Tìm hiểu ngân hàng nhà nước Việt Nam - Pdf 90

Lớp Bồi dưỡng kiến thức Chuyên viên chính K2.08
LỜINÓIĐẦU
Có thể hiểu Ngân hàng Thương mại theo một trong các khái niệm như
sau :
 Ngân hàng Thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh
trên nhiều lĩnh vực tiền tệ tín dụng.Trong đó chức năng chủ yếu là làm
trung gian Tín dụng giữa các doanh nghiệp các cá nhân trong nền Kinh
Tế.
 Ngân hàng Thương mại là một Tổ chức kinh doanh tiền tệ và thực hiện
các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.
 Ngân hàng Thương mại là Tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ
yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu
và làm phương tiện thanh toán.
 Ngân hàng Thương mại là một tổ chức Tín dụng quan trọng nhất trong
các ngân hàng trung gian.
 Điều 20: Luật các tổ chức Tín dụng (Luật số 02/1997/QH-10) chỉ rõ :
“Ngân hàng Thương mại là một tổ chức Tín dụng được thực hiện toàn bộ
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.”
Như vậy, có thể nói rằng Ngân hàng Thương mại là định chế tài chính
trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ
thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập
nguồn vốn Tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.
Từ đó có thể nói bản chất của Ngân hàng Thương mại thể hiện qua các
điểm sau:
 Ngân hàng Thương mại là một tổ chức kinh tế.
 Ngân hàng Thương mại hoạt động mang tính chất kinh doanh.
Thái Minh Lượng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Lớp Bồi dưỡng kiến thức Chuyên viên chính K2.08
 Ngân hàng Thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực Tiền tệ
Tín dụng và dịch vụ ngân hàng.

Tiết kiệm
Cho vay
Cung cấp dịch
vụ
ngân hàng
Lớp Bồi dưỡng kiến thức Chuyên viên chính K2.08
Mặt khác, hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Thương mại phụ thuộc vào
mức độ rủi ro:
Ngân hàng Thương mại là một Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong
lĩnh vực tiền tệ - tín dụng và dịch vụ Ngân hàng.Cũng như các Doanh nghiệp
khác,các Ngân hàng Thương mại hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng có nhiều yếu tố khách quan và chủ
quan mang lại rủi ro, nhiều yếu tố bất khả kháng nên không tránh khỏi rủi ro.
Chính vì vậy, hàng năm các Ngân hàng Thương mại được phép trích lập quỹ bù
đắp rủi ro. Quy mô quỹ bù đắp rủi ro căn cứ vào mức độ và khả năng rủi ro.
Nếu rui ro thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ tăng, và ngược lại. Như vậy hiệu quả kinh
doanh của Ngân hàng Thương mại tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro của doanh
nghiệp.Khi rủi ro quá lớn đến mức Ngân hàng Thương mại mất khả năng thanh
toán sẽ dẫn đến phá sản doanh nghiệp.
Do đó việc quản trị xử lý Tín dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh là rất quan trọng.
Sau gần 4 tháng theo học tại khóa “Bồi dưỡng kiến thức Quản lý Nhà
nước, Chương trình Chuyên viên chính năm 2008 ” tại Học viện Hành Chính,
được sự nhiệt tình giảng dạy, truyền thụ kiến thức của các Thầy, Cô trong Học
Viện, tôi đã có được những kiến thức cơ bản, bổ ích và thiết thực phục vụ cho
công tác quản lý đạt kết quả tốt. Trên cơ sở đó tôi lựa chọn đề tài “Tình huống
nâng cao năng lực quản trị và xử lý rủi ro tín dụng của Chi nhánh Ngân hàng
Công thương khu vực BĐ” để thực hiện bài Tiểu luận này.
Ngoài phần mở đầu, Tiểu luận được bố cục thành ba phần chính :
Phần thứ nhất: Mô tả tình huống.

các Ngân hàng Thương mại cũng có thể gọi là khủng hoảng tín dụng. Đó là rủi
ro tín dụng xẩy ra phổ biến,nợ khó đòi tăng cao. Trước tình hình đó Ngân hàng
Thươngmại thực hiện các giải pháp tình thế đi theo các giải pháp lâu dài, để đưa
lại kết quả như thông qua kiểm tra xử lý bằng giảm nợ, khoanh nợ, cho vay mới,
kể cả các biện pháp mạnh như sát nhập, giải thể hay cho phá sản những Ngân
hàng Thương mại mất khả năng thanh toán như Ngân hàng Thương mại Việt
Hoa, Ngân hàngThương mại Châu Á Thái Bình Dương…như vậy việc quản lý
và xử lý rủi ro tín dụng là mục tiêu trước mắt và lâu dài.
Thái Minh Lượng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Lớp Bồi dưỡng kiến thức Chuyên viên chính K2.08
2) –Diễn biến tình huống.
Cho đến những năm đầu của thế kỷ 21 hoạt động Tín dụng của các Ngân
hàng Thương mại được khôi phục và có bước phát triển mới. Cùng với đà tăng
trưởng của nền kinh tế và dòng vốn nước ngoài đổ vào khá cao, tốc độ tăng tổng
phương tiện thanh toán và tổng dư nợ đến chóng mặt nhất là những năm gần
đây, đã báo hiệu tốc độ của lạm phát và hiện tượng kinh tế “ bong bóng ” dẫn
đến rủi ro tín dụng ( xem biểu sau đây):
1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tín Dụng
39.9 30.2 24.8 13.2 27.7 20.2 31.6 28.8 27.2 20.6 24.8 37.8
TPTTT
27.8 26.8 24.7 28.6 25.6 24.5 2.11 23.9 20.6 24.4 29.7 36.9
CPI
4.65 3.63 9.2 0.05 -0.6 0.79 4.04 3.01 9.5 8.4 6.6 12.63
Có nhiều cách phân loại rủi ro, tuy nhiên trong phạm vi hoạt động của các
Ngân hàng Thương mại Việt Nam, thì có thể tổng hợp thành 1 số loại rủi ro cơ
bản sau :
- Rủi ro tín dụng : Rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên
đối tác không thể thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng
đối với một Ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù

biệt khỏi hoạt động kinh doanh Ngân hàng như việc tài trợ cho những khách
hàng gây ô nhiễm môi trường có thể làm Ngân hàng bị các bên thứ ba kiện
cáo…
– Khi các thu xếp pháp lý của một Ngân hàng, ví dụ: các hợp đồng cho
vay và tài sản đảm bảo tiêu chuẩn của Ngân hàng đó có vấn đề, hoặc Nhà nước
thay đổi đột ngột chính sách vĩ mô về cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu tiên… điều
này có thể dẫn tới rủi ro thua lỗ cho Ngân hàng.
-Rủi ro chiến lược : Phát sinh từ các thay đổi trong môi trường hoạt động
của Ngân hàng trên phạm vi rộng hơn về mặt kinh doanh và tài chính. Rủi ro
Thái Minh Lượng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Lớp Bồi dưỡng kiến thức Chuyên viên chính K2.08
chiến lược cũng có thể phát sinh từ các hoạt động của bản thân các Ngân hàng.
Ví dụ: việc xâm nhập vào một thị trường mới mà thiếu sự nghiên cứu đầy đủ và
thiếu các nguồn lực cần thiết để khai thác thị trường này có thể làm Ngân hàng
gặp rủi ro thua lỗ.
-Rủi ro uy tín : là rủi ro dư luận đánh giá xấu về Ngân hàng, gây khó khăn
nghiêm trọng cho Ngân hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn hoặc khách hàng rời
bỏ Ngân hàng.
*. Thực trạng rủi ro tín dụng :
Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của các Tổ chức tín dụng,
theo qui định tại điều 2 Qui định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lý rủi ro tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ – NHNN
ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, là khả năng xảy
ra tổn thất trong hoạt động của Tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện
hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Hiện nay,
dịch vụ tín dụng cho vay của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam vẫn chiếm
tỉ trọng lớn nhất (trên 60 %) trong danh mục tài sản có, do đó, song song với
việc tăng trưởng tín dụng, nhiệm vụ đặt ra đối với hệ thống Ngân hàng là phải
chú trọng hơn nữa đến việc áp dụng hoàn thiệncác giải pháp nâng cao quản trị
rủi ro tín dụng, như : xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, trong đó quy

yêu cầu hội nhập.
Để đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn ,hiệu quả và bền vững, góp
phần tăng trưởng, phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu của Ủy ban
Basel (Basel II) về quản trị rủi ro trong hoạt động Ngân hàng, gần đây Ngân
hàng Nhà nước đã ban hành một số văn bản liên quan đến công tác quản trị rủi
ro tín dụng nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, như :
- Chỉ thị số 02/2005/CT- NHNN ngày 20/4/2005 yêu cầu các Ngân hàng
Thương mại tuân thủ đúng các quy định về cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài
Thái Minh Lượng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Lớp Bồi dưỡng kiến thức Chuyên viên chính K2.08
chính, chiết khấu, bao thanh toán và bảo đảm tiền vay, bảo đảm tăng trưởng
tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn, đảm bảo chú trọng, đến công
tác quản trị rủi ro, kiểm tra, kiểm soát nội bộ.
- Quyết định 783/2005/QĐ – NHNN ngày 31/5/2005 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà Nước sửa đổi bổ sung Quy chế cho vay của Ngân hàng Thương
mại đối với khách hàng. Các nội dung được sửa đổi quy định theo hướng
trao nhiều quyền phán quyết, hoặc tạo cơ sở Pháp lý cho Tổ chức tín dụng
chủ động thực hiện theo đặc thù kinh doanh – Ví dụ : việc cơ cấu lại thời
hạn trả nợ là do Ngân hàng Thương mại tự xem xét, quyết định trên cơ sở
khả năng tài chính của mình và kết quả đánh giá khả năng trả nợ của khách
hàng.
- Trước tình hình đó những đảm bảo an toàn vốn và ngăn chặn rủi ro tín dụng
có thể xảy ra mang tính hệ thống. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban
hành các văn bản điều hành và yêu cầu lãnh đạo các Ngân hàng Thương mại
nâng cao năng lực quản lý rủi ro và xử lý rủi ro tín dụng tồn đọng cũng như
rủi ro tiềm ẩn :
• Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22-04-2005 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước ban hành qui định về phân loại nợ, trích lập và
sử dụng dự phòng mà công văn số 354/CV của NHNNban hành ngày
10-07-2002.

Thái Minh Lượng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Lớp Bồi dưỡng kiến thức Chuyên viên chính K2.08
• Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 15 tháng 4 năm 2007của Thống
đốc Ngân hàng Nhà Nước về việc sửa đổi bổ xung một sốđiều của quy
định về phân loại hỗ trợ, trích lập và sử dụng quỹ dự phòng về xử lýrủi ro
tín dụng trong hoạt động ngân hàng ban hành theo quyết định số
493/2005/QĐ-NHNN.
Trên cơ sở 2 văn bản trên Hội đồng quản trị Ngân hàng Công thương Việt
Nam cũng ra văn bản hướng dẫn thực hiện các Quyết định của Ngân hàng Nhà
nước.
* Quyết định số 234/QĐ-HĐQT-NHCT ngày 9-6 năm 2005, củaHĐQT-
NHCT-VN về việc ban hành quy chế về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng
quỹ dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng Công thương.
Vào năm 2007 cũng có Quyết định tiếp theo đó là: Quyết định số
296/QĐ-HĐQT-NHCT ngày 1-8-2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của
quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng quỹ dự phòng để xử lý rủi ro
tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương.
3. Ngân hàng Công thương khu vực BĐ và nhiệm vụ xử lý rủi ro tín dụng
theo Quyết định số 493 của Ngân hàng Công thương Việt Nam.
a) Khái quát về Chi nhánh Ngân hàng Công thương - Khu vực BĐ
- Tiền thân của Ngân hàng Công thương khu vực BĐ là Chi điếm Ngân
hàng Nhà nước.
- Năm 1988 thực hiện Nghị định 53 của Hội đồng Bộ trưởng Chi điếm
Ngân hàng BĐ được chuyển đổi thành một Chi nhánh Ngân hàng Thương mại
quốc doanh với tên gọi là Chi nhánh Ngân hàng Công thương quận BĐ trực
thuộcNgân hàng Công thương thành phố Hà Nội.
Thái Minh Lượng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status