THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 19

Phần I
Thực trạng hoạt động ngoại thơng
của Việt Nam hiện nay
Từ sau khi thống nhất đất nớc năm 1975 cho đến cuối thập niên 80 của
thế kỉ 20, Nhà nớc Việt Nam giữ độc quyền tuyệt đối về ngoại thơng và các
quan hệ kinh tế đối ngoại khác. Với cơ chế và chủ trơng nh vậy đã không thúc
đẩy đợc sự sáng tạo của các đơn vị kinh doanh, hiệu quả sử dụng nguồn lực
kinh tế trong xuất nhập khẩu không cao. Chính vì vậy, trong giai đoạn này cán
cân thơng mại của ta luôn mất cân đối( nhập siêu). Vì thế, Nhà nớc đã phải
chuyển từ giai đoạn chiến lợc thay thế hàng nhập khẩu sang giai đoạn chiến l-
ợc khuyến khích xuất khẩu( sản xuất hớng ngoại), từ đó tạo động lực mới cho
hoạt động ngoại thơng. Giai đoạn này kéo dài từ cuối thập niên 80 cho đến nay
nhằm phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tế trong những hoàn cảnh mới.
Chúng ta tập trung và chú trọng nhiều vào điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu
bằng cách mở rộng chính sách và hình thức đầu t, tạo điều kiện trong các qui
định hành chính và cơ sở luật pháp. Trong những năm gần đây, chúng ta đã và
đang tiến hành đổi mới nhiều mặt trong quá trình hội nhập:
- Về thuế quan: Chúng ta chỉ áp dụng thuế chủ yếu trên hàng nhập khẩu,
còn với hàng xuất khẩu thì đợc u đãi với mức thuế suất không đáng kể.
Chúng ta đang từng bớc chuyển đổi mức thuế xuất- nhập khẩu sao cho
phù hợp với yêu cầu của CEPT sau khi Việt Nam ra nhập AFTA.
- Về cơ chế quản lý xuất- nhập khẩu: Cho phép mọi thành phần kinh tế
hợp pháp đợc quyền trực tiếp xuất- nhập khẩu hàng hoá theo ngành
nghề trong giấy phép kinh doanh, vơn tới sự thống nhất trong hoạt động
thơng mại, không phân biệt nội thơng hay ngoại thơng.
- Về nguyên tắc: Mọi chủ thể kinh tế đều có quyền xuất- nhập khẩu mọi
chủng loại hàng hoá, ngoại trừ các mặt hàng cấm xuất- nhập khẩu và
một số loại hàng hoá xuất- nhập khẩu có điều kiện theo qui định của
một số văn bản pháp qui.
- Thay đổi nhiều trong việc phân bố quota xuất khẩu: Đối với gạo,
Chính phủ cấp hạn ngạch qua UBND các tỉnh, thành phố có thừa gạo để

nh thuốc lá Vinataba, hàng may mặc của Việt Tiến, cà phê Trung
Nguyên... Trong cơ chế thị trờng của thời kì hội nhập, thơng hiệu đợc coi là
một tài sản quí giá cho doang nghiệp và là một công cụ cạnh tranh trên thị
trờng. Bên cạnh việc cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lợng sản phẩm thì việc
có một thơng hiệu mạnh cũng là một trong những nhu cầu bức thiết để
củng cố vị trí và sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, th-
ơng hiệu chính là công cụ bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp. Một khi thơng
hiệu đã đợc đăng kí sở hữu với các cơ quan quản lý Nhà nớc thì chính nó
đã trở thành một thứ tài sản vô giá. Việc sở hữu hợp pháp một thơng hiệu
Kinh tế phát triển
2
sẽ cho phép doanh nghiệp đợc độc quyền kinh doanh hoặc khai thác những
lợi ích do thơng hiệu đó mang lại.
Trên thực tế, xuất khẩu của Việt Nam vẫn đang đi theo hớng cái ta
có chứ cha đáp ứng đợc cái ngời ta cần. Không phải ta có gạo là xuất
khẩu gạo mà phải xem thị trờng thế giới cần gạo gì, phẩm chất ra sao, từ đó
tìm hớng thay đổi giống lúa phục vụ xuất khẩu đạt chất lợng cao... Để làm
đợc điều này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu và trình độ phát triển nhất định,
nhng đáng tiếc việc đầu t cho vấn đề này của Việt Nam còn rất nhiều hạn
chế.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đều thừa nhận việc xuất khẩu hiện nay
còn lệ thuộc tơng đối vào thị trờng trung gian. Điều đó có nghĩa là nếu
không có thị trờng trung gian thì sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam khó có
thể đến đợc thị trờng thứ ba và đợc thị trờng này chấp nhận. Nguyên nhân
của vấn đề này là do sản phẩm xuất khẩu của ta cha có uy tín trên thị trờng
thế giới, đặc biệt chúng ta còn thiếu các kênh phân phối và tiêu thụ. Việc
quảng bá sản phẩm Việt Nam ra thị trờng nớc ngoài hiện nay thông qua
một số con đờng cơ bản nh: tổ chức các đoàn doanh nghiệp Việt Nam tham
dự trng bày và giới thiệu sản phẩm tại các hội chợ quốc tế, một số doanh
nghiệp tự đi tìm hiểu thị trờng và các đối tác kinh doanh. Thực ra, việc này

cần phải xem xét và tiếp tục quản lý hoạt động xuất- nhập khẩu.
Phần II
Xu hớng và giải pháp để đẩy mạnh
hoạt động ngoại thơng
Kinh tế phát triển
4
Trong bối cảnh và điều kiện hội nhập AFTA, APEC và WTO, Việt
Nam đang đứng trớc vô vàn những thuận lợi và khó khăn trong việc khai
thác hệ thống thị trờng mở. Định hớng cho việc khai thác này là chúng ta
cố gắng tiếp cận các thị trờng càng nhanh càng tốt. Kế hoạch đến năm
2005 chúng ta đặt ra tỷ trọng xuất nhập khẩu với thị trờng châu Âu khoảng
28-29%, thuận lợi trong việc hởng qui chế tối huệ quốc MFN của EU và
Hoa Kì, tỷ trọng xuất nhập khẩu với thị trờng châu Mỹ là 26-27% và thị tr-
ờng châu á giảm song vẫn ở mức 40%.
I. Mục tiêu định hớng phát triển ngoại thơng Việt Nam đến
năm 2005.
Mục tiêu của việc phát triển sản xuất tạo nguồn hàng xuất khẩu là
nhằm mục đích thúc đẩy nhanh chóng thị trờng xuất khẩu, giảm tỷ trọng
nhập khẩu và tăng trởng kinh tế( Tăng GDP: GDP = C + G + I + X -M).
Mục tiêu chính của việc tạo lập khả năng sản suất hàng xuất khẩu là tăng c-
ờng xuất khẩu hàng công nghiệp( hàng đã qua chế biến, hạn chế tối đa xuất
khẩu sản phẩm thô), tăng tính ổn định và chủ động trong việc tổ chức cung
ứng hàng xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh về chất lợng và gia cả sản
phẩm trên thị trờng thế giới.
Trong giai đoạn 2001-2005 diễn ra quá trình chuyển dần lợi thế so
sánh từ hàng thâm dụng lao động sang hàng thâm dụng kĩ thuật. Chúng ta
đi theo một số hớng sau đây:
- Đẩy mạnh phát triển xuất khẩu các mặt hàng truyền thống của giai đoạn
trớc.
- Tích cực nâng cao tỷ trọng xuất khẩu linh kiện điện tử, phụ tùng xe...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status