1Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
______________________________________________________________
MS3: Báo cáo nghiên cứu cơ bản Tên dự án
Giới thiệu những nguyên tắc GAP trên cây
có múi thông qua triển khai IPM áp dụng
dưới hình thức lớp Huấn luyện Nông dân
Cơ quan quản lý dự án của Việt Nam
Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn,
Cục Bảo vệ thực vật
Nhóm trưởng dự án của Việt Nam
Ông: Ngô Tiến Dũng
Cơ quan quản lý dự án của Úc
Trường Đại học Tây Sydney
Cán bộ thực hiện dự án của Úc
Oleg Nicetic, Robert Spooner-Hart, Elske
van de Flierd
Thời gian bắt đầu
Tháng 3 năm 2007
Thời gian kết thúc
Tháng 2 năm 2010
Cơ quan liên lạc
Tại Úc: Điều phối vi ên
+84-4-5330778
Chức vụ:
Điều phối viên chương trình
IPM qu
ốc gia
Fax:
+84-4-5330780
Cơ quan
Cục Bảo vệ thực vật
Email: 2
Nhiệm vụ được giao
Nhiệm vụ được giao trong kỳ này là bổ xung vào báo cáo điều tra cơ bản phía
Nam và kết quả mới điều tra ở phía Bắc của tất cả các thành phần tham gia để đánh
giá về định tính và định lượng, bao gồm:
1.
Thông tin về kiến thức, kỹ năng, thái độ và thực hành của các chuyên viên Cục
BVTV, SRPCC, Viện BVTV, CU, Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, Hội
làm vườn Việt Nam, Hiệp hội trái cây Việt Nam và công ty thuốc trừ sâu Sài
Gòn về GAP và IPM lồng ghép GAP.
2.
Kiến thức và kỹ năng về GAP/GAP của 15 giảng viên chính, 90 giảng viên và
đại diên của 2880 nông dân tham gia.
3.
Thực hành GAP/IPM của đại diện nông dân tham gia ở các mức sản xuất và
phân tích tài chính về chi phí và đầu tư
4.
Bản phân tích của những siêu thị chính về yêu cầu GAP/IPM, nhu cầu và các lệ
được thực hiện với các cửa hàng bán thuốc BVTV. Trước khi kết thúc dự án phỏng
vấn ít nhấ
t 5 nông dân học lớp FFS của một tỉnh. Những đánh giá bổ xung này rất
chính xác do áp dụng phương pháp dạc tam giác, nhưng kinh phí dự án không có
cho hoạt động này, nhưng những người Việt Nam tham gia đã nhiệt tình đã thực
hiện tất cả các cuộc phỏng vấn dù không có tiền. Cuối dự án tất cả những người
3
tham gia chính sẽ hoàn thành điều tra và 3 người quản lý dự án sẽ viết báo cáo quan
sát của họ về tác động của dự án. Tác động của dự án được trình bày những vấn đề
không giống nhau như: Kinh tế, xã hội và tác động môi trường. Lợi ích kinh tế đã
được so sánh với giá của lớp FFS.
Phương pháp để đánh giá tác động của dự án 037/06 VIE đã được thảo luận, xây
dựng và thống nhất với nhóm qu
ản lý dự án ( Mr Ngô Tiến Dũng, Hồ Văn Chiến,
Lê Quốc Cường và Oleg Nicetic) tại cuộc họp tại Mỹ Tho ngày 31/05/2007 và tại
hội thảo ở Hà Nội ngày 26/09/07 và ở Mỹ Tho ngày 30/09/07. Hội thảo ở Hà Nội
gồm có: Chuyên viên của Cục BVTV, Trung tâm BVTV Vùng khu 4, các giảng
viên IPM của Chi cục BVTV Nghệ An và Hà Tây. Hội thảo ở Mỹ Tho gồm có:
Chuyên viên của Trung tâm BVTV Phía Nam, các giảng viên IPM của Chi cục
BVTV Tiền Giang và Cần Thơ. Các giảng viên tham gia hội thảo sẽ
trực tiếp tham
gia đánh giá dự án trong 2 năm.
Đánh giá tác động sẽ được tiến hành theo 2 hướng (đường): Bắt đầu và kết thúc của
dự án (B&E) phương pháp sử dụng giống như phương pháp dùng đánh giá dự án
036/04 VIE. Tiếp tục kiểm tra giám sát 2 nhóm nông dân: Nhóm nông dân đang
học ở lớp FFS và nhóm nông dân đối chứng. Đánh giá ảnh hưởng trước và sau
huấn luyện được tiến hành ở 13 tỉnh của dự án. Việc
đánh giá được dựa trên sự so
sánh theo chiều dọc (VD: trước và sau khi học lớp FFS) về thái độ của người dân
4
môi trường. Phỏng vấn cuối cùng với những nông dân tham gia sẽ được tiến hành
vào tháng 11 năm 2009 cùng với UWS và chuyên viên Cục BVTV.
Báo cáo này sẽ trình bày những phát hiện trong nghiên cứu từ ngày 01 đến 28
tháng 6 năm 2007. Báo cáo này được sử dụng như điểm chuẩn tương phản tác động
của dự án sẽ được đánh giá. Kết quả nghiên cứu đã được thực hiện bởi sự kết hợp
với sự quan sát trên đồ
ng ruộng, phỏng vấn với nông dân trên đồng, điều tra của
các học viên lớp FFS, phỏng vấn và điều tra giảng viên, phỏng vấn những người
tham gia chính trong dự án, và phỏng vấn giám đốc Chi cục, giám đốc sở Nông
nghiệp.
Vật liệu và phương pháp
3.1 Điều tra cơ bản nông dân và giảng vỉên
Trong năm 2007, hai lớp huấn luyện nông dân (FFS) đã được tiến hành ở mỗi tỉnh
trong tổ
ng số 13 tỉnh (bảng 1). Các tỉnh được chia làm 3 vùng cho mục đích nghiên
cứu. Các vùng gồm: Đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre,
Đồng Tháp, Tiền Giang), Bắc Miền Trung và hai tỉnh Phía Nam Hà Nội (Hà Tĩnh,
Nghệ An, Hoà Bình, Hà Tây và vùng thứ 3 gồm các tỉnh ở Phía Bắc Hà Nội (Phú
Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang, Hà Giang). Một trong 2 lớp FFS ở mỗi tỉnh được lựa
chọn ngẫu nhiên đảm nhận cho việc nghiên cứu. Trong thời gian thăm lớp FFS lựa
chọn cho nghiên cứu, các hoạt động sau đây đã được thực hiện:
3.1.1. Thăm chủ vườn cây chọn làm địa bàn học tập của lớp FFS, quan sát vườn
cây, kiểm tra việc ghi chép làm theo GAP và phỏng vấn nông dân.
3.1.2. Thăm các cửa hàng bán thuốc BVTV ở địa phương mở lớp FFS
3.1.3. Điều tra ngẫu nhiên 5 nông dân tham gia trong lớp FFS
3.1.4. Điều tra 2 giảng viên
Ở đồng bằng sông Cửu Long chủ vườn học tập của lớ
p đồng thời cũng cho lớp học
mượn nhà để học hành kỳ, trong khi ở các tỉnh Bắc Miền Trung và Phía Bắc Việt
cách nhân số người phỏng vấn đã có tất cả cây giống từ 1 nguồn với 3, những
người có phần lớn giống cây từ một ngu
ồn với 2 và những người có một ít giống
cây từ một nguồn với 1. Tính toán điểm cho mỗi tiêu chí đã được chia bởi điểm tối
đa cho mỗi tỉnh để đạt được tỷ lệ cân xứng.
Số liệu về nhận thức tầm quan trọng của sâu và bệnh hại cho mỗi tỉnh ở bảng 7a và
cho mỗi vùng bảng 7b đã được tính toán bởi việc nhân số ng
ười phỏng vấn có nhận
thức dịch hại là rất quan trọng với 2, quan trọng với 1 và không quan trọng với 0.
Kết quả cho điểm đã được phân chia bởi số người phỏng vấn cho mỗi tỉnh. Dịch
hại có điểm trong phụ lục băng 0 được cho rằng là không quan trọng, từ 0,1 0,5 là
bình thường, từ 0,6 1,0 là trung bình, từ 1,1 1,5 là quan trọng và từ 1,6 đến 2,0 là
rất quan trọng.
Số liệ
u về mẫu và số lần phun thuốc trình bày ở bảng 8a thể hiện tỷ lệ phần trăm số
người phỏng vấn trong mỗi tiêu chí (ví dụ: phun phòng sâu hại, phun phòng bệnh
hại và phun trừ bệnh) cho mỗi tỉnh và mỗi vùng.
Số liệu về số lần sử dụng thuốc cho những sâu và bệnh hại chủ yếu của mỗi tỉnh
trình bày ở bảng 8b và cho mỗi vùng ở bảng 8c
đã được tính toán bằng cách nhân
số người phỏng vấn đã phun trên 3 lần trong năm với 5, những người phun (từ 1-3
lần) với 2 và không phun lần nào với 0. Kết quả cho điểm được phân chia bởi số
người phỏng vấn cho mỗi tỉnh. Phun thuốc không được thực hiện khi điểm số là 0;
phun thuốc rất ít được áp dụng bởi một số nông dân khi điểm số từ 0,1 1,0; phun
thu
ốc rất ít được áp dụng bởi số đông nông dân khi điểm số từ 1,1 2,0; phun
thuốc thường xuyên được áp dụng bởi một số nông dân khi điểm số từ 2,1 3,0;
phun thuốc thường xuyên được áp dụng bởi phần lớn nông dân khi điểm số > 3.
Số liệu về hoạt động quản lý dịch hại khác so với phun thuốc được trình bày ở bảng
9, tính tỷ lệ phần tră
và Mr Nguyễn Tuấn Lộc, Trung tâm BVTV khu 4 thực hiện, sau khi đã kết thúc
phỏng vấn nông dân. Thời gian phỏng vấn cho một giảng viên mất 15-20 phút và
kết quả được ghi lại ở trang 4 (phụ lục 3).
Số liệu đã được tổng hợp cho mỗi tỉnh, vùng và được trình bày ở bảng 16 đến bảng
18. Số liệ
u về lòng tin và thái độ của giảng viên đối với GAP ở bảng 16 cho thấy số
giảng viên của mổi tỉnh đồng ý với ý kiến đã trình bày.
Số liệu về kỹ năng (khả năng) của giảng viên, kỹ năng này do giảng viên tự đánh
giá được trình bày cho mỗi tỉnh ở bảng 17 và cho vùng ở bảng 18 số liệu được tính
toán bằng cách nhân số giảng viên có khả năng huấn luy
ện nông dân một cách độc
lập và tự tin với 3, số giảng viên có khả năng huấn luyện nông dân một cách độc
lập nhưng không tự tin lắm với 2, số giảng viên có kiến thức và kỹ năng nhưng
không thể huấn luyện nông dân với 1, số giảng viên có kiến thức nhưng không có
kỹ năng huấn luyện nông dân với 0. Tổng số điểm cho mổi tỉnh đã được phân chia
theo s
ố giảng viên phỏng vấn trong tỉnh để có số điểm trung bình. Điểm tối đa là 3.
Điểm trên 2,5 là ở mức tự tin cao (trên 80% của tổng số điểm), điểm thấp hơn 1,5
là thiếu tự tin trong số đông giảng viên, điểm giữa 1,5 2,5 phần lớn giảng viên tự
tin vào khả năng của họ nhưng cần giúp đỡ để tăng kỹ nă
ng của họ cho tự tin hơn.
Ở phía dưới của bảng 17 và 18 điểm về sự hiểu biết của giảng viên đã được thể
hiện. Đã có 5 câu hỏi mở để tìm hiểu về kiến thức của giảng viên (phụ lục 3). Với
mổi câu hỏi điểm 0 cho câu trả lời không chính xác, 0,5 cho trả lời đúng một phần
và 1,0 cho câu trả lời đúng. Điể
m của 2 giảng viên đã được cộng vào và trình bày ở
trong các bảng.
Canh
Vùng núi Phía Bắc
Phu Tho Doan Hung Que Lam 213938N 1050513E 52 Bưởi
Đoan
Hùng
Yen Bai Yen Bai Dai Binh 214057N 1050427E 50 Bưởi và
Cam Sành
Tuyen Quang Ham Yen Tan Yen 220322N 1050240E 200 Cam Sành
và Cam
chanh
Ha Giang Vi Xuyen Viet Lam 224009N 1045542E 250 Cam Sành
3.2 Điều tra những cơ quan chính của Việt Nam
Tháng 11 năm 2007, Dr Zina O’Leary đã được mời tham dự Hội thảo của dự án
CARD project 037/06VIE vớí tư cách là nhà phê bình độc lập. Bà đã phỏng vấn
tổng số 6 vấn đề chính từ 26 tháng 11 đến 2 tháng 12, nhằm khám phá quan niệm
về thực hành nông nghiệp tốt (GAP). Cuộc phỏng vấn là thân mật tự nhiên và theo
kiểu đàm thoại. Đúng ra cuộc phỏng vấn phải tuân theo các câu h
ỏi đã được chuẩn
hoá, nhưng cuộc phỏng vấn đã giữ các thành viên trong cuộc đàm thoại dài về các
chủ đề liên quan đến kiến thức, giá cả và thực hiên GAP trên cây ăn quả có múi ở
các trang trại. Những thành phần tham gia đã đươci hỏi theo 6 chủ đề chính:
1. Quan niệm của họ về GAP trước khi bắt đầu dự án
2. Có hay không thay đổi quan niệm trước và sau khi dự án thực hiện
3. Những yế
u tố nào của GAP họ cám thấy không phù hợp trong sản xuất cây ăn
quả có múi của người việt
8
4. Những yếu tố nào họ cảm thấy dễ dàng chuyển đổi nhất cho nông dân theo
Những kết quả phỏng vấn và điều tra nông dân đã được trình bày dưới đây và mọi
người có liên quan đã thảo luận cùng nhau.
4.1.1.1. Những loài cây ăn quả chính (phổ biến)
Ở đồng bằng sông Cửu Long quýt (giống Quýt Vua và Quýt Tiều) là những giống
có năng suất vượt trội. Bưởi được trồng ngày càng tăng trên vườ
n cây ăn quả và có
xu thế vượt trội hơn quýt (bảng 2). Ở bắc miền trung và Hoà Bình các giống cam là
nổi trội hơn, ở Hà Tây giống cam Canh và bưởi Diễn là những giống quan trọng. Ở
các tỉnh phía bắc Hà Nội cam là những giống phổ biến nhưng diện tích trồng bưởi
ngày càng tăng, đặc biệt là ở Phú Thọ. Một điều thú vị là một số vườn cây ăn quả
ở Tuyên Quang và Hà Giang cam
được trồng lẫn với chè. Mô hình này cần được
đầu tư hơn trong năm 2008. Điều đó cần phải được ghi nhớ ở mổi tỉnh có một bộ
giống và có một số giống là tốt, nhưng không phải là sự cố gắng tạo ra giống tốt
hơn để giới thiệu cho các tỉnh khác.
4.1.1.2 Thiết kế vườn cam và sự biến động phát triển của cây
9
Ở hầu hết các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long quýt và cam được trồng với mật độ
cao hơn (1500 2000 cây/ha) so với các tỉnh phía Bắc (400 600 cây/ha). Đối với
cây bưởi sự khác nhau về mật độ trồng là không lớn ở phía Bắc (270 490 cây/ha),
ở phía nam (330 500 cây/ha) (bảng 2). Ở đồng bằng sông Cửu Long trong vườn
cây ăn quả nông dân trồng cây non xen lẫn với những cây đã già. ở miền Bắc
không có hiện tượng này, phần lớ
n cây đã già và đã qua giai đoạn đỉnh cao của sản
lượng quả. Ở Hà Tây các vườn cây ăn quả còn ở giai đoạn kiến thiết cơ bản hoặc
chỉ mới bắt đầu vào giai đoạn khai thác đỉnh cao (đỉnh cao về năng suất) và sẽ cho
thu nhập/ha cao hơn (bảng 2). Lợi ích của chương trình trồng lại (trồng thay thế) ở
các tỉnh sẽ làm giảm đáng k
thường. Bưởi ít mẫn cảm với bệnh greening và nổi trội củ
a bưởi ở Vĩnh Long là lý
do thích hợp nhất cho sự khác biệt trong nhận thức. Rệp sáp gây hại nặng ở hầu hết
các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là rệp sáp gây hại ở rễ. Phân loại
chính xác về loài rệp sáp tấn công rễ cây có múi chưa được biết một cách đầy đủ và
không có sự cố gắng nổ lực thực sự để giải quyết vấn
đề này trong một vài năm
trước đây. Mật độ quần thể rệp sáp đã tăng lên sau khi nông dân điều chỉnh mực
nước trong kênh để ngăn lũ cho cây có múi. Rệp sáp gây hại rễ đã là mối quan tâm
lo lăng của nông dân trong nghiên cứu của chúng tôi năm 2005 nhưng mức độ nông
dân quan tâm dường như giảm xuống trong 2 năm vừa qua, điều đó nói lên rằng
loài dịch hại này không phải là nguyên nhân gây hại nghiêm trọng.
10
Ở các tỉnh đã tham gia giai đoạn trước của dự án CARD project (036/04 VIE) nhận
thức của nông dân về tầm quan trọng của sâu vẽ bùa so sánh với các loài dịch hại
khác đã thay đổi từ mức rất quan trọng trong nghiên cứu năm 2005 đến mức bình
thường trong nghiên cứu này. Ở các tỉnh đã mở các lớp FFS trong thời gian đầu của
dự án, sự gây hại của sâu vẽ bùa cao nhất hoặc cao bằng với các loài d
ịch hại khác
ở 6 trong 7 tỉnh trong khi sâu vẽ bùa đã không được xếp vào hàng dịch hại quan
trọng ở bất cự một tỉnh nào kể cả giai đoạn trước của dự án. Điều đó cho thấy tác
động của giai đoạn trước của dự án CARD có thể đã mở rộng hơn những thành
viên của lớp FFSs trong cộng đồng khi tiến hành điều tra của dự án này đ
ã không
cùng những nông dân đã tham gia lớp FFSs trong năm 2005 và 2006.
Sự gây hại của nhện được ghi nhận ở tất cả vườn cây ăn quả của Bắc Miền Trung
và ở hầu hết vườn cam ở phía Bắc (quan sát của nhóm dự án và thực tế phỏng vấn
nông dân - bảng 3b) nhưng khó quan sát được sự gây hại nặng của nhện ở đồng
loét xuất hiện trên nhiều vườn cây ăn quả. Bệ
nh loét được xem là bệnh rất quan
trọng ở các tỉnh Đồng Tháp, Hoà Bình, Tuyên Quang. Ở các tỉnh khác bệnh sẹo
cũng là bệnh quan trọng. Kết quả phỏng vấn nông dân và quan sát của chúng tôi ở
hầu hết các vườn nông dân đã phun thuốc trừ nấm có gốc đồng để phòng trừ bệnh,
11
4.1.1.4/4.1.3.2. Sử dụng thuốc BVTV, cất giữ và tiêu huỷ bao bì đựng thuốc
BVTV
Thuốc BVTV đã không bị lạm dụng ở các vùng và tỉnh đã đến thăm. Ngoại trừ
Đồng Tháp rất nhiều nông dân sử dụng thuốc BVTV trên 20 lần trong một vụ
(bảng 2). Ở đồng bằng sông Cửu Long 36% nông dân điều tra sử dụng phun thuốc
thường xuyên để phòng trừ sâu hại và 32% phòng trừ bệnh hại trong khi ở Bắc
Miền Trung 80% nông dân phun thuốc thường xuyên để phòng trừ sâu hại và 50%
phun thuốc trừ bệnh hại (bảng 8). Ở phía Bắc 40% nông dân phun thuốc thường
xuyên để phòng trừ sâu hại và 30% phun thuốc trừ bệnh hại. Phần lớn nông dân
phun thuốc trừ sâu sau khi họ đã phát hiện ra sâu hại trên vườn cây ăn quả. Trong
tổng số 76% nông dân áp dụng phun thuốc trừ bệnh ở đồng bằng sông Cửu Long có
32% phun hơn 3 lần, 44% phun 1-3 lần. Ở B
ắc Miền Trung 100% nông dân phun
thuốc trừ bệnh trong đó có 70% phun thường xuyên và 30% thỉng thoảng mới phun
(phun không thường xuyên). Ở Phía Bắc 65% nông dân phun sau khi dịch hại xuất
hiện trong đó có 45% phun thường xuyên và 20% phun không thường xuyên. Một
điều thật thú vị là có 35% nông dân điều tra ở Phía Bắc không bao giờ sử dụng
thuốc trừ dịch hại trên vườn cây ăn quả của họ. Ở Nghệ An số lần phun thuốc có
thể giả
m xuống nếu thời gian phun phù hợp, nhưng ở Phía Bắc số lần phun thuốc
cần phải được tăng lên để đạt hiệu quả phòng trừ dịch hại. Do hoàn cảnh khác nhau
giữa các vùng nên khuyến cáo về giảm số lần phun thuốc không thể áp dụng cho
toàn quốc được. Ở những vùng có bệnh greening thì mỗi đợt lộc cần phải phun it
12
Imidacloprid. Một trong những mục đích của dự án là thay thế các thuốc trừ sâu thế
hệ cũ ít có hiệu quả với rầy chổng cánh nhưng lại là nguyên nhân làm bùng phát
mật độ nhện với thuốc Neconicotinoids. Vì thế sự thay đổi về tỷ lệ sử dụng các
nhóm thuốc trừ sâu khác nhau sẽ là tiêu chí quan trọng như là kết quả của dự án.
Kết quả điều tra ngoại trừ Đồ
ng Tháp và Nghệ An, bình bơm tay được đa số nông
dân sử dụng nhiều (bảng 3)
Thuốc trừ dịch hại không được cất giữ với số lượng lớn ở các trang trại. Nông dân
thường mua vừa đủ thuốc trừ dịch hại cho một lần phun. Tuy nhiên có một số
lượng nhỏ thuốc trừ dịch hại được tìm thấy ở một vài trang trại và người nông dân
không bảo quản không đ
úng. Nông dân thường để vào trong túi bóng cất xung
quanh nhà và trẻ con có thể dễ dàng đụng tới. Các dụng cụ đưng thuốc BVTV
thường để lại ở trang trại. Các vỏ túi giấy, chai nhỏ đựng thuốc BVTV đã vứt vung
vãi trên các vườn cây ăn quả là hiện tượng rất phổ biến. Ở đồng bằng sông Cửu
Long rất hiếm khi tìm thấy các vỏ chai lọ, túi,.. đựng thuốc BVTV vứt trên kênh
rạch.
4.1.1.5/4.1.3.3 Các hoạt động qu
ả lý dịch hại ngoài thuốc BVTV
Phần lớn (88%) nông dân tiến hành một vài phương pháp giám sát dịch hại và
57,7% giám sát sự có mặt của các loài sinh vật có ích (bảng 9). Kết quả điều tra cho
thấy có 84 95 % và 50 68% giám sát dịch hại và các loài sinh vật có ích. Chỉ có
23% nông dân sử dụng một vài bẫy, bả (tỷ lệ từ 5% ở Phía Bắc đến 40% ở Bắc
Miền Trung. Sử dụng kiến vàng (Oecophylla smargdina) với tỷ lệ cao ở đồng b
ằng
sông Cửu Long (60% nông dân), nhưng tỷ lệ này thấp ở Bắc Miền Trung (20%) và
30% ở Phía Bắc. Một tỷ lệ lớn nông dân (87%) khẳng định họ đã cắt bỏ các cành,
cây bị sâu, bệnh (không khoẻ) và di chuyển ra khỏi vườn, tỷ lệ nông dân làm việc
tác ở Đồng bằng sông Cửu Long có cửa hàng ở nơi quả có thương hiệu và được
đóng nhãn mác nhưng số
lượng của quả đã bán theo con đường này không đáng kể.
Cho nên ở hầu hết các trường hợp ở bảng 4a và 4b yêu cầu bảo quản quản sau thu
hoạch rõ ràng là không được áp dụng (Nghệ An). Đào tạo giảng viên và nông dân
sẽ tập trung vào các yêu cầu của BVTV nơi mà nông dân đã sẵn sàng làm theo một
phần của GAP (bảng 5a và 5b). Nông dân nhận thức được sự cần thiết sử dụng sản
phẩm được đă
ng ký và đồng ý làm theo ở giai đoạn trước. Tuy nhiên nông dân và
cán bộ kỹ thuật của Chi cục không hiểu một cách đầy đủ về yêu cầu của GAP cho
đăng ký sản phẩm. Yêu cầu của GAP cho đăng ký thuốc BVTV là thuốc BVTV sử
dụng trên cây ăn quả phải có trong danh mục đăng ký sử dụng trên cây ăn quả
(cam, bưởi, nhãn, vải,..), trong khi cán bộ Cục BVTV nêu rõ sản phẩm đăng ký như
đăng ký thuốc BVTV cho bất cứ cây trồ
ng nào ở Việt Nam không có trong danh
mục thuốc BVTv cấm sử dụng. Vì vậy nếu không có thời gian cách ly trước thu
hoạch một cách rõ ràng thì không làm theo yêu cầu của GAP. Thông thường chấp
nhận thời gian cách ly trước thu hoạch là 14 ngày cho bất cứ một loại thuốc BVTV
nào. Làm theo đúng yêu cầu về thời gian cách ly trước thu hoạch là rất khó khăn
cho nông dân đồng bằng sông Cửu Long vì họ thu hoạch sản phẩm quanh năm.
Làm theo yêu cầu sử dụng an toàn và hiệu quả
thuốc BVTV đã được thực hiện ở
hầu hết các vùng điều tra (bảng 11). Ở Bắc Miền Trung và Phía Bắc Việt Nam sử
dụng quần áo bảo hộ lao động cao hơn so với đồng bằng sông Cửu Long. Ở tất cả
các vùng việc sử dụng khẩu trang che miệng và mũi trong suốt thời gian phun
thuốc là rất cao 95%. Sử dụng áo dài tay, quần dài giao động từ 52,5% ở đồng bằng
sông Cửu Lọng đến 85% ở phía Bắc Việt Nam. Tỷ lệ nông dân sử dụng áo mưa,
ủng và găng tay khi phun thuốc ở đồng bằng sông Cửu Long là thấp từ 35,5%; 12%
và 29%. Nhưng tỷ lệ nông dân sử dụng áo mưa, ủng và găng tay khi phun thuốc
Bắc Miền Trung Việt Nam đạt cao hơn ở từ 87,5%; 70% và 67,5%. Thậm chí việc
(trong tương lai), khi đó các viện nghiên cứu như Viện nghiên cứu cây ăn quả Miền
Nam (SOFRI) có thể cung cấp đủ giống cây xác nhận cho các tổ chức hợp tác.
Nhìn chung sản xuất cây ăn quả trong ở Việt Nam còn cách rất xa so với yêu cầu
của EUREP GAP. Cần có rất nhiều thay đổi về cơ sở hạ
tầng (ví dụ hệ thống nước
thải, xây dựng hệ thống đóng gói và kho chứa) những việc này cần phải được làm
trước khi làm theo EUREP GAP. Đồng thời cải tiến hệ thống đăng ký thuốc
BVTV, chọn nhóm thuốc đăng ký sử dụng trên cây ăn quả có múi. Có sự khác nhau
về thực hành trong sản xuất cây ăn quả có múi của người Việt và những yêu cầu
của EUREP GAP là quá cao cho việc tiến hành GAP trên cây ă
n quả có múi của
nông dân Việt Nam. VietGAP có thể đảm bảo sản phẩm của cây ăn quả có múi an
toàn hơn cho người tiêu dùng và làm giảm tác động môi trường phù hợp với điều
kiện kinh tế của người Việt Nam và điều kiện môi trường có thể ngày càng được
cải thiện. Áp dụng EUREP GAP có thể phù hợp cho một số thành viên của hợp tác
sản xuất theo hướng xuất khẩu hoặc bán cho siêu thị lớ
n.
4.1.2.1. Thuốc BVTV được bán ở xã (Cửa hàng bán thuốc BVTV)
Các cửa hàng bán thuốc BVTV ở xã có rất ít chủng loại thuốc, nông dân ít có cơ
hội lựa chọn thuốc để sử dụng. Thường các cửa hàng chỉ có một tủ bày bán 5 đến
10 loại thuốc trừ sâu hoặc thuốc trừ nhện khác nhau và cùng một loại thuốc trừ
nấm, trừ cỏ. Ở các xã nhỏ các cửa hàng bán thuốc BVTV bán cùng với thực phẩm
và thuốc lá. Ở Phía Bắc Việt Nam một số cửa hàng bán thuốc là của Trạm BVTV,
là điều kiện thuận lợi cho quản lý thuốc BVTV và hướng dẫn khuyến cáo bà con
nông dân lựa chọn thuốc để sử dụng. Tuy nhiên nếu các cửa hàng bán thuốc BVTV
là của Cục BVTV, có một câu hỏi về sự độc lập của cơ quan khuyến nông với các
công ty kinh doanh thuốc BVTV. Điều tra của chúng tôi đã chỉ ra mối liên quan
giữa thuốc BVTV sử dụng ở các trang trại và thuốc BVTV đã bán ở các cửa hàng
địa phương (bảng 3a; 3b) điều đó chứng minh rằng cửa hàng bán thuốc ở các xã là
đồng bằng sông Cửu Long và Bắc Miền Trung Viêt Nam. Nông dân hiểu về sự lan
truyền của bệnh greening (huanglongbinh) và đã phòng trừ tốt (75,82% trả lờ
i
đúng) ở tất cả các vùng. Tuy nhiên, sự hiểu biết về các loài dịch hại và hiệu quả của
các biện pháp phòng trừ đang còn thấp ở mức 52,42%. Những kết quả trong phạm
trù này đã rất phù hợp giữa các vùng, Phía Bắc Việt Nam 50%, Bắc Miền Trung
51,25% và đồng bằng sông Cửu Long 56%. Nhận thức chung về tác động của
thuốc BVTV đến môi trường và sức khoẻ con người là rất rất cao trung bình đạt
74,13% trả lời đúng ở các vùng.
Mức độ hiểu biết về một số yêu cầu của GAP và tiến hành làm một số vấn đề với
nông dân đã có 70,55% và 76,33% trả lời đúng. Thông tin về GAP được cung cấp
thường xuyên trên các báo và thông tin về vấn đề này đến được nông dân một cách
nhanh chóng bởi các cán bộ khuyến nông thông qua các tổ chức phi chính phủ
(NGOs). Kết quả là nông dân rất mong chờ về GAP và mong đợi khi tiến hành
GAP trên trang trạ
i của họ sẽ mang lại lợi ích kinh tế cao hơn. Trong điều tra của
chúng tôi 90% nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long, 100% nông dân ở Bắc Miền
Trung và 85% nông dân ở Phía Bắc Việt Nam tin tưởng khi tự tiến hành thực hiện
GAP thu nhập của họ sẽ được tăng lên.
4.1.3.6. Nông dân tự đánh giá khả năng của mình
Nông dân tự tin cao vào khả năng của họ khi tiến hành các hoạt động trong sản
xuất cây ă
n quả (bảng 14, 15). Mức độ tự tin cao của người dân ở tất cả các vùng
được ghi nhận cho việc tỉa cành, tạo tán (2,65), nhận biết các giai đoạn sinh trưởng
chính của cây (2,67), khả năng phân biệt triệu chứng gây hại của sâu hại và bệnh
hại (2,56), nhận biết được sự gây hại của một số dịch hại chính (2,56) sử dụng
thuốc trừ dịch hại theo hướng dẫ
n trên bao bì (2,86), tính toán lượng nước thuốc
phun (2,63), cất giữ thuốc BVTV theo hướng dẫn (2,56). Mức độ tự tin thấp chỉ
được ghi nhận cho khả năng điều khiển sự ra lộc, nở hoa và sinh trưởng của cây
tiến hành GAP là cải thiện sức khoẻ của người s
ản xuất và người tiêu thụ (100%)
cho rằng GAP phải có mối liên kết với môi trường và trang trại (92%) và cho rằng
GAP là tiêu chuẩn quốc tế cho sản xuất lương thực an toàn được chính phủ các
nước công nhận (92%). Phần lớn các giảng viên tin tưởng rằng GAP cần được tiến
hành bởi toàn bộ nông dân (73%) và trái của cây ăn quả có múi không thể xuất
khẩu được nếu nông dân không có chứng nhận GAP (69%). Câu trả lời của giảng
viên chỉ
rõ GAP như là một phương tiện để bảo vệ sức khoẻ con người và môi
trường cần được tiến hành bởi toàn thể nông dân. Câu trả lời của giảng viên cũng
chỉ rõ họ tin tưởng GAP được quy định bởi chính phủ các nước trên thế giới và tiến
hành theo GAP là cần thiết cho xuất khẩu. Giảng viên tin tưởng và phản ánh về
điều kiện của Việt Nam và thậm chí một phần tinh trạ
ng ở một số nước châu Á nơi
mà chính phủ đang nổ lực tiến hành theo GAP, nhưng GAP được hình thành bởi
những người buôn bán lẻ châu Âu và ở châu Âu GAP là sự thoả thuận giữa người
tiêu thụ và người sản xuất qua một uỷ ban và nó được đăng ký bởi một cơ quan độc
lập. Thái độ của các giảng viên phản ánh sự khác nhau cơ bản để tiến tới tiêu chuẩn
GAP giữa Việ
t Nam và châu Âu và để đạt được vấn đề này có sự liên kết tiến hành
theo GAP. Nếu GAP được tiến hành bởi các tổ chức của chính phủ thì sự kết nối
giữa những người buôn bán lẻ và người sản xuất bị mất đi và có thể làm giảm sự
thành công của dự án. Dường như các giảng viên và nông dân (xem 4.1.3.5) bỏ
quên điểm mấu chốt của nội dung của GAP là nó được điề
u hành bởi các nhà buôn
bán lẻ. Tuy nhiên, phần lớn giảng viên (69%) tin tưởng những người buôn bán lẻ
cần phải trả tiền cho huấn luyện nông dân vì những người buôn bán lẻ sẽ thu được
phần lớn lợi nhuận từ việc thực hiện theo GAP. Khoảng một nửa giảng viên cho
rằng tiêu chuẩn của EurepGAP là quá cao so với điều kiện của Việt Nam (54%) và
khái niệm sản xuất Rau an toàn là phù hợp hơn cho Việt Nam (46%). Chỉ
GAP. Tuy nhiên, họ không có kinh nghiệm hoặc định rõ phương pháp tiến hành
GAP.
4.2.2 Những thay đổi trong những người được phỏng vấn về
GAP từ khi bắt đầu
dự án
Khái niệm về GAP của những người được phỏng vấn được mở rộng và nâng cao.
Họ có thể nhìn thấy sự cần thiết cho sự liên kết giữa sản xuất với quản lý sau thu
hoạch và thị trường tiêu thụ. Họ cũng có thể nhìn thấy sự cần thiết phân biệt giữa
yêu cầu GAP cho tiêu thụ trong nước và cho thị trường xuất kh
ẩu, VietGAP có thể
là tiêu chuẩn cho thị trường trong nước trong khi GlogalGAP là tiêu chuẩn cho thị
trường xuất khẩu. Những người được phỏng vấn nhấn mạnh sự cần thiết cho việc
thành lập hội đồng (ban) cấp chứng nhận để nông dân có thể dễ dàng có được. Có
một sự giúp đỡ mạnh mẽ của Bộ cho việc cấp chứng nhận GAP cho xuất khẩu, đó
là kết quả
của nhiều cơ quan tổ chức đang cố gắng tìm kiếm các thủ tục cấp chứng
chỉ nhưng thiếu sự điều phối và phương pháp để đạt được.
4.2.3. Những yếu tố suy xét của GAP
Gần như toàn bộ những người phỏng vấn đều nhìn thấy rất rõ liên kết giữa GAP và
sự hợp tác, sự hợp tác là nhân tố (yếu tố) chính trong ti
ến hành GAP và cấp chứng
nhận. Một số người phỏng vấn đã gợi ý chứng nhận có thể cấp ở mức hợp tác xã
hơn là các nông dân riêng lẻ. Để thực hiện thành công GAP cần thiết phải có sự
18
giúp đỡ của chính quyền các cấp: Cấp Trung ương giúp đỡ, hộ trợ về thể chế, pháp
Dự án như là một khuân mẫu cho sự thay đổi thực hành của nông dân. Dự án cũng
hương vào những nhiệm vụ chính của Cục BVTV và giúp cho các các bộ của Cục
BVTV nâng cao kiến thức và tham gia trong hoạt động cộng đồng sản xuất.
4.3 Phân tích thị trường chính cho GAP trái cây có múi
Giá trị của cây ăn quả có múi ở thị trường nội địa là rất cao và không khuyến khích
cho nông dân Việt Nam tập trung xuất khẩu. Đối với cam nông dân có thể bán ngay
tại vườn với giá từ 3.500 đến 12.000đ cho 1 kg, cho Quýt giá có thể cao hơn trên
20.000đ/1 kg và cho cây bưởi từ 5.000 đến 12.000đ/quả. So sánh thu nhập giữa
trồng lúa và trồng cây ăn quả thì thu nhập từ cây ăn quả cao hơn từ 3 đén 6 lần
(bảng 19). Phân tích chi tiết về lãi ròng từ cây ăn quả được trình bày ở giai đoạn 7
của dự án CARD project 036/04 VIE và nó sẽ
được sử dụng như là điểm xuất phát
(cơ sở) của dự án này. Sự phân tích đã đưa ra lãi ròng bình quân cho 1 ha trồng cây
ăn quả có múi ở các tỉnh là 78.620.000đ. Tuy nhiên, đã có sự sai khác có ý nghĩa
giữa các loài cây ăn quả có múi về giá trị thu nhập mang lại cho người nông dân,
bình quân thu nhập từ trồng quýt là 100.000.000đ, bưởi 93.000.000đ, và cam
37.880.000đ. Trong phần phân tích tài chính của dự án 036/04 đã không thể có tài
liệu chính xác về chi phí đầu vào, đặc bi
ệt là công lao động của người nông dân, vì
19
vậy trong dự án này ghi chép chi tiết về chi phí đầu vào và đầu ra đã được tiến hành
thu thập từ tháng 2 năm 2008 và sẽ tiếp tục thực hiện cho đến tháng 10 năm 2009.
Thu thập số liệu về đầu vào và đầu ra đã được thực hiện ở 4 tỉnh từ 20 nông dân
cho một tỉnh và sẽ được sử dụng phân tích lãi vào cuối của dự án
Tiếp thị về sản phẩm cây ăn quả có múi
ở tất cả các tỉnh là thông qua người mua
trung gian đến và mua quả ngay tại vườn. Một phần rất nhỏ quả được nông dân bán
trong chương trình huấn luyện của lớp FFS bao gồm: Quản lý dịch hại tổng hợp
(IPM), sức khoẻ người lao động và các biện pháp an toàn, cất giữ và tiêu huỷ các
bao bì dụng cụ chứa đựng thuốc BVTV và ghi chép sổ sách. Ghi chép sổ sách là
một trong những bước chính để hướng tới GAP, do đó nông dân cần được khuyến
khích một cách mạnh mẽ để thiết lập hệ thố
ng ghi chép tại trang trại của họ trong
suốt thời gian họ tham gtia lớp FFS, với giả định đó nông dân sẽ giữ và tiếp tục
thực hiện quá trình ghi chép sau khi kết thúc lớp FFS.
2. Chương trình huấn luyện của trung tâm huấn luyện giảng viên (T0T) sẽ bao gồm
tất cả các nguyên lý và thực hành về GAP cho toàn bộ chuỗi giá trị gồm diện mạo
về thị trường, kết hợp giữa sản xuất và bả
o quản chế biến sau thu hoạch, phân phối
và tiêu thụ sản phẩm. Điều đó sẽ đảm bảo rằng các giảng viên sẽ có đủ khả năng
giúp đỡ nông dân và hợp tác để tiến hành GAP bất cứ lúc nào trong tương lai, với
mong muốn cải tiến trong sản xuất và chất lượng sản phẩm. Cuối cùng các giảng
20
viên sẽ thảo luận với nông dân về thuận lợi của sự hợp tác giữa các nhóm nông dân
trong tiến hành GAP.
3. Tài liệu hướng dẫn về GAP sẽ cung cấp cho các giảng viên, các tổ chức chính
phủ và nông dân khả năng thực hiện GAP khi có thời gian.
4. Hai sự hợp tác với khả năng tốt cho sự phát triển GAP đã được tìm ra, dựa vào
thực tế sản xuất của họ và mức độ kiến thứ
c, cấu trúc của sự hợp tác và sự giúp đỡ
của địa phương. Điều đó dự báo những nhóm này sẽ cung cấp (tạo ra) mô hình cho
thực hành GAP.
5. Cần có sự liên kết mạnh hơn giữa các nhóm nông dân thực hiện GAP và việc bán
lẻ và bán sĩ ở các chợ, tuy nhiên đó là mối quan tâm tiếp tục sau dự án này.
21
Bến Tre 330 4 Quanh năm 0 Không 25,000,000
Đồng
Tháp
1600 5 TET (Tháng 1-
tháng 2)
15/7 Bơm động cơ
hon đa
105,0000,00
0
Tiền
Giang
1600 4 đợt
chính, 2
đợt phụ
Quanh năm 8/4 Bình bơm tay
8L (pressurised)
80,000,000
Hà Tĩnh 660 4 Tháng 10
tháng 12
5/0 Bình bơm tay
12L
(pressurised)
37,000,000
Nghệ
An
500 4 Tháng 11
tháng 12
8/2 Bình bơm tay
8L (pressurised)
60,000,000
6,000,000
(Cam)
13.000,000
(Bưởi)
Tuyên
Quang
400 4 Tháng 11-12 9/4 Motorized 53,000,000
Hà
Giang
400 4 Tháng 11-1 12/3 Motorized 60,000,000
Bảng 3a. Dịch hại chính ở lớp FFS và thuốc trừ dịch hại sử dụng ở
đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh Dịch hại
chính (Ý
kiến nông
dân)
Loại thuốc trừ
sâu được sử
dụng phổ biến
Loại thuốc trừ
bệnh được sử
dụng phổ biến
Loại thuốc trừ
sâu được bán
nhiều nhất ở
địa phương
cypermethrin,
Abamectin
Metalaxyl
Afa
cypermethrin
Tiamethoxam
Aamectin
carbendazim
metalaxyl
copper
Vĩnh
Long
Rệp sáp hại
rễ
Mineral oil (dầu
khoáng),
Cypermethrin
Deltamethrin
Propiconazole Aamectin
Mthidation
imidacloprid
metalaxyl
propiconazole
Bến
Tre
Rệp vảy Không sử dụng Không sử dụng imidacloprid
Afa
cypermethrin
Copper (thuốc
có gốc đồng)
abamectin
thiamethoxam
pyridaben
carbendazim
mankozeb
metalaxyl
23
Bảng 3b. Dịch hại chính ở lớp FFS và thuốc trừ dịch hại sử dụng ở
Bắc Miền Trung và Bắc Việt Nam Tỉnh Dịch hại
chính (Ý
kiến nông
dân)
Loại thuốc trừ
sâu được sử
dụng phổ biến
Loại thuốc trừ
bệnh được sử
dụng phổ biến
Loại thuốc trừ
sâu được bán
nhiều nhất ở địa
phương
fipronil
Copper (thuốc
gốc đồng)
fipronil
methidation
pyridaben
copper
metalaxyl
fosetyl
aluminium
Hoà
Bình
Nhện; bệnh
loét
fenobucarb
abamectin
copper mixed
with mineral oil
(thuốc có gốc
đồng với dầu
khoáng)
not visited not visited
Hà Tây Nhện; rầy
chổng
cánh, sâu
vẽ bùa,
bệnh loét
cypermethrin+P
rofenofos
abamectin
propargite
pyridaben
carbendazim
pyridaben
propargite
metalaxyl
Hà
Giang
Sâu vẽ bùa,
nhện, bệnh
loét
acetamiprid
propargite
alpha-
cypermethrin
profenofos
carbendazim
copper
methalaxyl
acetamiprid
propargite
alpha-
cypermethrin
profenofos
carbendazim
methalaxyl
Yêu cầu Ha
Tinh
Nghe
An
Hoa
Binh
Ha
Tay
Phu
Tho
Yen
Bai
Tuyen
Quang
Ha
Giang
1. Truy nguyên nguồn
gốc
NC NC NC NC NC NC NC NC
2. Lưu giữ sổ sách ghi
chép
NC NC PC NC NC NC PC PC
3. Giống và gốc ghép NC NC C C NC NC NC NC
4. Lịch sử nơi SX và
quản lý
PC NC NC NC NC NC NC PC
5. Quản lý đất và giá
thể
PC PC PC PC PC PC NC NC