z
Tiểu luận “Bản sắc dân tộc trong nền kinh
tế mở”
A / Đặt vấn đề Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước , nền văn hoá Việt Nam đã hình
thành và phát triển . Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ , kiên
cường , nhân dân ta đã xây đắp nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in
đậm dấu ấn vản sắc của dân tộc , chứng minh sức sống mãnh liệt và sự
trường tồn của dân tộc Việt Nam .
Văn hóa Việt Nam là tổng thể nhữ
ng giá trị vật chất và tinh thần do cộng
đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ
nước . Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hoá ấy mà dù có nhiều thời kỳ bị đô hộ
, dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc của mình , chẳng những không
bị đồng hoá , mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập cho dân tộc , lấy
không thể tránh khỏi việc du nhập những phong tục tập quán của các nước ,
các dân tộc trên thế giới . Tuy nhiên , không vì thế mà chúng ta quên đi
truyền thống của đân tộc mình , cái gốc của mình . Việc giữ gìn và phát huy
bản sắc dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở là hết sức cần thiết . ĐIều đó
giúp chúng ta hoà nhập chứ không hoà tan , không bị mất đi cái gốc của
mình. Chúng ta một mặ
t tiếp thu những nét tinh hoa trong văn hoá của các
nước , một mặt giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc để làm cho đời sống tinh
thần của chúng ta ngày càng phong phú hơn.
* Tính tất yếu của việc nghiên cứu đề tài :
Đất nước ta đang trong thời kỳ tiến lên xây dựng nền kinh tế mở , hội nhập
với quốc tế . Tuy nhiên , việc hội nhập cũng có những mặt tích cực và tiêu
c
ực .Nếu chúng ta tiếp thu một cách không có chọn lọc , không có tính toán ,
chúng ta dễ bị tiếp thu những cái không tốt , ảnh hưởng đến đời sống văn hoá
của nước ta . Mặt khác , chúng ta còn lo ngại bị đánh mất truyền thống dân
tộc , chạy theo các nước trên thế giới , bị ảnh hưởng hoàn toàn bởi nền văn
hoá của các nước khác.
Chính vì thế , việc đặt ra những định hướng trong việc hội nhập , ti
ếp thu
những tinh hoa trong văn hoá của các nước một cách có chọn lọc là điều hết
sức cần thiết . Trong đó , bản sắc dân tộc giữ một vai trò không nhỏ trong
việc hội nhập với thế giới . Mỗi một quốc gia đều có những truyền thống ,
những bản sắc riêng của mình . Chúng ta cần giữ gìn và phát huy bản sắc dân
tộc , một mặt để đem những tinh hoa c
ủa mình để giao lưu với các nước , một
mặt giúp chúng ta “ hoà nhập chứ không hoà tan” .
Mỗi quốc gia đều có những bản sắc riêng của mình . Điều đó giúp chúng ta
đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng năm đấu tranh
dựng nước và giữ nước . Đó là lòng yêu nước nồng nàn , ý chí tự cường dân
tộc , tinh thần đoàn kết cá nhân - gia đình -làng xã - Tổ quốc ; lòng nhân ái ,
khoan dung , trọng nghĩa tình, đạo lý , đức tính cần cù , sáng tạo trong lao
động ; sự tinh tế trong
ứng xử , tính giản dị trong lối sống ... Bản sắc văn hoá
dân tộc còn đậm đà trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo .
2 . Vị trí của bản sắc văn hóa dân tộc :
Bản sắc văn hoá dân tộc giữ vị trí rất quan trọng :
a/. Chính bản sắc văn hoá dân tộc đảm bảo cho dân tộc tồn tại , đứng vững
và phát triển qua các biến động c
ủa lịch sử .
b/. Nhờ bản sắc văn hoá dân tộc , chúng ta biểu lộ được trọn vẹn sự hiện
diện của một bản sắc trong giao lưu với quốc tế . Mục tiêu của giao lưu là
thông qua giao lưu với nền văn hoá mới , ta hội nhập với văn hoá thế giới .
Chỉ giữ được bản sắc văn hoá dân tộc thì ta mới có điều kiệ
n giao lưu bình
đẳng với các nền văn hoá thế giới . Còn sao chép , trở thành “ cái bóng” , “
cái đuôi” của người ta thì không còn có gì mà hội nhập bình đẳng .
Trước yêu cầu của thời kỳ phát triển mới , trước nguy cơ “ đồng nhât” về
văn hoá thực chất là sự thống trị của văn hoá nước lớn , nước giàu thì bản sắc
văn hoá dân tộc có ý nghĩa cực kỳ lớn .
3. Bản sắc dân tộc - h
ệ giá trị .
lựa chọn trong hành động của con người , cá nhân và cộng đồng .
Hệ giá trị có tính ổn định rất lớn và có tính bền vững tương đối , có sức
mạnh to lớn đối với cộng đồng . Trong sự tiến bộ và phát triển của xã hội ,
các giá trị này thường không biến mất mà hoá thân vào các giá trị c
ủa thời
sau , theo quy luật kế thừa và tái tạo .
Di sản văn hoá là các giá trị văn hóa do lịch sử để lại . Các giá trị này sẽ
trở thành truyền thống khi được thế hệ sau lựa chọn , tiếp nhận , mô phỏng
, làm sống lại .
Đó là quan hệ giữa truyền thống và hiện đại . Sự thích nghi của các giá trị
cũ đối với sự thay đổi của thời đại , là bi
ểu hiện của tính liên tục văn hoá .
II /. Bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở
.
5
1 . Chủ trương của Đảng về vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong
nền kinh tế mở .
Nói dân tộc và bản sắc văn hoá dân tộc không thể tách khỏi quan hệ với thế
giới . Chúng ta đang chứng kiến xu thế toàn cầu hoá đời sống loài người . Đó
là xu thế khách quan , tất yếu mang tính thời đại , trước hết trong lĩnh vực
kinh tế . Xu th
ế toàn cầu hoá tạo điều kiện cho các quốc gia , dân tộc xích lại
gần nhau , hiểu biết nhau , bổ sung cho nhau , làm phong phú và hỗ trợ lẫn
tinh hoa văn hoá nhân loại , làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống
và hoạt động xã hội , vào từng người , từng gia đình , từng tập thể và cộng
đồng , từng địa bàn dân cư , vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người
, tạo nên trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp , trình độ dân trí cao ,
khoa học phát triển phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệ
p hoá , hiện đại hoá
6
vì mục tiêu dân giàu , nước mạnh , xã hội công bằng văn minh , tiến bước
vững chắc lên chủ nghĩa xã hội .
Nghị quyết Trung ương 5 “ Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc” vừa đáp ứng đúng những đòi hỏi bức xúc
của cuộc sống vừa là định hướng chiến lược cơ bản cho sự nghiệp xây d
ựng ,
củng cố và không ngừng tăng cường nền tảng tinh thần xã hội ta trên con
đường phấn đấu vì dân giàu nước mạnh , xã hội công bằng , văn minh , tiến
bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội .
2 . Quan điểm về bản sắc văn hoá dân tộc
Bản sắc văn hoá dân tộc luôn có sự biến động , bổ sung qua các thời kỳ lịch
sử . Có giá trị được hình thành từ
xa xưa và luôn luôn bền vững . Có giá trị
đúng lúc trước , nhưng nay không thích hợp . Lại có giá trị mới nhưng phù
hợp với nguyện vọng dân tộc thì nhanh chóng có sức sống bền vững . Chẳng
hạn , có những giá trị mới từ 1976 , cũng là mới hơn 30 năm nay , với lời kêu
gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh , giá trị “ Không có gì quý hơn độc lập , tự do”
đã nghiễm nhiên trở thành giá trị văn hoá rấ
t quan trọng của dân tộc ta .
ửa” không chọn lọc , bản sắc dân tộc bị chèn ép , lu mờ , trở thành
nền văn hoá thiếu bản sắc . Hoặc phục hồi tất cả kể cả những cáI lạc hậu , lỗi
thời trong quá khứ , không còn thích hợp trong xã hội mới ...
Chương II: Tại sao phải đưa ra vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
trong thời kỳ nền kinh tế mở .
I /. Tính tất y
ếu của việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc .
1. Điều kiện xã hội :
Thực trạng đời sống văn hoá nước ta hiện nay không phải là vấn đề dễ đánh
giá . Có người quá bi quan với tình hình cho là trong khi đời sống kinh tế có
khá lên từ đổi mới đến nay thì đời sống tinh thần lại sa sút như chưa bao giờ
có . Ngược lại , có người quá lạc quan cho mọi sự đều tốt đẹp , những hiện
tượng tiêu cực là tự
nhiên và không đáng kể . Thật ra , bức tranh không chỉ
có một màu , hoặc toàn tối hoặc toàn sáng .
Trước hết , cần khẳng định đời sống văn hoá xã hội ta so với thời kỳ trước
có bước tiến bộ rõ rệt . Điều dễ thấy là tính năng động xã hội - kinh tế và tính
tích cực công dân được khơi dậy và phát huy thay cho tâm lý thụ động , ỷ lại
trong cơ chế cũ . Bầu không khí dân chủ , cở
i mở trong xã hội tăng lên . Mặt
bằng dân trí được nâng cao , sở trường , năng lực cá nhân con người được
khuyến khích , tôn trọng . Những nét mới nổi bật ấy trong đời sống được
phản ánh qua hoạt động khởi sắc , phong phú , đa dạng trên các lĩnh vực báo
chí , xuất bản , phát thanh , truyền hình , giáo dục , văn học , nghệ thuật ,
ị truyền thống mà lịch sử và cách
mạng đã xây nên trong khi đó lại phục hồi không phân biệt tốt xấu các vốn cổ
dân tộc đồng thời đi liền với tâm lý sùng ngoại đôi khi đến mức mù quáng ,
phi lý , kệch cỡm . Đó là các tệ nạn xã hội có chiều gia tăng , sự đam mệ nhu
cầu vật chất cùng những dục vọng thấp hèn , lối sống bất chấp đạ
o lý , dư
luận xã hội và pháp luật đang xô đẩy một số người đi vào con đường phạm
tội . Tất cả những hiện tượng trên đang làm vẩn đục môi trường xã hội - văn
hoá , gây bất bình trong nhân dân , làm xói mòn nền tảng tinh thần xã hội ,
tạo miếng đất màu mỡ cho sự xâm nhập những sản phẩm văn hóa độc hại
ngoại lai .
2. Xây dựng nền văn hoá Việ
t Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc .
Trước tình hình xã hội đã phân tích ở trên , việc tập trung xâu dựng và phát
triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc , có tầm quan
trọng đặc biệt không chỉ cho hiện tại mà cả tương lai Tổ quốc ta . Nhưng nên
văn hóa thế nào là “ tiên tiến” ? Thế nào là “ đậm đà bản sắc dân tộc” ?
a>. Nền v
ăn hoá tiên tiến
Đọc Nghị quyết Trung ương 5 , ta có thể hiểu nền văn hoá tiên tiến có mấy
đặc trưng :
Một là , yêu nước .
Hai là , tiến bộ .
9
Ba là , có nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
thật sai lầm nếu đồng nhất hệ tư tưởng với văn hoá , bởi căn hoá có nội hàm
rộng hơn nhiều so với hệ tư tưởng . Song , cũng phạm sai lầm nghiêm trọng
nếu phủ nhận vai trò hệ tư tưởng đối với văn hoá , nhất là khi nói đến cả một
nền văn hoá , cả m
ột dòng văn hoá . C. Mác và Ph. Ăngghen chỉ rõ : “ Lịch
sử tư tưởng chứng minh cái gì , nếu không phải là chứng minh rằng sản xuất
tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất ? Những tư tưởng thống trị cua
tmột thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị”.
Là hệ tư tưởng mang bản chất giai cấp ( công nhân ) nh
ư mọi hệ tư tưởng ,
nhưng khác với bất cứ hệ tư tưởng nào khác , chủ nghĩa Mác - Lênin là học
thuyết cách mạng và khoa học kết tinh những tinh hoa văn hoá nhân loại ,
hướng vào giải phóng toàn xã hội , giải phóng dân tộc , giải phóng con người
, khắc phục triệt để tình trạng con người bị tha hoá , tạo điều kiện phát triển
và không ngừng hoàn thiện con người . Chủ nghĩa cộng sản trong b
ản chất