Mở rộng các kênh huy động vốn của công ty TNHH TM kỹ thuật điện Hà Nội - Pdf 90

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Với mỗi công ty thì để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì
công ty cần có vốn để hoạt động. Vốn là một nhân tố sản xuất quan trọng
sống còn, quyết định đến sự thành bại của công ty. Vốn càng lớn thì tiềm lực
của công ty càng lớn, nó tạo điều kiện cho công ty dễ dàng hơn trong các
quyết định đầu tư, trong các dự án đầu tư mới như tham gia vào lĩnh vực kinh
doanh mới…
Với công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại kỹ thuật điện Hà Nội thì với
vị trí là một công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực xây lắp điện và cung
ứng các thiết bị ngành điện thì đó là một vấn đề rất quan trọng. Vì công ty
mới được thành lập và đi vào hoạt động được bảy năm nên công ty gặp rất
nhiều khó khăn trong hoạt động như thị trường của công ty còn khá nhỏ bé,
trong công ty các kế hoạch sản xuất, kế hoạch chung cho cả công ty còn chưa
có hay đơn thuần đó chỉ là những bản kế hoạch được xây dựng trong ngắn
hạn chưa có được sự nghiên cứu tỷ mỉ… Hay vấn đề nhân sự trong công ty
khi mà công ty chưa có được đội ngũ nhân viên có trình độ đáp ứng nhu cầu
hoạt động sản xuất kinh doanh… Nhưng đó chưa phải là vấn đề khó khăn
nhất của công ty khi mà vấn đề khó khăn nhất của công ty chính là khả năng
huy động vốn cho các hoạt động của mình. Vì nguồn vốn của công ty còn eo
hẹp do vậy mà khả năng mở rộng thị trường bị hạn chế, khả năng trang bị
máy móc thiết bị cũng bị giới hạn, chưa có được nguồn kinh phí cho công tác
xây dựng kế hoạch… Sở dĩ công ty gặp nhiều khó khăn như vậy là do những
nguyên nhân sau.
Nguyễn Mạnh Dũng
Lớp: Kế hoạch 45A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vì công ty mới đi vào hoạt động lại là công ty có quy mô nhỏ do vậy mà
doanh thu và lợi nhuận của công ty còn nhỏ điều này đã hạn chế khả năng tích

2. Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu đề tài.
Vì đề tài này là nghiên cứu về các kênh khai thác huy động vốn mà công ty
hiện đang tiếp cận cũng như những kênh huy động mà công ty vẫn còn bỏ ngỏ
chưa tiếp cận vì vậy mà mục đích nghiên cứu chủ yếu của đề tài này là tìm
hiểu làm rõ những kênh huy động vốn mà công ty hiện đang tiếp cận. Để từ
đó đi sâu phân tích những thuận lợi của các kênh huy động vốn này. Vai trò
của từng kênh trong hoạt hoạt động khai thác vốn của công ty nói chung, xem
trong các kênh huy động vốn đó thì kênh nào là quan trọng nhất, huy động
được nhiều vốn nhất để từ đó sẽ tìm ra được những bài học kinh nghiệm từ
kênh huy động vốn đó và thêm vào đó còn tìm hiểu những khó khăn, nhược
điểm của những kênh huy động hiện tại, xem các kênh huy động vốn hiện nay
có những khó khăn gì trong việc huy động để từ đó tìm ra những giải pháp
nhằm khắc phục những khó khăn đó để từ đó mà nâng cao được hiệu quả huy
động vốn của các kênh huy động vốn cũng như là của hoạt động huy động
huy động vốn nói chung của công ty. Thêm vào đó ngoài việc tìm hiểu nghiên
cứu những kênh huy động vốn mà công ty đang áp dụng thì đề tài còn đi vào
tìm hiểu nghiên cứu những kênh huy động vốn khác mà công ty vẫn còn chưa
áp dụng tìm hiểu những ưu điểm và nhược điểm của từng kênh huy động vốn
cũng như là tìm hiểu kinh nghiệm của các doanh nghiệp khác trong việc áp
dụng những kênh huy động vốn mà doanh nghiệp chưa áp dụng từ đó phân
tích xem với điều kiện hiện tại của công ty thì nên áp dụng kênh huy động
vốn nào là hợp lý nhất, phù hợp với công ty nhất. Có như vậy thì sau khi
nghiên cứu xong đề tài mới có thể đề xuất với công ty phương án huy động
vốn từ kênh mới là hiệu quả nhất, phù hợp nhất với công ty.
Nguyễn Mạnh Dũng
Lớp: Kế hoạch 45A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài này là nó có những ý nghĩa sau đây.
Thứ nhất là mong tìm ra được những bài học kinh nghiệm từ việc khai thác,

Trong đề tài này thì đối tượng nghiên cứu chủ yếu ở đây sẽ là các phương
pháp huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại kỹ thuật điện
Hà Nội và các công ty vừa và nhỏ khác để học hỏi và tham khảo. Bao gồm
các kênh huy động vốn mà họ áp dụng, giải pháp để họ có thể thực hiện đối
với từng kênh huy động vốn… Thêm vào đó cũng có thể tìm hiểu phương
pháp huy động vốn của một số công ty lớn. Vì khi nghiên cứu phương pháp
huy động vốn của các công ty vừa và nhỏ có cùng điều kiện về quy mô như
của công ty mình thì từ đó sẽ dễ dàng hơn cho việc áp dụng các kinh nghiệm
của những công ty này vào cho công ty mình, nó sẽ phù hợp hơn nhiều so với
việc áp dụng kinh nghiệm từ các công ty lớn. Còn việc nghiên cứu những
kênh huy động vốn của các công ty lớn cũng như những giải pháp mà họ áp
dụng để thực hiện ở đây chỉ có ý nghĩa tham khảo đối với công ty.
Phạm vi nghiên cứu ở đây là các công ty vừa và nhỏ trong khu vực thành
phố Hà Nội. Vì hiện nay công ty đang hoạt động chủ yếu ở thị trường Hà Nội
và một số tỉnh thành phía bắc, thêm vào đó thì do khó khăn trong quá trình
nghiên cứu mà đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các công ty vừa và nhỏ trong
phạm vi thành phố Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Ở đây do đề tài nghiên cứu là tìm hiểu về những phương thức huy động
vốn, các kênh huy động vốn mà các công ty vừa và nhỏ áp dụng do vậy mà
phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là.
Phân tích những kênh huy động vốn mà công ty hiện nay đang áp dụng để
từ đó tìm ra những thuận lợi khó khăn của những kênh huy động vốn này. Và
Nguyễn Mạnh Dũng
Lớp: Kế hoạch 45A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
còn phân tích những kênh huy động vốn khác mà công ty chưa áp dụng tìm ra
những khó khăn thuận lợi của những kênh huy động vốn này.
Từ những phân tích đó mà có những đánh giá về những kênh huy động

cả vật chất như nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu… Nếu
hiểu theo nghĩa rộng hơn thì vốn ở đay còn có thể bao gồm cả vốn con người
theo đó thì vai trò của con người ngày càng trở lên quan trọng đặc biệt là khi
chúng ta sắp bước vào nền kinh tế tri thức một nền kinh tế phát triển thì theo
đó chất xám con người là một nguồn vốn vô cùng quan trọng và quý giá nhiều
khi vốn bằng tiền tệ cũng chưa sánh được so với nguồn vốn con người, vốn tri
thức.
Nhưng trong đề tài này thì chỉ đi vào tìm hiểu phân tích về vồn theo nghĩa
hẹp là vốn tiền tệ và vật chất. Vì vậy hiểu theo nghĩa hẹp một cách đơn giản
nhất thì vốn là toàn bộ giá trị của tiền và vật chất được ứng ra ban đầu và quá
trình tiếp theo để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Nhưng như trên đã nói thì ở đây vốn cũng có rất nhiều loại bao gồm vốn
vật chất và vốn tri thức. Hay như bên trong doanh nghiệp thì vốn cũng có bao
Nguyễn Mạnh Dũng
Lớp: Kế hoạch 45A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gồm hai loại vốn chính là vốn chủ sở hữu và vốn đi vay. Hoặc cũng có thể
phân thành vốn cố định và vốn lưu động.
Theo cách phân loại về nguồn hình thành thì bao gồm.
Vốn chủ sở hữu là lượng vốn mà chủ doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình
hình thành doanh nghiệp và được tích luỹ dần trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh mà thuộc quyền sở hữu và sử dụng của doanh nghiệp. Vốn
chủ sở hữu này được dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Bản thân bên trong vốn chủ sở hữu cũng bao gồm nhiều loại
như khấu hao, lợi nhuận để lại, quỹ dự phòng…
Theo đó thì lợi nhuận để lại là phần còn lại của kết quả quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi
phí và các khoản khác như phần nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hay là phần

của doanh nghiệp nhưng đây là vay một cách gián tiếp bằng cách phát hành cổ
phiếu vì vậy ở đây doanh nghiệp không chỉ vay của các tổ chức tín dụng tài
chính mà còn vay của các đối tác, quần chúng nhân dân các nhà đầu tư chứng
khoán. Vì khi phát hành cổ phiếu ra thị trường chứng khoán thì cổ phiếu đó sẽ
không chỉ được nhân dân mua, những nhà đầu tư chứng khoán mua mà nó còn
có thể được các tổ chức tài chính hay là các đối tác mua. Vốn có được từ việc
phát hành trái phiếu theo đó thì lượng vốn mà doanh nghiệp có được là thông
qua việc phát hành trái phiếu vay nợ ra thị trường vốn để thu hút vốn từ các
tầng lớp dân cư. Hay là vốn có được từ liên doanh, liên kết theo đó thì doanh
nghiệp sẽ có vốn khi tiến hành liên doanh liên kết với bên ngoài. Với hình
thức liên doanh liên kết này thì vừa có vốn để hoạt động lại vừa có thể tham
gia được vào thị trường mới hay là giảm thiểu rủi ro của doanh nghiệp khi thất
bại sẽ không phải chịu tất cả thua lỗ mà có doanh nghiệp khác cùng chia sẻ.
Phân loại theo tính chất hoạt động thì có vốn cố định và vốn lưu động.
Vốn cố định là lượng vốn ứng ra ban đầu để đầu tư vào tài sản cố định như
nhà xưởng, máy móc… nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của
Nguyễn Mạnh Dũng
Lớp: Kế hoạch 45A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
doanh nghiệp. Vốn cố định có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất,
được khấu hao vào từng sản phẩm trong quá trình sản xuất.
Vốn lưu động là số tiền ứng trước để đầu tư vào tài sản lưu động, tài sản
lưu thông nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp diễn ra bình
thường.
2. Sự cần thiết phải huy động vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp.
Có thể nói vốn đối với từng doanh nghiệp là rất quan trọng nó quyết định
đến sự hoạt động suôn sẻ của doanh nghiệp.Mặc dù để có thể để doanh nghiệp
hoạt động một cách suôn sẻ thì cần phải có nhiều yếu tố cùng tham gia vào
trong đó vốn là quan trọng, nó được coi như là máu đối với mỗi doanh nghiệp,

khả thi của dự án thậm chí nó còn gây thiệt hại tới doanh nghiệp. Vì vậy khi
quyết định đầu tư thì công ty bao giờ cũng cân nhắc tới yếu tố vốn. Thêm vào
đó quy mô vốn cũng ảnh hưởng tới phạm vi của dự án. Vốn càng lớn thì dự án
đầu tư sẽ có phạm vi càng rộng và ngược lại nếu mà quy mô vốn nhỏ thì
phạm vi hoạt động của dự án sẽ thu hẹp từ đó mà ảnh hưởng tới sự thành công
của dự án đầu tư. Vì khi mà dự án có quy mô lớn nó sẽ đem đến nhiều cơ hội
cho doanh nghiệp có thể thu được doanh thu và lợi nhuận lớn từ đó sẽ làm cho
doanh nghiệp tăng trưởng nhanh hơn, tiềm lực của doanh nghiệp cũng có thể
được tăng lên nhưng ngược lại khi quy mô vốn nhỏ dẫn đến quy mô dự án nhỏ
không đủ bao phủ thị trường nó sẽ hạn chế khả năng của doanh nghiệp, tạo cơ
hội cho các doanh nghiệp khác tham gia vào thị trường từ đó sẽ có sự cạnh
tranh lớn đối với doanh nghiệp. Quy mô vốn cũng sẽ quyết định đến độ dài
của dự án đầu tư. Vì có nhiều dự án đầu tư không thể chỉ có đầu tư trong một
kỳ sản xuất mà nó còn có thể được đầu tư qua nhiều kỳ kinh doanh. Vì vậy
cần phải có lượng vốn lớn, dự án càng lâu thì lượng vốn yêu cầu cần có để đầu
tư càng lớn. Nói tóm lại thì quy mô của vốn mà doanh nghiệp có và có thể
Nguyễn Mạnh Dũng
Lớp: Kế hoạch 45A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
huy động có vai trò quyết định đến các dự án đầu tư. Doanh nghiệp nào có quy
mô vốn càng lớn thì dự án đầu tư càng có quy mô phạm vi lớn và ngược lại.
Tiềm lực vốn mà doanh nghiệp có sẽ quyết định đến khả năng đầu tư của
doanh nghiệp như để có thể tham gia vào một lĩnh vực kinh doanh mới hay là
mở rộng thị trường hoạt động hiện có thì cần có vốn để có thể tiến hành các
hoạt động xúc tiến thị trường. Để có thể tham gia vào lĩnh vực kinh doanh mới
thì doanh nghiệp cần phải tiến hành nhiều công việc như là mua sắm trang
thiết bị, tuyển dụng nhân công hay là tiến hành khảo sát thị trường nhưng để
có thể làm được những việc đó thì doanh nghiệp cần có vốn để mua sắm máy
móc thiết bị hay thuê nhân công… Đấy là trường hợp doanh nghiệp muốn tự

Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì vốn cũng có
vai trò quyết định đến, vì hoạt động sản xuất kinh doanh muốn được diễn ra
thì cần phải có máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, công nhân… Vì vậy cần có
vốn để đầu tư vào những nhân tố sản xuất đó. Đồng thời vốn cũng có vai trò
quyết định hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vòng quay của vốn sẽ quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
công ty nếu vòng chu chuyển vốn càng ngắn thì điều đó chứng tỏ hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty có hiệu quả vì vòng quay của vốn ở đây chính
là nói lên vòng quay của sản phẩm khi mà vốn được thu hồi càng nhanh chứng
tỏ rằng sản phẩm được sản xuất ra không bị tồn kho mà được tiêu thụ trên thị
trường nhờ đó mà vốn không bị ứ đọng mà luôn được luân chuyển nhờ đó sẽ
tạo ra được nhiều doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng ngược lại khi mà
vòng quay của vốn chậm thì nó sẽ phần nào nói lên thực trạng hoạt động của
doanh nghiệp, nó sẽ nói lên những khó khăn trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp khi mà sản phẩm sản xuất ra bị tồn kho không tiêu
thụ được. Nhưng vòng quay của vốn dài hay ngắn cũng tuỳ thuộc vào nhiều
Nguyễn Mạnh Dũng
Lớp: Kế hoạch 45A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
yếu tố như lĩnh vực sản xuất kinh doanh và đặc tính của sản phẩm. Vì có nhiều
lĩnh vực hoạt động mà cần có đầu tư lớn mà vốn thu hồi có thể kéo dài qua
nhiều chu kỳ kinh doanh như ngành xây dựng… thì cần phải đầu tư nhiều mà
quá trình xây dựng lại diễn ra dài ngày lên vòng quay vốn của ngành sẽ dài
hơn nhưng cũng có những ngành mà trong một chu kỳ sản xuất thì vốn được
chu chuyển nhiều lần đặc biệt trong những ngành công nghiệp chế biến lương
thực thực phẩm nên trong những ngành này vốn có vòng quay càng ngắn thì
hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty càng cao. Nhưng nói chung dù trong
ngành nào thì nếu có vòng chu chuyển vốn càng ngắn thì càng có hiệu quả.

cần có vốn.
Nguồn vốn sẽ quyết định đến khả năng mua sắm tài sản mới của công ty.
Việc mua sắm tài sản mới sẽ góp phần làm tăng tài sản của công ty nhưng để
có thể mua được tài sản mới thì công ty cần có được một lượng vốn nhất định.
Doanh nghiệp một khi muốn mua sắm thêm tài sản mới để nâng cao năng lực
sản xuất kinh doanh của công ty, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thì
điều đầu tiên là phải cân nhắc tới số lượng vốn mà doanh nghiệp hiện có và có
thể huy động để mua sắm, việc mua sắm tài sản mới này cũng như là một dự
án đầu tư vậy do vậy mà yếu tố vốn có vai trò quyết định đến việc đầu tư mua
sắm tài sản mới.
Việc mua sắm tài sản để thay thế các tài sản cũ hỏng không thể dùng được
nữa cũng thường được diễn ra trong mỗi doanh nghiệp điều này cũng làm ảnh
hưởng tới nguồn vốn của doanh nghiệp vì việc mua sắm tài sản để thay thế
này cũng cần có vốn để tiến hành.
Nói tóm lại dù hoạt động nào trong doanh nghiệp thì cũng cần có vốn để
hoạt động, vốn như là dòng máu trong cơ thể để cho công ty có thể hoạt động
được suôn sẻ. Vốn có vai trò quan trọng quyết định đến mọi hoạt động trong
doanh nghiệp từ hoạt động đầu tư mua sắm tài sản mới hay là đầu tư vào một
Nguyễn Mạnh Dũng
Lớp: Kế hoạch 45A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lĩnh vực kinh doanh mới cũng như các hoạt động thường xuyên là hoạt động
sản xuất kinh doanh.
3. Những nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp.
Việc huy động vốn trong doanh nghiệp cũng có những khó khăn, thuận lợi
nhất định. Tuỳ thuộc vào từng thời điểm mà việc huy động vốn trong doanh
nghiệp có thể được tiến hành thuận lợi hay không. Có rất nhiều nguyên nhân
ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn cho doanh nghiệp. Đó là những nhân tố
sau.

có thể thoả thuận với bên đối tác kể cả bên cung cấp và bên phân phối cho vay
những khoản vay tín dụng thương mại một cách dễ dàng hơn điều đó sẽ tạo lợi
thế cho họ trong việc huy động vốn. Một doanh nghiệp có quy mô vốn lớn
cũng có thuận lợi hơn các công ty vừa và nhỏ khác trong việc vay vốn từ kênh
huy động vốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu vì muốn phát hành cổ phiếu
hay trái phiếu ra thị trường thì điều đầu tiên cần phải đáp ứng được là quy mô
vốn của doanh nghiệp phải đủ lớn để có thể phát hành trái phiếu nhằm đảm
bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Khi mà doanh nghiệp có quy mô lớn
thì cũng đảm bảo lòng tin đối với những nhà đâầutư khi mà các công ty lớn
định phát hành trái phiếu, rõ ràng khi phải lựa chọn giữa hai loại trái phiếu thứ
nhất là của một công ty vừa và nhỏ và một bên là của một công ty lớn thì
chúng ta thường có xu hướng chọn trái phiếu của doanh nghiệp có quy mô lớn
tất nhiên sự lựa chọn này còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như là uy tín của
doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động của
doanh nghiệp… Với doanh nghiệp có quy mô vốn lớn thì nguồn quỹ dự phòng
mà công ty có chắc chắn cũng sẽ lớn điều đó thuận lợi cho doanh nghiệp khi
muốn huy động vốn từ nguồn này khi mà doanh nghiệp thiếu vốn họ có thể
Nguyễn Mạnh Dũng
Lớp: Kế hoạch 45A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tạm thời dùng nguồn vốn của quỹ dự phòng này để bù đắp vào chỗ thiếu và
đến cuối kỳ sẽ hoàn trả vào.
3.2. Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực mà có tỷ suất lợi nhuận cao, thị
trường lớn và ổn định thì khả năng huy động vốn cũng sẽ cao hơn. Đúng vậy
khi mà hai doanh nghiệp có cùng quy mô thì yếu tố lĩnh vực hoạt động sẽ
quyết định đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp rõ ràng là công ty
nào đang hoạt động trong những ngành mà có lợi nhuận cao, những ngành hấp
dẫn thì sẽ thu hút được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm từ đó mà dẫn đến khả

với việc doanh thu và lợi nhuân của công ty sẽ lớn làm cho phần lợi nhuận để
lại của công ty lớn thì sẽ tạo được nhiều tích luỹ hơn cho doanh nghiệp, tao
lên số lượng vốn chủ sở hữu được gia tăng. Hiệu quả sản xuất kinh doanh
càng cao thì uy tín của doanh nghiệp càng lớn càng thu hút được nhiều nhà
đầu tư quan tâm, chú ý từ đó sẽ dễ dàng hơn khi mà kêu gọi các nhà đầu tư
vào doanh nghiệp, khi mà hiệu quả sản xuất kinh doanh cao thì việc đi vay tín
dụng ngân hàng và vay tín dụng thương mại cũng trở lên dễ dàng hơn vì khi
sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao tạo được lòng tin đối với những nhà cho
vay từ đó mà dễ dàng huy động vốn vào để đầu tư vào những dự án kinh
doanh của mình. Còn trái lại khi mà sản xuất kinh doanh không đạt hiệu quả,
vốn bị ứ đọng không lưu thông được thì doanh nghiệp khó có khả năng huy
động vốn lớn vì không thu hút được sự quan tâm của những nhà đầu tư, không
tạo được niềm tin về khả năng thanh toán tới những nhà cho vay do vậy mà
khó khăn hơn khi đi vay.
3.4. Uy tín của doanh nghiệp.
Nguyễn Mạnh Dũng
Lớp: Kế hoạch 45A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Uy tín của doanh nghiệp cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả
năng huy động vốn của doanh nghiệp. Rõ ràng khi mà doanh nghiệp có được
uy tín trên thị trường tạo được niềm tin đối với khách hàng và đối tác, các nhà
đầu tư thì doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn khi thu hút đầu tư thu hút vốn. Uy tín
của doanh nghiệp nhiều khi còn quan trọng hơn cả hiệu quả sản xuất kinh
doanh hay quy mô của doanh nghiệp trong việc thu hút vốn đầu tư vì hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh là sự biểu hiện tại những thời điểm nhất định,
không doanh nghiệp nào là có thể hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả
cao trong suốt thời gian dài cả, nhưng uy tín của doanh nghiệp thì khác nó
được xây dựng qua nhiều giai đoạn, phải được tạo dựng rất lâu vì vậy mà uy
tín của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp huy động

Mỗi một cơ chế chính sách mà nhà nước đưa ra đều có ảnh hưởng nhất định
tới doanh nghiệp. Khi mà chính sách đó đưa ra hợp lý, phù hợp với thị trường,
phù hợp với tiến trình phát triển thì sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát
triển, khuyến khích được các doanh nghiệp phát triển. Đặc biệt là những chính
sách về thị trường tài chính và tiền tệ, chính sách về thuế thu nhập doanh
nghiệp… nó sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới doanh nghiệp, khi mà chính sách này
phù hợp nó sẽ khuyến khích được doanh nghiệp phát triển, tạo điều kiện thuận
lợi cho doanh nghiệp có thể huy động vốn để đáp ứng nhu cầu phát triển của
doanh nghiệp. Nhưng khi mà những chính sách này đưa ra không phù hợp,
hạn chế thị trường, hạn chế khả năng phát triển của doanh nghiệp thì nó sẽ làm
cho doanh nghiệp không thể phát triển được khiến cho khả năng huy động vốn
của doanh nghiệp bị hạn chế, doanh nghiệp không thể phát triển được.
Nói tóm lại có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của
doanh nghiệp. Nó có thể là nhân tố khách quan hay chủ quan nhưng cho dù nó
là từ phía nào thì tuỳ vào từng điều kiện cụ thể mà có tác động khác nhau tới
khả năng huy động vốn của doanh nghiệp, có thể nó tạo thuận lợi trong lúc
Nguyễn Mạnh Dũng
Lớp: Kế hoạch 45A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
này nhưng lại gây khó khăn trong lúc khác vấn đề là doanh nghiệp phải tìm
cách thích nghi với từng điều kiện nhất định, tận dụng những thuận lợi mà các
nhân tố này mang lại vào doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào điều kiện của doanh
nghiệp mà có giải pháp huy động vốn cho hiệu quả.
4. Các tiêu chí đo lường độ an toàn vốn của doanh nghiệp.
Có rất nhiều tiêu chí đo lường độ an toàn vốn của doanh nghiệp nhưng
trong đề tài này xin nêu ra hai tiêu chí để đo lường độ an toàn vốn của doanh
nghiệp đó là.
Khả năng thanh toán hiện hành là mối quan hệ giữa tài sản lưu động doanh
nghiệp đối với nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này nhằm đo lường khả năng đảm bảo

phải lớn hơn 1 vì trong các khoản nợ ngắn hạn, có những khoản đã và sẽ đến
hạn ngay thì mới có nhu cầu thanh toán nhanh, những khoản chưa đến hạn
chưa có nhu cầu thanh toán ngay.
5. Các kênh huy động vốn mà doanh nghiệp có thể tiếp cận.
5.1. Kênh huy động vốn từ nội bộ doanh nghiệp.
Có rất nhiều kênh huy động vốn cho doanh nghiệp nó có thể là từ nội bộ
doanh nghiệp hay là đi vay bên ngoài nhưng cho dù nó có nguồn gốc ở đâu thì
doanh nghiệp đều phải có những giải pháp để huy động sao cho hiệu quả.
Trong đó kênh huy động vốn từ nội bộ doanh nghiệp là một kênh huy động
vốn mà được các doanh nghiệp thường xuyên áp dụng. Trong kênh huy động
vốn này nó bao gồm các nguồn sau đây.
5.1.1. Lợi nhuận để lại của công ty.
Lợi nhuận để lại chính là phần còn lại của kết quả quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi kỳ sản xuất, sau khi đã trừ đi phần
chi phí sản xuất, thuế thu nhập doanh nghiệp, phần chia cổ tức… Đây là một
Nguyễn Mạnh Dũng
Lớp: Kế hoạch 45A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong các nguồn vốn nội bộ quan trọng nhất. Lợi nhuận để lại dùng để tái đầu
tư vào việc thay thế và đầu tư mới vào máy móc thiết bị, mở rộng hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng
chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận để lại, tuy nhiên để có nguồn vốn này các
doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi. Lợi nhuận để lại của doanh nghiệp phụ
thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận để lại của doanh
nghiệp có thể là lợi nhuận gộp, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế và lợi
nhuận để lại.
Tự tài trợ bằng lợi nhuận để lại là phương thức tạo nguồn tài chính quan
trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp vì doanh nghiệp giảm được chi
phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài. Tuy nhiên đối với các công ty cổ

ty với những công ty là công ty cổ phần.
Nhưng bên cạnh những ưu điểm đó thì nguồn vốn được huy động từ lợi
nhuận để lại cũng có những nhược điểm nhất định đó là.
Thứ nhất là do phần lợi nhuận để lại này hay là nguồn vốn huy động từ
nguồn này phụ thuộc rất nhiều vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp do vậy mà khi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp không tốt thì nguồn vốn huy động sẽ không nhiều. Bên cạnh đó nó còn
phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp. Vì khi mà doanh nghiệp có quy mô
lớn thì doanh thu và lợi nhuận sẽ lớn vì vậy nguồn vốn huy động được sẽ lớn
còn ngược lại khi mà quy mô doanh nghiệp nhỏ thì nguồn vốn huy động từ
nguồn này là không nhiều.
Thứ hai là nó sẽ làm giảm lãi cổ phần chia cho các cổ đông. Vì khi mà ta
quyết định dùng phần lợi nhuận để lại này để tái đầu tư vào quá trình tiếp theo
nó sẽ ảnh hưởng tới lãi cổ phần của các cổ đông, phần lợi nhuận này càng
được huy động nhiều vào đầu tư sẽ càng làm giảm lãi cổ phần của các cổ
đông nên có thể sẽ gặp phải sự phản đối của các cổ đông.
Nguyễn Mạnh Dũng
Lớp: Kế hoạch 45A
25

Trích đoạn Phát hành cổ phiếu. Vay tín dụng ngân hàng. Vay tín dụng thương mại. Phát hành trái phiếu. Thực trạng hoạt động.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status