Đề án“Thực trạng hoạt động
ngân hàng của Việt Nam”
1
MỤC LỤC
TrangLỜI NÓI ĐẦU 2
NỘI DUNG
I/ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN QUA
14
II/ MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO
17
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 252
LỜI NÓI ĐẦUSự ra đời hoạt động ngân hàng đánh dấu một bước ngoặt trong
lịch sử phát triển và tiến bộ của con người. Lênin đã coi sự ra đời
ngân hàng như ”Sự phát minh ra lửa” hay “Sự phát minh ra bánh xe”.
Vai trò to lớn của hoạt động ngân hàng đối với sự phát triển nền kinh
tế và xã hội được xuất phát từ chính những đặc trưng của nó. Hoạt
động kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệ
t bởi
hàng hoá trong quá trình kinh doanh là tiền tệ-loại hàng hoá có tính
nhạy cảm và sức cuốn hút đặc biệt. Chính tính đặc biệt riêng có này
của tiền tệ mà hoạt động kinh doanh ngân hàng vừa là một loại hoạt
động đem lại hiệu quả rất lớn đối với nền kinh tế, vừa là một lĩnh
vực mà khả năng xảy ra rủi ro cao.
Nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động ngân hàng là một việc làm
h
ết sức cần thiết đối với hệ thống ngân hàng thương mại của Việt
Khi nghiên cứu về ngân hàng, do có sự xâm nhập mạnh mẽ
của các định chế tài chính phi ngân hàng và sự phát triển đa dạng của
bản thân ngành ngân hàng nên rất khó để đưa ra một định nghĩa
chính xác, ngắn gọn về ngân hàng.
Ở Việt Nam, luật các tổ chức tín dụ
ng đã đưa ra một định
nghĩa về ngân hàng như sau: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng
được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác có liên quan. Trong đó hoạt động ngân hàng là hoạt động
kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên
là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các
dịch vụ thanh toán.
Hệ thống ngân hàng hiện nay
được chia thành hai bộ phận
chính: Ngân hàng Trung Ương và các ngân hàng trung gian. Vì sự
liên đối mật thiết với nhau trên thị trường tiền tệ và tài chính, nhiều
tổ chức không phải là ngân hàng nhưng cũng tham gia vào hoạt động
cho vay và kinh doanh tiền tệ như các tổ chức tín dụng, công ty Bảo
hiểm, công ty Tài chính, các quỹ tiền tệ... được nhiều nước xem như
là bộ phận thứ ba của hệ thống ngân hàng .
2/ Những nghiệp vụ chủ yế
u của ngân hàng
Như phần trên đã nghiên cứu, hệ thống ngân hàng hiện nay
được chia thành hai bộ phận chính, và mỗi bộ phận này sẽ thực hiện
những chức năng riêng có của nó.
Ở tất cả các nước, Ngân hàng Trung Ương là cơ quan duy nhất
phát hành giấy bạc để đưa vào lưu hành trong nền kinh tế. Nó có
4
t động mở tài khoản tiền gửi cho khách
hàng, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, hoặc đi vay các ngân
hàng khác. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng Thương mại có thể được
hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như do Nhà nước cấp, do các cổ
đông góp vốn hoặc của các bên liên doanh; ngoài ra, vốn chủ sơ hữu
còn có thể do ngân hàng mở rộng các hoạt động như làm dịch vụ, đại
lý...
5
Về hoạt động sử dụng vốn, Ngân hàng Thương mại có thể cho
vay. Đây hoạt động chủ yếu của các Ngân hàng Thương mại và nó
cũng phản ánh đúng tính chất của các Ngân hàng Thương mại là huy
động vốn để cho vay. Bên cạnh đó, Ngân hàng Thương mại cũng có
thể đầu tư kinh doanh chứng khoán, đầu tư tài sản cố định ...
Ngân hàng Thương mại còn thực hiện một số ho
ạt động trung
gian khác như làm trung gian thanh toán cho khách hàng, chuyển tiền
cho khách hàng, tư vấn, môi giới chứng khoán...
Chính vì những đặc trưng trong hoạt động của các Ngân hàng
Thương mại như nêu trên mà những rủi ro trong hoạt động ngân hàng
thường gắn liền với các Ngân hàng Thương mại .
II/ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
1/ Rủi ro
Rủi ro trong kinh doanh được hiểu là những thiệt hại trong kinh
doanh có thể nằm ngoài khả năng kiểm soát của
đơn vị kinh doanh.
Từ đó ta có nhận xét:
- Không được coi tất cả các thiệt hại trong kinh doanh là rủi ro
Thậm chí, với hoạt
động ngân hàng, hầu như không có loại nghiệp vụ
nào, không có loại dịch vụ nào của ngân hàng là không có rủi ro bởi
một lẽ là hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại trong nền
kinh tế thị trường là một hoạt động rất nhậy cảm, mọi biến động
trong nền kinh tế-xã hội đều nhanh chóng tác động đến hoạt động
ngân hàng, có thể gây nên những xaó trộn bất ngờ và dẫn đến hiệu
quả của ngân hàng bị giảm sút một cách nhanh chóng. Do vậy, hoạt
động kinh doanh của ngân hàng thương mại luôn chứa đựng những
rủi ro “tiềm ẩn”, nó có thể xẩy ra bất cứ lúc nào.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực đặc biệt do
hàng hoá của nó là tiền tệ-loại hàng hoá có tính nhạy cảm và sức
cuốn hút rất lớn; vì vậy mà rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng
rất lớn và đa dạng.
Do vậy, nhận th
ức rõ từng loại rủi ro, đề ra những biện pháp
ngăn chặn phòng chống hữu hiệu để hạn chế thấp nhất rủi ro luôn là
vấn đề cấp bách thường xuyên liên tục tồn tại song song với hoạt
động của ngân hàng.
7
III/ NHỮNG RỦI RO ĐẶC THÙ TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1/Rủi ro tín dụng
Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng; nó
thường chiếm phần lớn trong các hoạt động kinh doanh của ngân
hàng cả về khối lượng công việc cũng như mức độ tạo thuận lợi. Tỷ
lệ thuận với nó là mức độ rủi ro của nghiệp vụ này cũng chiếm phần
8
yếu là từ sự yếu kém của cán bộ ngân hàng, các nhà quản trị điều
hành không có năng lực, thiếu kiểm tra giám sát), nguyên nhân từ
phía khách hàng...
Ngày nay, các Ngân hàng Thương mại dù đã mở rộng kinh
doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng hoạt động cho vay vẫn là
nguồn cơ bản tạo nên thu nhập của ngân hàng. Đặc biệt, ở những
nước đang phát triển như ở Việt Nam, hoạt động cho vay chiếm tớ
i
90% hoạt động của ngân hàng, và vì thế mà rủi ro tín dụng là vấn đề
cần được quan tâm đặc biệt trong hoạt động của các ngân hàng
Thương mại ở nước ta hiện nay.
Về bản chất, rủi ro tín dụng là loại rủi ro đa dạng và phức tạp,
và việc quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn. Loại rủi ro này có
thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Bất c
ứ một rủi ro nào đó của
hoạt động cho vay cũng đưa đến rủi ro cho ngân hàng. Ngân hàng
không thể loại trừ khả năng rủi ro, song nếu ngân hàng có những giải
pháp đồng bộ hữu hiệu thì có thể ngăn ngừa rủi ro, hạn chế tối đa
những thiệt hại có thể xảy ra.
2/ Rủi ro về lãi suất
Rủi ro lãi suất là rủi ro phát sinh khi có sự biến động của chênh
lệch lãi suất giữa lãi suất cho vay của ngân hàng với lãi suất phải trả
cho việc đi vay, dẫn đến làm giảm thu nhập của ngân hàng.
Rủi ro này là hậu quả của những thay đổi lãi suất. Trong nền
kinh tế, lãi suất là yếu tố rất nhạy cảm đối với biến động của nền
kinh tế; hơn nữa, nó là công cụ trong việc thực hiện chính sách tài
chính tiền tệ của Chính phủ
của nền kinh tế tác động đến lãi suất như cung, cầu, yếu tố khác của
thị trường... Khi ngân hàng có quyế
t định điều chỉnh lãi suất theo
hướng giảm xuống, trong khi tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn trả, tức
là khoản tiền gửi có kỳ hạn lại không giảm tương ứng, nên cũng dẫn
đến rủi ro lãi suất.
3/ Rủi ro hối đoái
Kinh doanh ngoại hối là một trong những hoạt động của ngân
hàng nhằm phục vụ cho nhu cầu đa dạng c
ủa nền kinh tế, tạo điều
kiện cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu hoạt động thuận lợi.
Rủi ro hối đoái là rủi ro xuất hiện trong nghiệp vụ kinh doanh
ngoại hối do sự biến động về tỷ giá giữa các đồng tiền.
Nếu tỷ giá hối đoái bán ra lớn hơn tỷ giá mua vào thì nhà kinh
doanh có lãi, ngược lại thì bị lỗ.
Trong nền kinh tế thị trường, tỷ
giá luôn biến động, với biến
đổi của tỷ giá hối đoái, bất kỳ một khoản nợ nào cho dù dài hay
10
ngắn, đối với một đồng tiền nhất định, đều có thể tạo cho ngân hàng
phải đối mặt với rủi ro tỷ giá hối đoái.
Sự thay đổi tỷ giá dẫn đến sự thay đổi giá trị ngoại hối, cụ thể:
- Nếu ngân hàng có dư dật về ngoai tệ nào đó, khi ngoại tệ đó
lên giá, ngân hàng sẽ có lãi, ngược lại ngân hàng sẽ lỗ khi ngoại tệ
đó xu
ống giá.
- Nếu ngân hàng ở vị đoản về loại ngoại tệ nào đó, khi ngoại tệ
đó lên giá, ngân hàng sẽ lỗ và ngược lại ngân hàng sẽ có lãi nếu