Tài liệu Tiểu luận: Xã hội hoá vai trò giới trên một số phương tiện truyền thông đại chúng. - Pdf 89

TIỂU LUẬN XÃ HỘI HỌC VỀ GIỚI
Đề tài: Xã hội hoá vai trò giới trên
một số phương tiện truyền thông đại chúng.
1
M c L cụ ụ
PHẦN I: MỞ ĐẦU .......................................................1
1. Lýdo chọn đề tài...................................................................................2
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn..................................................2
3. Mục đích nghiên cứu...............................................................................3
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH ..4………………
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn 4………… …
PHẦN III: KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ..42
3.1 Kết luận .42……… …… …… …… …… …… …… ……
2
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội hoá vai trò giới không đến một cách tự nhiên mà nó là quá
trình con người học cách thích ứng với đặc điểm giới của cá nhân.
Truyền thông đại chúng từ lâu đã đóng vai trò là phương tiện xã hội hoá
cùng với gia đình và các nhóm đồng đẳng, làm nên vai trò giới. Trên các
phương tiện truyền thông đại chúng, các hình ảnh phản ánh sự khác biệt
giới là rất phổ biến. Do đó, truyền thông đại chúng thực hiện vai trò quan
trọng của mình trong việc gây dựng quan niệm về vai trò giới, góp phần
đem lại cho người xem những mô hình điển hình trong một thế giới rộng
lớn. Qua các phương tiện truyền thông đại chúng, con người, đặc biệt là
trẻ em học được các hành vi và thái độ được coi là phù hợp với một giới
tính nhất định. Bé trai học cách làm con trai, bé gái học cách làm bé gái.
Chính vì tầm quan trọng của vấn đề này, chúng tôi đã quyết định chọn
nghiên cứu đề tài này. Từ việc mô tả hình ảnh và vai trò của nam giới và
nữ giới trên các phương tiện truyền thông đại chúng như truyền hình,
báo, tạp chí, chúng tôi muốn tìm hiểu sự ảnh hưởng của các mô tả nói

• Giả thuyết 1: Vai trò của đa số phụ nữ trên các phương tịên truyền
thông đại chúng đều bị hạn chế, họ thường được môt tả với vai trò là
người nội trợ hơn là trong những công việc xã hội.
• Giả thuyết 2 : Các phương tiện truỷền thông đại chúng có vai trò
quan trọng trong quá trình xã hội hoá vai trò giới, nhất là ở giai đoạn
vị thành niên.
…….
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các lý thuyết áp dụng
1.1.1.1. Có 3 dạng lý thuyết giải thích cho sự xã hội hoá giới là lý thuyết
phân tích tâm lý, lý thuyết nhận thức xã hội và lý thuyết phát triển nhận
thức.
• Lý thuyết phân tích tâm lý của Freud tập trung vào sự quan sát của
trẻ em về các đặc tính sinh dục của chúng ( như nỗi lo sợ bị thiến
hay sự độ kỵ về kích thước dương vật). Lý thuyết này chưa được
củng cố bằng nhiều nghiên cứu thực nghiệm lắm.
• Các lý thuyết về nhận thức xã hội là các lý thuyết hành vi tin vào
việc củng cố và thiết lập sự giải thích hành vi – môi trường làm con
người thực hiện hành vi.
• Các lý thuyết về phát triển nhận thức thừa nhận rằng “ trẻ em học
về giới ( và các khuôn mẫu giới) thông qua nỗ lực tinh thần nhằm tổ
chức thế giới xã hội của chúng”
5
Một vấn đề với một số biến thể của lý thuyết này là giả thuyết rằng trẻ
em học về giới là bởi đó là khía cạnh tự nhiên của thế giới nhiều hơn là
bởi đó là khía cạnh quan trọng của thế giới xã hội.
Các nghiên cứu đã cho thấy rằng tầm quan trọng mà trẻ em đánh giá
giới còn phụ thuộc vào tầng lớp xã hội, chủng tộc, cấu trúc gia đình, bản
năng giới tính của cha mẹ...

Trẻ em học về giới và cách thể hiện giới bởi đó là trung tâm của cách
thức chúng ta tổ chức xã hội. Trẻ em học cách nghĩ và cách tồn tại một
cách văn hoá cũng như chúng theo những nghi lễ hàng ngày và trả lời lại
nhu cầu hàng ngày của thế giới mà chúng đang sống trong đó... Để được
công nhận là một thành viên của xã hội, chúng phải học cách thích ứng
với đặc điểm giới của cá nhân” (Coltrane, p. 114)
Xã hội hoá giới biến trẻ em thành các “thực thể văn hoá”, những
người biết thực tế văn hoá của mình mà không nhận ra rằng thực tế khác
cũng có thể được.
1.1.1.2. Lý thuyết chức năng về giới của Mirriam Johnson
Vị trí xã hội cơ bản của phụ nữ trong cấu trúc gia đình như là
nhà sản xuất chính của các chức năng cốt yếu (xã hội hoá trẻ con và tân
tạo về mặt tình cảm các thành viên trưởng thành của nó, các hoạt động
chủ yếu đối với sự cấu kết xã hội và sự tái sản xuất giá trị). Trong những
hoạt động đó người phụ nữ phải định hướng cách thể hiện tình cảm,
nghĩa là sự hoà hợp và sự phản ứng trong quan hệ có tính chất tình cảm.
Các chức năng của phụ nữ trong gia đình và định hướng về sự thể hiện
tình cảm ảnh hưởng tới các chức năng trong mọi cấu trúc xã hội khác của
7
họ, đặc biệt là kinh tế. Phụ nữ, ví dụ, được hướng tới các nghề nghiệp có
tính thể hiện tình cảm điển hình; còn trong các nghề nghiệp mà đàn ông
thống trị, họ được kì vọng có tính chất biểu cảm nhưng đồng thời bị trừng
phạt về định hướng này.
Các kìm hãm thể chế và văn hoá đòi hỏi phụ nữ phải yếu ớt và
phục tùng trong mối quan hệ với chồng của họ, người thông qua phương
tiện trung gian cạnh tranh trong nền kinh tế mang lại cho gia đình mình
sự an toàn ở cấp độ kinh tế. Nhìn nhận mẹ chúng trong vai trò “bà vợ yếu
đuối”, bọn trẻ học cách tôn sung chế độ gia trưởng và hạ thấp giá trị của
sự biểu cảm với ý nghĩa là một thái độ trong quan hệ đi ngược lại phương
tiện dường như mạnh mẽ và có giá trị hơn. Sự đánh giá tính chất phương

• Xã hội hoá là quá trình thích ứng và cọ xát với các giá trị, chuẩn
mực và hình mẫu hành vi xã hội mà trong quá trình đó một thành
viên xã hội tiếp nhận và duy trì khả năng hoạt động xã hội . Xã hội
hóa nghiên cứu xem với tư cách là điều kiện và các yếu tố cấu
thành, cơ cấu và quá trình xã hội, văn hoá, kinh tế và sinh thái có
tác dụng bằng cách nào và ở mức độ nào đạt tới sự phát triển nhân
cách con người. ( Từ điển xã hội học )
• Xã hội hoá là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành
động tương ứng với vai trò của mình ( Neli Smelser ).
• Xã hội hoá là một quá trình tương tác giữa người này với người
khác , kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và
thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó ( Fichter ) .
9
• Xã hội hoá là quá trình hai mặt. Một mặt cá nhân tiếp nhận kinh
nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ
thống các quan hệ xã hội. Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách
chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ
tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã
hội (Andreeva )
• Quá trình quá độ mà chúng ta có thể tiếp nhận được nền văn hoá
của xã hội mà trong đó chúng ta đã được sinh ra – quá trình mà
nhờ nó chúng ta đăt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học
được cách suy nghĩ và ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội
của chúng ta - được coi là quá trình xã hội hoá.
( Tony Bilton và các cộng sự “Nhập môn xã hội học”, tr27)
Mô hình 1: Quá trình xã hội hoá
(Nguồn: http://www.indmedica.com/journals.php?
journalid=7&issueid=57&articleid=700&action=article)
10
Mô hình 2: Môi trường xã hội hoá

Giới là một thành phần của hệ thống giới/giới tính có liên quan
đến “hệ thống sắp xếp mà nhờ đó một xã hội chuyển giao bản năng
giới tính thành những sản phẩm của hoạt động con người” (Reiter
1975:159)
(Nguồn: Dịch từ http://en.wikipedia.org/wiki/Gender_role )
• Vai trò giới là những công việc khác nhau mà phụ nữ và nam giới
thực tế đang làm. Những công việc này thường xuất phát từ sự
trông chờ/mong đợi của xã hội đối với mỗi giới. Ví dụ: phụ nữ làm
việc nhà, nam giới làm các công việc xã hội
12
Trong các xã hội nói chung, người phụ nữ thường phải đảm nhận
ba vai trò: (1) sinh sản và nuôi dưỡng, (2) sản xuất và (3) hoạt
động cộng đồng, trong khi đó nam giới thường chỉ phải đảm nhận
hai vai trò đó là sản xuất và các hoạt động quản lý tại cộng đồng
- Vai trò sinh sản và nuôi dưỡng: việc sinh sản và trách nhiệm
chăm sóc con cái, cũng như việc nội trợđược coi là công
việc của người phụ nữ. Đây là những công việc nhằm bảo
đảm sự duy trì và tái sản xuất sức lao động. Nó bao gồm
không chỉ tái sản xuất về sinh học mà còn về chăm sóc và
duy trì lực lượng lao động (những người đàn ông và con cái
ở độ tuổi lao động trong gia đình) và lực lượng lao động
trong tương lai (trẻ sơ sinh và trẻ em đang đi học)
- Vai trò sản xuất: cả nam giới và phụ nữ cùng gánh vác trách
nhiệm làm việc tạo thu nhập. Trong đó bao gồm cả sản xuất
kinh doanh để trao đổi và sản xuất nhằm phục vụ tiêu dùng
của gia đình.
- Vai trò hoạt động cộng đồng: những hoạt động này chủ yếu
do người phụ nữ đảm trách nhằm đảm bảo việc cung cấp và
duy trì những nguồn lực khan hiếm cho tiêu dùng của cộng
đồng như nước, chăm sóc sức khoẻ và giáo dục. Đây là

bao gồm cả những hoạt động phát triển.
( Nguồn: Kỷ yếu hội thảo giới - truyền thông và phát triển)
14
Mô hình 3: Chúng ta học về vai trò giới từ đâu ?
(Nguồn : Bình đẳng giới và kỹ năng sống - Bộ tài liệu đào tạo dành cho nữ
và nam thanh niên Việt Nam)
1.1.2.4. Xã hội hoá vai trò giới (gender socialization)
NHỮNG ĐIỀU
CHÚNG TA ĐƯỢC
HỌC ĐỂ TRỞ
THÀNH PHỤ NỮ
VÀ NAM GIỚI
HÀNG XÓM
HỌ HÀNG
ÔNG BÀ
CHA MẸ
BẠN BÈ
BÁO CHÍ
TRƯỜNG HỌC
CA DAO, NGẠN NGỮ
PHIM ẢNH
TIVI
SÁCH, TRUYỆN
CÁC THỂ
CHẾ XH
HỌC TỪ ĐÂU
15
Heslin (1999: 76) cho rằng “một phần quan trọng của xã hội hoá là
việc học tập cách thể hiện một cách văn hoá vai trò giới”
Do vậy, xã hội hoá vai trò giới chính là việc học các hành vi và thái

nào và những hành động mà họ nên làm.
VD: Phụ nữ nên duyên dáng, nam giới nên dũng cảm, phụ nữ nên
nhường nhịn chồng con...
Các giá trị giới có liên quan chặt chẽ đến vai trò và trách nhiệm của
nam giới và nữ giới.
(Nguồn : Bình đẳng giới và kỹ năng sống - Bộ tài liệu đào tạo dành cho nữ và
nam thanh niên Việt Nam)
17
1.1.2.7. Định kiến giới
Là suy nghĩ của mọi người về những gì mà phụ nữ và nam giới có khả
năng làm và loại hoạt động họ có thể làm.
VD: Phụ nữ làm việc nhà tốt hơn nam giới, nam giới làm quản lý tốt
hơn phụ nữ...
(Nguồn : Bình đẳng giới và kỹ năng sống - Bộ tài liệu đào tạo dành cho nữ và
nam thanh niên Việt Nam)
1.2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Xã hội hoá vai trò giới trên các phương tiện truyền thông đại chúng
là một vấn đề nghiên cứu mới mẻ ở Việt Nam. Mặc dù vậy nó lại có
một nền tảng khá vững vàng bởi có những tác phẩm nghiên cứu về
giới và truyền hình, nhưng đa số là những nghiên cứu ở nước ngoài.
Qua quá trình tìm hiểu vấn đề nhóm báo cáo chúng tôi đã có dịp tiếp
cân với một số tác phẩm đề cập đến vấn đề giới, vai trò giới và truyền
thông:
+ Nghiên cứu mang tên “Television and gender roles”, Daniel
Chandler. Trong tác phẩm này, tác giả đã phân tích và đưa ra một số
số liệu cho thấy sự khác biệt trong việc mô tả giới nam và nữ trên
truyền hình và phần nào ông khẳng định vai trò của truyền hình trong
việc hình thành và củng cố nên những khuôn mẫu vai trò giới cho trẻ
em.
+ Nghiên cứu mang tên “Media and the gender”, John K.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status