CHƯƠNG HAI MƯƠI BẢY
TRIỀU ĐÌNH HUẾ TRƯỚC HAI GIÒNG TƯ TƯỞNG:
LẠC HẬU VÀ TIẾN BỘ
Đang lúc đất nước Việt Nam trải qua những ngày đen tối, do việc Pháp chiếm đóng Gia
Định năm 1862 và Thăng Long thất thủ năm 1873, thì Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cũng phải
trải qua những ngày đau thương do triều đình Huế, Văn Thân và Cần Vương gây nên. Họ tàn sát
hàng chục nghìn người Công giáo vi
ện cớ là Công giáo theo Tây.
1
Trong hoàn cảnh bi đát như vậy, một số người can đảm biểu lộ sự thật, nói lên tiếng nói
lương tâm cho triều đình và nhân dân Việt Nam rõ lập trường cứu nước thương dân của mình.
Nhưng triều đình lạc hậu, mù quáng, cố chấp, cứ một mực thi hành đường lối khát máu đối với
giáo dân và người ngoại quốc. Đường lối đó đưa đến sự sụp đổ hoàn toàn c
ủa đất nước và đưa
người dân Việt Nam vào vòng nô lệ của thực dân Pháp.
Lúc bấy giờ xuất hiện hai tư tưởng chống đối nhau. Một bên là các nho sĩ gồm các vua
chúa phong kiến của triều đình cùng những sĩ phu Văn Thân và Cần Vương hiếu chiến. Họ tự
đắc tự mãn với những bằng cấp kiến thức nho học của mình. Do đó bàn đến quốc sự, họ chiũ biết
đến Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương, Chu của Trung Quốc. Hạng người này lại có quyền bính trong
tay, cai trị đất nước bằng cách ngâm thơ, vịnh phú, rung đùi bên tách trà sen thơm nóng, rồi khi
đứng, khi ngồi, khi tỉnh, khi say mà tưởng mình là nhất thiên hạ, không ai văn minh hơn mình,
không ai hùng mạnh hơn mình,
2
và cho thiên hạ là man di mọi rợ, chính đang lúc thiên hạ tiến
một bước dài trên việc mở mang thương mại, công nghệ, cơ khí và khoa học kỹ thuật.
Đại diện cho nhóm nhà nho bảo thủ có thế lực là Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và ông
đồ nho Nguyễn Đình Chiểu, là người rêu rao việc tiêu diệt Phật Giáo và Gia Tô giáo để làm vinh
quang cho Nho giáo.
Lm. Hồ Đình Thịnh, con của Hồ Đình Hy, được gởi đi học Pénang. Con của y sĩõ Xuân tử đạo cũng đuợc gởi đi
học ở Pénang. Trương Bá Cần và Quốc Oai trong Nguyệt San Công Giáo và Dân Tộc, số 657-663, 1988 lên án việc
Hồ Đình Hy gởi con đi du học là một tội chính trị!
5
Nhằm canh tân hóa quốc gia trong các lãnh vực xã hội, kinh tế và quốc phòng.
6
Bùi Đức Sinh, Dòng Đaminh Trên Đất Việt (Sài Gòn, 1993), Tập I, trg 83.
Lộc, Đoàn Văn Quy, Lê Văn Huấn,
7
Trần Ngọc Vịnh,
8
Đoàn Trinh Hoan, Đoàn Trinh Khoan;
9
và du học Pháp có Nguyễn Ngọc Tuyên.
10
Vào thời gian này, các quan ở triều Nguyễn không có lấy một người đi du học thì làm sao
mà trông xa thấy rộng. Nhãn giới của họ không vượt quá bốn bức tường dầy đăỉc và đen tối của
kinh thành Huế. Hầu hết những người đi du học có tên ở trên đều bị triều đình Huế, Văn Thân
hoặc Cần Vương giết sạch. Cũng có dư luận rằng Nguyễn Trường Tộ bị đầu độc mà chết.
11
Phong trào đổi mới do Nguyễn Trường Tộ chủ xướng được nhiều đồng bào trí thức trong
nước hưởng ứng như Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Điền, Nguyễn Hiệp, Đinh Văn Điền
12
, Lê Đĩnh,
Phan Liêm
13
, Bùi Phùng và Cao Bá Quát
10
Lm. Nguyễn Ngọc Tuyên sinh tại Phụ Việt, Quảng Bình năm 1829, học Mans, Pháp, thụ phong linh mục tại Pháp
1864. Cha là giáo sư Pháp văn tại Thượng Bạc, Huế và được bổ làm tham biện Hải Phòng. Năm 1880 về làm cha sở
Thợ Đúc rồi An Truyền và Dương Lộc, bị Cần Vương giết tại Dương Lộc ngày 8-9- 1885.
11
Đào Trinh Nhất, Phan Đình Phùng (Sài Gòn, 1950), trg 29 (1, 2). Trừ hai linh mục không bị giết là Đặng Đức
Tuấn và Hồ Đình Thịnh.
12
Lê Thành Khôi, Le Việtnam Histoire and Civilisation (Paris, 1955), trg 364.
13
Ibid, trg 365.
14
Cao Bá Quát, năm 1843, táp tùng phái bộ Đào Tri Phú sang Singapore. Ông đã bàng hoàng nhận định về cường
thịnh của người và hèn yếu của mình, và cũng đã từng than thở,
Nhai văn nhá chữ buồn ta
Con giun còn biết đâu là cao sâu
Tân gia từ vượt con tàu
Mới hay vũ trụ một màu bao la
Giật mình khi ở xó nhà
Văn chương chữ nghĩa khéo bè trò chơi
Không đi khắp bốn phương trời
Vui đầu án sách uổng đời làm trai
15
Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược (Sài Gòn, 1954), trg 474.
16
Nguyễõn Tài Thư, Cao Bá Quát, trg 130 viết theo Vũ Ngọc Nhã, Đặng Đức Tuấn, Tinh Hoa Công Giáo Ái Quốc
Việt Nam (1970).
- BAVH Le traité de 1862.
nên dân kinh thành đổ xô đến xem rất đông. Cha Tuấn được dẫn đến Bộ Binh và hội kiến nhiều
quan thượng như Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp. Các quan lớn nhỏ ngồi hai hàng nghiêm
trang oai vệ. Cha Tuấn ngồi chính giữa điện, trên một chiếc chiếu bông trải trước mặt các quan
văn võ triều đình.
Phan Thanh Giản chủ tọa buổi hội thảo và bảo rằng: “Nay vua truyền mời đạo trưởng về
triều để xét hai điều. Thứ nhất trong đạo Gia Tô có nhiều điều khó hiểu. Th
ứ hai là do nguyên cớ
gì mà tây dương đến đây quấy rối làm ngang. Thầy cứ sự thật tường khai.”
Cha Tuấn phân giải cặn kẻ hai câu hỏi của Phan Thanh Giản, và kết thúc bằng cách cắt
nghĩa thêm về hai vấn đề quan trọng khác đã gây bao tai hại lớn lao trong thời kỳ bấy giờ.
Phan Thanh Giản truyền cho cha viết vào giấy nạp Bộ, rồi bãi triều. Quân đưa cha về ngục thất
chờ lệnh trên. Qua hôm sau Phan Thanh Giản đòi cha Tuấn vào hỏi lâu giờ, rồi mời nước thết đãi
lịch thiệp. Phan Thanh Giản cho biết trong triều có nhiều quan có ác cảm và hoài nghi với đạo. Ý
triều đình và nhà vua cũng muốn làm lơ nhưng các tỉnh cứ đệ sớ tâu xin khắc khe với đạo. Ông
khuyên cha hãy nhẫn nại chờ đợi trong lúc nhà vua cứu xét bản điều trần.
Ngay sau lúc đọc xong bản điều trần, Tự Đức hạ lệnh mở gông, giải xiềng và ban thưởng
cho cha Tuấn. Thừa ân huệ, người lập tức đi thăm các bổn đạo bị cấm cố ở Thừa Phủ, Cung
Quán, Trấn phủ và Khám đường. Các lao tù thời ấy chật ních những giáo hữu sau sắc dụ phân
tháp năm 1860.
Ở Gia Hội có một bà góa Công giáo tên là Trần Ngọc Giao, thân mẫu của linh mục Trần
Ngọc Vịnh. Cha Vịnh được phúc tử đạo vào đời Văn Thân. Bà nhờ rể hiền là ông Kiến Thoại,
một quan lớn trong triều, nên khỏi phải đi phân tháp. Giữa lúc cấm cách nhiều vị linh mục trú ẩn
ở nhà bà trá hình làm tôi tớ. Một hôm cha Tuấn đến thăm bà, thấy một khuôn mặt hơi quen nơi
một cậu trai với bộ áo nâu bưng trà tiếp khách. Cậu ấy là linh mục Martino Nguyễn Văn Thanh
(An Vân).
17
Hai linh mục nhìn nhau nỗi lòng đau đớn.
Bản điều trần khiến Tự Đức phân vân. Nhưng nhà vua càng trì hoãn quyết định thì tình
thế càng nguy ngập. Miền Nam bị chiếm, miền Bắc bị loạn. Để giúp Tự Đức, cha Tuấn soạn
thêm hai tập điều trần. Tháng 3-1862, cha dâng hai tập điều trần ấy và Tự Đức thuận theo những
Cha viết:
Đạo mà nội ứng với tàu Lang Sa
Thì khi tàu ấy mới qua 17
Nguyễn Văn Hội, Lịch Sử Giáo Phận Huế, trg 274, Huế, 1993. Bốn linh mục đang trốn tại nhà bà Trần Ngọc Giao
là cha Anrê Nguyễn Văn Lành, cha Anrê Nguyễn Van Thoại, cha Tađêô Phan Văn Thân và cha Martinô Nguyễn
Văn Thanh.
Kéo nhau bỏ xứ chạy hoà theo Tây.
Sau đó cha Tuấn quả quyết lòng trung thành đối với quốc gia của người Công giáo. Họ là
một công dân của đất nước, tuân giữ các luật lệ và nghĩa vụ cũng như các công dân khác:
Phụng công thủ pháp mọi đường
Binh thuế như chúng kiều lương như người
18
Đạo chẳng dám xuất, bỏ đi,
Là trọng Thiên Chúa, đâu vì Lang sa!
19
Tháng 5-1862, phái đoàn Việt Nam gồm Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp, Đặng Đức
Tuấn vào Gia Định dự hội nghị với Pháp và Espanha. Theo như cha Tuấn thuật lại trong Nam Du
Nghị Hòa, tàu Loan Phụng ra cửa Thuận An, có tàu Forbin của Pháp đón tiếp, cột giây kéo vào
Gia Định. Dân chúng Nam Kỳ nghe tin tàu vua đến, ra đứng bờ sông trông đợi, tỏ tình quyến
luyến phái đoàn. Quang cảnh thành Gia Định bấy giờ khác hẳn năm xưa: ngoại kiều đông đảo,
phố xá nghinh ngang. Phái đoàn Việt Nam đến đất cũ của mình mà như đặt chân lên một miền xa
lạ. Hội nghị giảng hoà khai diễn ngày 6-5-1862, một bên là Pháp và đồng minh Espanha, và bên
kia là Việt Nam. Pháp đòi bồi thường khoảng 5 triệu đồng và cắt giao trọn 6 tỉnh Nam Kỳ. Phan
Thanh Giản cùng Lâm Duy Hiệp thấy điều kiện giảng hòa khá nặng, nên hỏi ý kiến cha Tuấn:
Phan, Lâm đòi Tuấn hỏi han:
và các nước Đại Thanh, Xiêm La, Triều Tiên, Nhật bản ở bên đất Đông. Hễ bọn Giặc Biển đến là
chúng gây ra mối họa chiến tranh, chiếm đất giữ thành theo kiểu chim tu hú đẻ nhờ ổ quạ.
18
Giáo dân vẫn đi lính, đóng thuế cho triều đình, những việc công ích như làm cầu làm đường, giáo dân đều vâng
chịu như lương dân, không bao giờ dám khinh lệnh của triều đình.
19
Võ Ngọc Nhã, Đặng Đức Tuấn (Sài Gòn, 1970), trg 73.
20
Ibid, trg 159.
21
Ibid, trg 125.
22
Ibid, trg 223.
23
Lính viễn chinh Pháp.
Binh của chúng ta tuy nhiều, nhưng chưa chắc mạnh mẽ tinh nhuệ bằng binh của chúng,
chưa chắc giỏi nghề bắn súng bằng chúng, thuốc đạn của chúng ta chưa chắc mau chóng, dữ dội
bằng thuốc đạn của chúng. Vì cớ đó mà chúng lấn được vào bờ cõi ta, dám chiếm đất vua, sang
đoạt thành trì, chỉ vì binh ta yếu kém hơn mà thôi. Nay muốn xua chúng ra biển, khôi phục đất
đai Gia Định, ắt phải lo liệu việc binh ngoài cách thức thông thường, không thể vịn vào lối cũ.
Cái đạo dùng binh là theo tình thế của quân địch mà ứng chiến, không thể bo bo theo kiểu như
xưa được. Do đó chúng ta cần lưu ý đến 3 điều thiết yếu sau:
Điều 1 là tuyển lính. Những người cường tráng, từ 20 tuổi trở lên và từ 40 tuổi trở xuống
cần được chiêu mộ. Thời gian phục vụ là 5 năm. Số lính ở quân ngũ được h
ưởng lương tiền gấp
đôi lần trước. Binh lính đều được miễn mọi siêu dịch như việc chặt cây xúc đất. Như thế là cốt
cho quân lính cường tráng tăng thêm nhuệ khí chiến đấu và tập luyện tinh tuyền thuần thục cơ
thể để chống nhau với kẻ thù. Bọn Giặc Biển sẽ phải thua!
Điều 2 là thao diễn chiến pháp. Phép thao diễn không gì quan trọng hơn việc tập bắ
Lang Sa tiếng là cường thịnh, nhưng từ tr
ước đến giờ vốn sợ binh Anh Cát Lợi.
Nay nếu về mặt thủy chiến, có binh Anh Cát Lợi, về mặt lục chiến, có quân ta ngăn trên
bộ, thuyền Giặc Biển quyết sẽ lâm vào cảnh dứt đường lui tới, ra vào đều khó. Dầu chúng có
cánh bay lên trời đi nữa, cũng khó mà trốn thoát vậy. Việc chế ngự bọn Giặc Biển là công việc
khẩn cấp của triều đình.
Bản điều trần trên là một bản điều trần quan trọng, biểu lộ được lòng yêu nước thiết tha
của một người Việt, mà lại là một người Công Giáo - còn hơn thế nữa, của một linh mục. Điều
đó làm cho Tự Đức và triều đình phải suy nghĩ đường lối chém giết người Gia Tô giáo mà nhà
24
Đào Trinh Nhất, op. cit., trg 22-23, mục Việc Tập Bắn ở Thuận An.
25
ĐNTL - ĐIVK, CBTTĐ, Tập 36, trg 244, Hà Nội.
vua đang ráo riết thi hành là một đường lối sai trái. Sự truyền cảm của bài văn chứa đầy nhiệt
tình yêu nước tất phải có hiệu quả vì:
Bát canh nấu với máu gan,
Dâng trời cũng thấu lời van cho mình.
Mũi tên dồn hết tinh thành
Bắn vào đá quí tan tành như chơi.
26D. Minh Đạo Bình Tây Sách
“Hiện giờ bọn Giặc Biển ngang dọc ở chốn biên thùy. Lũ giặc thù đó là quân mạnh bạo
tuyệt vời, tài xuất chúng hơn hẳn rợ Nghiêm Doãn thời Chu, rợ Hung nô đời Hán, rợ Hốt Tất
Liệt Đột Quyết đời Đường, rợ Khiết Đan Kim Liên đời Tống. Nay ta phải chống nhau với bọn
giặc dữ đó, mà binh sĩ ta đều là dân quen an hưởng thái bình đã lâu năm, 50, 80 năm không từng
trải chiến trận, như vậy mà muốn chiến thắng thành công tưởng thiệt là khó vậy.
Rủi như thất thủ chốn biên cương thì những kẻ đương nhiệm lại không chịu biết rằng
đều coi giáo dân là phường không vua, không cha rồi những kẻ hiếu sự bất cứ việc gì cũng cứ
vịn theo lệ ấy để thỏa bạo, lấy của người làm giàu cho mình, thành ra những người Giatô kế tiếp
26
Phan Bội Châu do Lâm Giang dẫn trong Đặng Đức Tuấn (Sài Gòn, 1970), trg 244.
27
ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ XXII, 1859, Tờ 23-26, 77-79, CRO 2: CB 242.
ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ XXII, 1859, Tờ 275-276, CRO 2: CB 239.
28
Xem Chương Mười Bảy, số II. Vụ làng Dương Sơn và Mông Phụ.
nhau vào nhà tù, bi lụy vô cùng, xiềng xích gômg cùm không mở miệng kêu oan vào đâu được,
đến nỗi dưới ánh mặt trời sáng sủa trong vòng giáo hóa nhân ái của nhà vua, mà một lũ dân trung
tuân giữ phép nước phụng sự hoàng triều lại chịu hàm oan thảm thiết.
Ngày xưa chỉ một phụ nữ nước Tề chịu hình phạt oan uổng mà Trời còn cảm ứng, biến
loạn đến ba năm, huốâng chi ngày nay số tù ngục oan khiên nhiều hơn nước Tề gấp mấy. Nếu
bảo rằng người đạo Thiên Chúa đều có tội đáng xử phạt, trường hợp này không thể so sánh với
oan ngục nươc Tề, thế thì tại sao lũ dân cày ruộỉng, đào giếng làm ăn lương thiện đời vua Gia
Long nay lại biến ra bọn tù phạm đáng chém, thắt cổ, đáng kết án khổ sai, đáng chịu đi đày hết
cả?
29
Há rằng đạo ấy ngày xưa thì phải mà ngày nay lại trái sao? Và những người theo đạo ấy
ngày xưa so với những giáo dân ngày nay có một sự cách biệt khác nhau một trời một vực?
Huống chi là người theo đạo ấy, về các việc dân việc lính chịu sưu chịu thuế cũng y như hạng
bình dân khác, sao lại đối xử riêng với họ theo cách ấy, làm sao cho khỏi tổn thương đến cái lòng
nhân ái công bình của nhà vua, xem muôn dân như con đỏ, không phân biệt chút nào. Cái ngh
ĩa
trị dân một cách bình đẳng, khiến cho xa gần vui phục có phải vì việc cấm đạo mà sứt mẻ đi
chăng? Vì những kẻ mà so sánh với đời Gia Long yên vui vô sựỉ thì ngày nay thậât là rối rắm,
nhiễu nhương, cái thế ngày trước khỏe, ngày nay mệt đã được chứng nghiệm một cách rõ ràng,
nhìn qua là thấy được nét lớn ngay.
29
Xem Chương Hai Mươi Ba, số II, 1-4.
30
Lâm Giang, op. cit., trg 227.
31
Xem Chương Hai Mươi Tám. Triều đình Huế và Văn Thân và Cần Vương làm mất nước. Đặng Đức Tuấn đề nghị
triều đình dùng người Gia Tô làm một lực lượng chống Mọi Biển xâm lăng.
32
Muốn biết đầy đủ thêm về Nguyễn Trường Tộ, xem: