử dụng vốn ít thì
kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng sẽ không có hiệu quả. Tuy
nhiên điều này cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng phải đối mặt với những
nguy cơ rủi ro cao, do đó các ngân hàng phải cân nhắc kỹ xem nên huy động
vốn ở mức nào để đảm bảo hoạt động có hiệu quả mà vẫn an toàn .
Hơn thế nữa, tỷ trọng các loại vốn ngắn hạn, trung dài hạn, nội tệ ngoại
tệ ở mức hợp lý, phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Bất cứ một
sự không phù hợp nào về kỳ hạn cũng sẽ mang lại bất lợi cho ngân hàng. Nếu
không có sự phù hợp về loại tiền, ngân hàng sẽ chịu chi phí để chuyển đổi từ
nguồn tiền đã được huy động sang loại tiền cần sử dụng và như vậy thì có thể
gặp rủi ro về tỷ giá. Nếu không có sự phù hợp về kỳ hạn giữa huy động vốn
và sử dụng vốn thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro về kỳ hạn. Đây là những nguy cơ
tiềm ẩn mà ngân hàng phải đối mặt khi sử dụng các kế hoạch huy động vốn.
c. Chi phí huy động vốn bình quân hợp lý:
Đây là yếu tố quyết định đến hiệu quả của hoạt động huy động vốn vì nó
quyết định trực tiếp tới phương thức sử dụng vốn và đặc biệt hơn cả là lợi
20
nhuận của ngân hàng. Chi phí huy động vốn bình quân được thể hiện thông
đầu của nguồn vốn. Việc xác định kỳ hạn danh nghĩa có ý nghĩa quan trọng
đối với hoạt động của ngân hàng. Để cho vay và đầu tư dài hạn, ngân hàng
cần có khả năng duy trì tính ổn định của nguồn tiền. Mặt khác kỳ hạn liên
quan tới chi phí, các nguồn có tính ổn định cao thường có chi phí duy trì cao.
Kỳ hạn thực tế của khoản tiền gửi là thời gian mà khoản tiền tồn tại liên tục
tại ngân hàng. Phân tích và đo lường kỳ hạn thực tế của nguồn tiền là cơ sở để
21
ngân hàng quản lý thanh khoản, chuyển hoán kỳ hạn nguồn, sử dụng các
nguồn có kỳ hạn ngắn để cho vay với kỳ hạn dài hơn. Về nguyên tắc những
nguồn vốn ngắn hạn sẽ được đầu tư vào các tài khoản ngắn hạn và nguồn vốn
dài hạn sẽ đầu tư vào các tài sản dài hạn. tuy nhiên trong thực tế, các NHTM
phải tính tới yếu tố vòng quay của vốn tức là có thể hoán đổi kỳ hạn dùng
nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn. Sự không phù hợp về kỳ
hạn của nguồn và tài sản cũng là một trong những nguyên nhân gây nên rủi ro
lãi suất cho NHTM. Đó là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến gắn
với thay đổi về lãi suất và nhiều yếu tố khác như cấu trúc và kỳ hạn của tài
sản và nguồn, quy mô và kỳ hạn của các hợp đồng kỳ hạn… Khe hở lãi suất
hình thành do sự chênh lệch tài sản và nguồn có độ nhạy cảm. Như vậy quản
lý kỳ hạn cũng là quản lý rủi ro lãi suất và làm giảm khe hở lãi suất của
NHTM.
Kỳ hạn thực tế có thể nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn kỳ hạn danh nghĩa.
Để xác định kỳ hạn sử dụng vốn hợp lý ngân hàng cần đánh giá các chỉ tiêu:
DS chi trả VHĐ trong kỳ
* Số vòng quay của nguồn vốn huy động = -----------------------------------------
Số dư bình quân VHĐ trong kỳ
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá trong một thời gian nhất định nguồn vốn
quay được bao nhiêu vòng.
Thời hạn bình quân của Số dư bình quân của VHĐ × số ngày trong kỳ
VHĐ ( tính theo ngày) = --------------------------------------------------------
Doanh số chi trả VHĐ trong kỳ
tiến hành xác định lãi suất cho vay, lãi suất cho vay càng cao thì hoạt động tín
dụng của ngân hàng càng hạn chế.
23