Những giải pháp để mở rộng các kênh huy động vốn của doanh nghiệp. - Pdf 34

Chuyên đề thực tập
Giới thiệu chung về đề tài.
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Với mỗi công ty thì để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì công ty
cần có vốn để hoạt động. Vốn là một nhân tố sản xuất quan trọng sống còn, quyết
định đến sự thành bại của công ty. Vốn càng lớn thì tiềm lực của công ty càng lớn, nó
tạo điều kiện cho công ty dễ dàng hơn trong các quyết định đầu tư, trong các dự án
đầu tư mới như tham gia vào lĩnh vực kinh doanh mới…
Với công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại kỹ thuật điện Hà Nội thì với vị trí là
một công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực xây lắp điện và cung ứng các thiết bị
ngành điện thì đó là một vấn đề rất quan trọng. Vì công ty mới được thành lập và đi
vào hoạt động được bảy năm nên công ty gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động như
thị trường của công ty còn khá nhỏ bé, trong công ty các kế hoạch sản xuất, kế hoạch
chung cho cả công ty còn chưa có hay đơn thuần đó chỉ là những bản kế hoạch được
xây dựng trong ngắn hạn chưa có được sự nghiên cứu tỷ mỉ… Hay vấn đề nhân sự
trong công ty khi mà công ty chưa có được đội ngũ nhân viên có trình độ đáp ứng
nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh… Nhưng đó chưa phải là vấn đề khó khăn
nhất của công ty khi mà vấn đề khó khăn nhất của công ty chính là khả năng huy
động vốn cho các hoạt động của mình. Vì nguồn vốn của công ty còn eo hẹp do vậy
mà khả năng mở rộng thị trường bị hạn chế, khả năng trang bị máy móc thiết bị cũng
bị giới hạn, chưa có được nguồn kinh phí cho công tác xây dựng kế hoạch… Sở dĩ
công ty gặp nhiều khó khăn như vậy là do những nguyên nhân sau.
Vì công ty mới đi vào hoạt động lại là công ty có quy mô nhỏ do vậy mà doanh
thu và lợi nhuận của công ty còn nhỏ điều này đã hạn chế khả năng tích luỹ vốn của
công ty. Vì công ty muốn tích luỹ vốn từ nội bộ doanh nghiệp thì cần phải có được
lợi nhuận lớn để có thể tích luỹ vốn. Trong khi đó thì lợi nhuận của công ty không
phải chỉ được dùng vào việc tích luỹ vốn mà còn được dùng để chia cổ tức cho các cổ
đông, lập các quỹ dự phòng… do vậy mà khả năng tích luỹ vốn từ phần lợi nhuận để
lại của công ty là bị hạn chế.
Mặc dù công ty cũng có các kênh huy động vốn khác như đi vay tín dụng thương
mại từ các đối tác. Mặc dù đây là một kênh huy động vốn hiệu quả nhưng nó lại bị

những giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn đó để từ đó mà nâng cao được hiệu
quả huy động vốn của các kênh huy động vốn cũng như là của hoạt động huy động
huy động vốn nói chung của công ty. Thêm vào đó ngoài việc tìm hiểu nghiên cứu
những kênh huy động vốn mà công ty đang áp dụng thì tôi còn đi vào tìm hiểu nghiên
Nguyễn Mạnh Dũng
lớp: kế hoạch 45A
2
Chuyên đề thực tập
cứu những kênh huy động vốn khác mà công ty vẫn còn chưa áp dụng tìm hiểu
những ưu điểm và nhược điểm của từng kênh huy động vốn cũng như là tìm hiểu
kinh nghiệm của các doanh nghiệp khác trong việc áp dụng những kênh huy động
vốn mà doanh nghiệp chưa áp dụng từ đó phân tích xem với điều kiện hiện tại của
công ty thì nên áp dụng kênh huy động vốn nào là hợp lý nhất, phù hợp với công ty
nhất. Có như vậy thì sau khi nghiên cứu xong đề tài mới có thể đề xuất với công ty
phương án huy động vốn từ kênh mới là hiệu quả nhất, phù hợp nhất với công ty.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài này là nó có những ý nghĩa sau đây. Thứ nhất
là mong tìm ra được những bài học kinh nghiệm từ việc khai thác, huy động vốn của
các công ty vừa và nhỏ để từ đó mà có thể tìm cách áp dụng những bài học kinh
nghiệm đó vào công ty, xem kinh nghiệm nào là phù hợp với công ty nhất, là khả thi
với công ty nhất, tránh thực trạng là cứ thấy một hoặc một số công ty khác áp dụng
thành công một kênh huy động vốn mới, tạo ra được nhiều vốn cho công ty thì các
công ty khác theo sau thấy thế mà áp dụng khi không có sự tìm hiểu nghiên cứu. Điều
này là rất nguy hiểm vì điều kiện của các công ty là khác nhau, hoạt động trong
những điều kiện khác nhau, trình độ của mỗi công ty là khác nhau cả về trình độ con
người cũng như là trình độ công nghệ. Từ đó sẽ dẫn đến thất bại gây thiệt hại cho
công ty. Vì vậy mà cần phải có những nghiên cứu tìm hiểu phân tích trước khi áp
dụng. Thứ hai là tìm ra được những điểm mạnh, điểm yếu của các kênh huy động vốn
hiện tại mà công ty đang áp dụng đề từ đó có những giải pháp để khác phục hay phát
huy những điểm yếu điểm mạnh đó. Vì nhiều khi việc mở ra một kênh huy động vốn
mới đối với công ty là chưa cần thiết khi mà ta chưa khai thác hết tiềm năng các kênh

kênh huy động vốn mà các công ty vừa và nhỏ áp dụng do vậy mà phương pháp
nghiên cứu chủ yếu của tôi là.
Phân tích những kênh huy động vốn mà công ty hiện nay đang áp dụng để từ đó
tìm ra những thuận lợi khó khăn của những kênh huy động vốn này. Và còn phân tích
những kênh huy động vốn khác mà công ty chưa áp dụng tìm ra những khó khăn
thuận lợi của những kênh huy động vốn này.
Từ những phân tích đó mà có những đánh giá về những kênh huy động huy động
vốn này xem các kênh huy động vốn này có ưu điểm và nhược điểm gì để từ đó có
thể áp dụng vào công ty hay không.
Thêm vào đó còn sử dụng phương pháp điều tra thống kê những kinh nghiệm của
các công ty vừa và nhỏ khác.
5. Kết quả nghiên cứu dự kiến đạt được.
Nguyễn Mạnh Dũng
lớp: kế hoạch 45A
4
Chuyên đề thực tập
Với đề tài nghiên cứu này thì tôi mong đợi kết quả dự kiến đạt được sẽ là tìm ra
được một, một số kênh huy động vốn mới phù hợp với công ty trách nhiệm hữu hạn
thương mại kỹ thuật điện Hà Nội. Và từ đó đề xuất những giải pháp hợp lý để có thể
áp dụng thành công các kênh huy động vốn mới này.
6. Bố cục đề tài.
Bài viết được chia thành ba phần.
Phần một: Giới thiệu chung về đề tài.
Phần hai: Nội dung đề tài
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về vốn trong hoạt động của doanh
nghiệp.
Chương II: Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp.
Chương III: Những giải pháp để mở rộng các kênh huy động vốn của doanh
nghiệp.
Phần ba: Kết luận và kiến nghị.

quỹ dự phòng…
Nguyễn Mạnh Dũng
lớp: kế hoạch 45A
6
Chuyên đề thực tập
Theo đó thì lợi nhuận để lại là phần còn lại của kết quả quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi phí và các
khoản khác như phần nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hay là phần lợi nhuận dùng để
chia cổ tức cho các cổ đông. Phần lợi nhuận để lại này được doanh nghiệp giữ lại
dùng để tiếp tục đầu tư vào quá trính sản xuất kinh doanh trong chu kỳ tiếp theo của
quá trình sản xuất, nhằm làm tăng lượng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Đây cũng
là một phần vốn rất quan trọng của doanh nghiệp.
Khấu hao là phần giá trị của tài sản cố định mà doanh nghiệp đã đầu tư trong quá
trình sản xuất nó là nhà xưởng máy móc, thiết bị, công cụ dụng cụ… phần khấu hao
này chính là lượng vốn mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất.
Còn quỹ dự phòng đây cũng chính là một phần của khoản lợi nhuận để lại của
doanh nghiệp nhưng phần vốn này không được dùng để đầu tư trực tiếp vào quá trình
sản xuất mà thay vào đó nó được dùng trong những trường hợp đặc biệt như khi có sự
sụt giá hay việc kinh doanh bị thua lỗ thì phần quỹ dự phòng này được dùng để bù
đắp những thiệt hại do thua lỗ hay do trượt giá gây ra.
Vốn đi vay là lượng vốn mà doanh nghiệp đi vay từ bên ngoài để phục vụ cho quá
trình sản xuất kinh doanh. Vì không một doanh nghiệp nào có thể hoạt dọng với 100%
lượng vốn tự có của mình được mà bao giờ họ cũng có những khoản vốn đi vay để
phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn đi vay này bao gồm rất nhiều nguồn khác
nhau như vốn vay tín dụng ngân hàng là lượng vốn mà doanh nghiệp đi vay từ các tổ
chức tài chính tín dụng trong và ngoài nước và phải chịu lãi suất đi vay. Hay vốn vay
tín dụng thương mại là lượng vốn mà doanh nghiệp vay của các đối tác kinh doanh
như là mua nguyên vật liệu chịu mà chưa thanh toán ngay cho bên đối tác mà hẹn
thanh toán sau có thể là sau mỗi chu kỳ kinh doanh hay sau khi bán được hàng… Hay
là vốn vay từ phát hành cổ phiếu đây cũng là một hình thức đi vay khác của doanh

cũ, đổi mới công nghệ sản xuất, trả lương cho công nhân… Theo đó thì vốn có vai trò
quan trọng đối với các hoạt động sau.
2.1. Đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Hoạt động đầu tư là hoạt động rất quan trọng thông qua hoạt động đầu tư mà
doanh nghiệp có thể tăng trưởng và phát triển. Đầu tư ở đây có thể là đầu tư vào một
dự án kinh doanh mới hay là đầu tư vào mua sắm trang thiết bị mới, xây dựng nhà
xưởng… Nhưng để có thể tiến hành hoạt động đầu tư thì doanh nghiệp cần phải có
vốn. Vốn như là dòng máu mang dinh dưỡng đến nuôi cơ thể vậy. Hoạt động đầu tư
của doanh nghiệp như là hoạt động nhằm làm tăng tiềm lực cho doanh nghiệp, làm
tăng quy mô của doanh nghiệp nhờ có hoạt động đầu tư mà doanh nghiệp có thể lớn
Nguyễn Mạnh Dũng
lớp: kế hoạch 45A
8
Chuyên đề thực tập
mạnh, có thể tham gia được vào nhiều các lĩnh vực kinh doanh khác nhau… Nhưng
quyết định đầu tư còn phụ thuộc vào vốn mà doanh nghiệp có. Theo đó thì vốn có
những vai trò sau.
Quy mô của vốn mà doanh nghiệp có và có thể huy động sẽ quyết định đến khả
năng đầu tư vào dự án kinh doanh của công ty, quyết định đến quy mô của dự án kinh
doanh hay phạm vi của dự án. Vì khi công ty muốn quyết định đầu tư vào một hoạt
động mới hay một dự án kinh doanh mới thì yêu cầu đầu tiên mà doanh nghiệp cần
cân nhắc là lượng vốn cần phải có để đầu tư vào dự án, quy mô của vốn sẽ quyết định
đến quy mô của dự án vì ta không thể đầu tư vào một dự án lớn khi mà ta không có đủ
vốn cần thiết, nếu như ta cố tình đầu tư thì trong quá trình hoạt động sẽ liên tục xảy ra
tình trạng thiếu vốn từ đó sẽ dẫn đến tình trạng dự án sẽ không thể hoạt động suôn sẻ,
ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án thậm chí nó còn gây thiệt hại tới doanh nghiệp.
Vì vậy khi quyết định đầu tư thì công ty bao giờ cũng cân nhắc tới yếu tố vốn. Thêm
vào đó quy mô vốn cũng ảnh hưởng tới phạm vi của dự án. Vốn càng lớn thì dự án
đầu tư sẽ có phạm vi càng rộng và ngược lại nếu mà quy mô vốn nhỏ thì phạm vi
hoạt động của dự án sẽ thu hẹp từ đó mà ảnh hưởng tới sự thành công của dự án đầu

quyết định, vai trò lớn. Vì vậy mà tiềm lực vốn của doanh nghiệp sẽ quyết định đến
khả năng tham gia vào lĩnh vực kinh doanh mới của doanh nghiệp. Thêm vào đó thì
khi doanh nghiệp hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào thì luôn muốn mở rộng thị
trường hoạt động của mình vì khi thị trường càng được mở rộng thì quy mô của
doanh nghiệp càng lớn lên, sức mạnh của doanh nghiệp càng được củng cố… nhưng
để có thể mở rộng thị trường, tăng doanh thu và lợi nhuận thì doanh nghiệp cần phải
có đầu tư vào hoạt động xúc tiến thị trường, đầu tư trang thiết bị máy móc, nghiên
cứu để có thể nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành và chi phí sản xuất để có
thể cạnh tranh. Vì vậy nếu có tiềm lực vốn lớn doanh nghiệp sẽ có thể có ưu thế trong
cạnh tranh trên thị trường nhờ có vốn mà doanh nghiệp có thể đi trước đầu tư vào
công nghệ mới để chiếm lĩnh thị trường, mở rộng thị trường.
Nói chung thì với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp cho dù đó là đầu tư vào dự
án kinh doanh hay là đầu tư để tham gia lĩnh vực kinh doanh mới, hoặc mở rộng thị
trường thì yếu tố vốn là rất quan trọng nó quyết định đến sự thành bại của hoạt động
đầu tư.
2.2. Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì vốn cũng có vai trò
quyết định đến, vì hoạt động sản xuất kinh doanh muốn được diễn ra thì cần phải có
máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, công nhân… Vì vậy cần có vốn để đầu tư vào
những nhân tố sản xuất đó. Đồng thời vốn cũng có vai trò quyết định hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Nguyễn Mạnh Dũng
lớp: kế hoạch 45A
10
Chuyên đề thực tập
Vòng quay của vốn sẽ quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
nếu vòng chu chuyển vốn càng ngắn thì điều đó chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty có hiệu quả vì vòng quay của vốn ở đây chính là nói lên vòng quay
của sản phẩm khi mà vốn được thu hồi càng nhanh chứng tỏ rằng sản phẩm được sản
xuất ra không bị tồn kho mà được tiêu thụ trên thị trường nhờ đó mà vốn không bị ứ

11
hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh, nói lên sự hiệu quả trong hoạt động của
doanh nghiệp.
2.3. Đối với việc tăng tài sản của doanh nghiệp.
Tài sản của doanh nghiệp cũng chính là lượng vốn mà doanh nghiệp có, ở đây tài
sản chính là biểu hiện về mặt vật chất của vốn. Số lượng tài sản mà doanh nghiệp có
cũng nói lên được tiềm lực của doanh nghiệp, nói lên quy mô của doanh nghiệp và
trình độ năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy mà việc tăng tài sản
của doanh nghiệp luôn được doanh nghiệp tiến hành qua các kỳ sản xuất kinh doanh,
nó được tiến hành thường xuyên liên tục trong mỗi doanh nghiệp. Nhưng việc tăng tài
sản của mỗi doanh nghiệp cũng cần phải có vốn vì tài sản ở đây là trang thiết bị máy
móc nhà xưởng… đều cần có vốn.
Nguồn vốn sẽ quyết định đến khả năng mua sắm tài sản mới của công ty. Việc
mua sắm tài sản mới sẽ góp phần làm tăng tài sản của công ty nhưng để có thể mua
được tài sản mới thì công ty cần có được một lượng vốn nhất định. Doanh nghiệp một
khi muốn mua sắm thêm tài sản mới để nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của
công ty, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thì điều đầu tiên là phải cân nhắc tới
số lượng vốn mà doanh nghiệp hiện có và có thể huy động để mua sắm, việc mua sắm
tài sản mới này cũng như là một dự án đầu tư vậy do vậy mà yếu tố vốn có vai trò
quyết định đến việc đầu tư mua sắm tài sản mới.
Việc mua sắm tài sản để thay thế các tài sản cũ hỏng không thể dùng được nữa
cũng thường được diễn ra trong mỗi doanh nghiệp điều này cũng làm ảnh hưởng tới
nguồn vốn của doanh nghiệp vì việc mua sắm tài sản để thay thế này cũng cần có vốn
để tiến hành.
Nói tóm lại dù hoạt động nào trong doanh nghiệp thì cũng cần có vốn để hoạt
động, vốn như là dòng máu trong cơ thể để cho công ty có thể hoạt động được suôn
sẻ. Vốn có vai trò quan trọng quyết định đến mọi hoạt động trong doanh nghiệp từ
hoạt động đầu tư mua sắm tài sản mới hay là đầu tư vào một lĩnh vực kinh doanh mới
cũng như các hoạt động thường xuyên là hoạt động sản xuất kinh doanh.
3. Những nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp.

các đối tác nên họ có thể tiến hành vay tín dụng thương mại từ các đối tác cũng trở
lên dễ dàng. Họ có thể thoả thuận với bên đối tác kể cả bên cung cấp và bên phân phối
cho vay những khoản vay tín dụng thương mại một cách dễ dàng hơn điều đó sẽ tạo
lợi thế cho họ trong việc huy động vốn. Một doanh nghiệp có quy mô vốn lớn cũng có
thuận lợi hơn các công ty vừa và nhỏ khác trong việc vay vốn từ kênh huy động vốn
phát hành cổ phiếu hay trái phiếu vì muốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ra thị
trường thì điều đầu tiên cần phải đáp ứng được là quy mô vốn của doanh nghiệp phải
Nguyễn Mạnh Dũng
lớp: kế hoạch 45A
13
đủ lớn để có thể phát hành trái phiếu nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh
nghiệp. Khi mà doanh nghiệp có quy mô lớn thì cũng đảm bảo lòng tin đối với những
nhà đâầutư khi mà các công ty lớn định phát hành trái phiếu, rõ ràng khi phải lựa chọn
giữa hai loại trái phiếu thứ nhất là của một công ty vừa và nhỏ và một bên là của một
công ty lớn thì chúng ta thường có xu hướng chọn trai phiếu của doanh nghiệp có quy
mô lớn tất nhiên sự lựa chọn này còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như là uy tín của
doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động của doanh
nghiệp… Với doanh nghiệp có quy mô vốn lớn thì nguồn quỹ dự phòng mà công ty
có chắc chắn cũng sẽ lớn điều đó thuận lợi cho doanh nghiệp khi muốn huy động vốn
từ nguồn này khi mà doanh nghiệp thiếu vốn họ có thể tạm thời dùng nguồn vốn của
quỹ dự phòng này để bù đắp vào chỗ thiếu và đến cuối kỳ sẽ hoàn trả vào.
Một yếu tố khác cũng ảnh hưởng tới khả năng huy động vôn của doanh nghiệp
chính là lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
mà có tỷ suất lợi nhuận cao, thị trường lớn và ổn định thì khả năng huy động vốn
cũng sẽ cao hơn. Đúng vậy khi mà hai doanh nghiệp có cùng quy mô thì yếu tố lĩnh
vực hoạt động sẽ quyết định đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp rõ ràng là
công ty nào đang hoạt động trong những ngành mà có lợi nhuận cao, những ngành
hấp dẫn thì sẽ thu hút được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm từ đó mà dẫn đến khả năng
huy động vốn cũng sẽ cao hơn còn trái lại doanh nghiệp doanh nghiệp nào hoạt động
trong lĩnh vực mà lợi nhuận thấp, chi phí cao thì việc thu hút vốn, thu hút các nhà đầu

sẽ dễ dàng hơn khi mà kêu gọi các nhà đầu tư vào doanh nghiệp, khi mà hiệu quả sản
xuất kinh doanh cao thì việc đi vay tín dụng ngân hàng và vay tín dụng thương mại
cũng trở lên dễ dàng hơn vì khi sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao tạo được lòng
tin đối với những nhà cho vay từ đó mà dễ dàng huy động vốn vào để đầu tư vào
những dự án kinh doanh của mình. Còn trái lại khi mà sản xuất kinh doanh không đạt
hiệu quả, vốn bị ứ đọng không lưu thông được thì doanh nghiệp khó có khả năng huy
động vốn lớn vì không thu hút được sự quan tâm của những nhà đầu tư, không tạo
được niềm tin về khả năng thanh toán tới những nhà cho vay do vậy mà khó khăn hơn
khi đi vay.
Uy tín của doanh nghiệp cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng
huy động vốn của doanh nghiệp. Rõ ràng khi mà doanh nghiệp có được uy tín trên thị
trường tạo được niềm tin đối với khách hàng và đối tác, các nhà đầu tư thì doanh
nghiệp sẽ dễ dàng hơn khi thu hút đầu tư thu hút vốn. Uy tín của doanh nghiệp nhiều
khi còn quan trọng hơn cả hiệu quả sản xuất kinh doanh hay quy mô của doanh
nghiệp trong việc thu hút vốn đầu tư vì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là sự
biểu hiện tại những thời điểm nhất định, không doanh nghiệp nào là có thể hoạt động
sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao trong suốt thời gian dài cả, nhưng uy tín của
doanh nghiệp thì khác nó được xây dựng qua nhiều giai đoạn, phải được tạo dựng rất
lâu vì vậy mà uy tín của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp huy
động vốn. Khi mà doanh nghiệp có uy tín lớn thì việc phát hành trái phiếu hay cổ
Nguyễn Mạnh Dũng
lớp: kế hoạch 45A
15
phiếu ra thị trường tài chính thì sẽ được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà đầu tư
trước những doanh nghiệp khác chưa có uy tín, hay uy tín còn chưa nhiều. Uy tín của
doanh nghiệp như là một tài sản vô hình, nó được xây dựng qua thời gian, qua quá
trình hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường, nó như là thương hiệu của doanh
nghiệp trên thị trường.
Một nhân tố nữa ảnh hưởng tớikhả năng huy động vốn của doanh nghiệp chính là
tình hình thị trường. Rõ ràng khi mà thị trường ổn định không có biến động, khủng

không thể phát triển được khiến cho khả năng huy động vốn của doanh nghiệp bị hạn
chế, doanh nghiệp không thể phát triển được.
Nói tóm lại có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của doanh
nghiệp. Nó có thể là nhân tố khách quan hay chủ quan nhưng cho dù nó là từ phía nào
thì tuỳ vào từng điều kiện cụ thể mà có tác động khác nhau tới khả năng huy động
vốn của doanh nghiệp, có thể nó tạo thuận lợi trong lúc này nhưng lại gây khó khăn
trong lúc khác vấn đề là doanh nghiệp phải tìm cách thích nghi với từng điều kiện
nhất định, tận dụng những thuận lợi mà các nhân tố này mang lại vào doanh nghiệp,
tuỳ thuộc vào điều kiện của doanh nghiệp mà có giải pháp huy động vốn cho hiệu
quả.
4. Các tiêu chí đo lường độ an toàn vốn của doanh nghiệp.
Có rất nhiều tiêu chí đo lường độ an toàn vốn của doanh nghiệp nhưng trong bài
viết này tôi xin nêu ra hai tiêu chí để đo lường độ an toàn vốn của doanh nghiệp đó là.
Khả năng thanh toán hiện hành là mối quan hệ giữa tài sản lưu động doanh nghiệp
đối với nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này nhằm đo lường khả năng đảm bảo thanh toán các
khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu động của công ty. Những biện pháp cơ bản nhằm
cải thiện chỉ tiêu này phải nhằm vào việc gia tăng nguồn vốn ổn định (vốn chủ sở hữu
và nợ dài hạn) thay cho các khoản nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, đây chỉ là chỉ tiêu phản
ánh một cách khái quát khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và mang tính chất hình thức.
Bởi vì, một khi tài sản của công ty lớn hơn nợ ngắn hạn cũng chưa chắc tài sản lưu
động của công ty đủ đảm bảo thanh toán cho các khoản nợ ngăn hạn nếu như tài sản
này luân chuyên chậm, chăng hạn như tồn kho ứ đọng không tiêu thụ được, các khoản
phải thu ứ đọng không thu tiền được. Vì vậy khi phân tích khả năng thanh toán ngắn
hạn trên cơ sở đảm bảo của tài sản lưu động ta cần phân tích chất lượng của các yếu
tố tài sản lưu động của công ty qua các chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân, vòng quay hàng
tồn kho.
Khả năng thanh toán hiện hành = TSLĐ
Nợ ngắn hạn
Giá trị khả năng thanh toán hiện hành phải ≥ 1, nếu không thì doanh nghiệp không
có khả năng thanh toán, hệ số này phụ thuộc vào đặc tính của mỗi ngành. Giá trị tối

để lại của doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi
Nguyễn Mạnh Dũng
lớp: kế hoạch 45A
18
Chuyên đề thực tập
nhuận để lại của doanh nghiệp có thể là lợi nhuận gộp, lợi nhuận trước thuế, lợi
nhuận sau thuế và lợi nhuận để lại.
Tự tài trợ bằng lợi nhuận để lại là phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và
khá hấp dẫn của các doanh nghiệp vì doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm bớt sự
phụ thuộc vào bên ngoài. Tuy nhiên đối với các công ty cổ phần thì lợi nhuận để lại
sẽ làm giảm bớt tiền lãi cổ phần (cổ tức) của các cổ đông nhưng bù lại họ có quyền
sở hữu cổ phần tăng lên của công ty.
Chính vì vậy mà việc huy động vốn từ nguồn lợi nhuận để lại của công ty có
những ưu điểm sau đây.
Ưu điểm thứ nhất của nguồn vốn từ lợi nhuận để lại của công ty là việc huy động
vốn từ phần lợi nhuận để lại của công ty sẽ làm giảm chi phí cho công ty khi bớt
được chi phí trả lãi khi phải đi vay bên ngoài. Nhờ có phần vốn từ nguồn lợi nhuận
để lại này mà công ty không phải đi vay phần vốn tương ứng từ các nguồn khác nhờ
đó sẽ làm giảm được các khoản nợ mà công ty phải chịu khi phải đi vay, và nhờ đó sẽ
không phải chịu chi phí đi vay là trả lãi và còn các chi phí khác như là chi phí cho
việc phát hành trái phiếu khi muốn vay vốn từ phát hành trái phiếu hay là chi phí cho
phát hành cổ phiếu…
Ưu điểm thứ hai của nó là sẽ làm giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài vì khi mà có
phần vốn từ nguồn lợi nhuận để lại này sẽ làm giảm tương ứng phần vốn phải đi vay
từ bên ngoài từ đó làm giảm sự phụ thuộc. Vì khi đi vay từ bên ngoài dù nó là nguồn
nào như vay tín dụng ngân hàng ta phải chịu những điều kiện rằng buộc về thế chấp,
những rằng buộc về lãi suất, thời gian trả lãi, thời hạn trả nợ… nó là một sự rằng
buộc đối với doanh nghiệp, hay là đi vay tín dụng thương mại thì ta cũng phải chịu
những điều kiện rằng buộc như thời hạn trả nợ…
Ưu điểm thứ ba của nguồn vốn này là nó làm tăng vốn chủ sở của doanh nghiệp vì

giảm được các khoản nợ mà công ty phải chịu khi phải đi vay, và nhờ đó sẽ không
phải chịu chi phí đi vay là trả lãi và còn các chi phí khác như là chi phí cho việc phát
hành trái phiếu khi muốn vay vốn từ phát hành trái phiếu hay là chi phí cho phát hành
cổ phiếu…
Ưu điểm thứ hai của nó là sẽ làm giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài vì khi mà có
phần vốn từ nguồn quỹ dự phòng này sẽ làm giảm tương ứng phần vốn phải đi vay từ
bên ngoài từ đó làm giảm sự phụ thuộc. Vì khi đi vay từ bên ngoài dù nó là nguồn
nào như vay tín dụng ngân hàng ta phải chịu những điều kiện rằng buộc về thế chấp,
những rằng buộc về lãi suất, thời gian trả lãi, thời hạn trả nợ… nó là một sự rằng
buộc đối với doanh nghiệp, hay là đi vay tín dụng thương mại thì ta cũng phải chịu
những điều kiện rằng buộc như thời hạn trả nợ…
Nguyễn Mạnh Dũng
lớp: kế hoạch 45A
20
Chuyên đề thực tập
Tuy nhiên nó cũng có những nhược điểm như là khối lượng huy động được từ
nguồn này phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp vì doanh nghiệp có quy mô càng
lớn thì quỹ dự phòng sẽ nhiều trong khi với những doanh nghiệp nhỏ thì nguồn vốn
này có thể không nhiều.
Một nhược điểm nữa là khi dùng quỹ dự phòng vào làm vốn kinh doanh khi xảy
ra giảm giá hoặc kinh doanh thua lỗ ta sẽ không có nguồn để bù đắp.
5.1.3. Khấu hao.
Khấu hao là việc sử dụng tài sản cố định vào quá trình sản xuất, việc tính khấu
hao tuỳ thuộc vào từng công ty. Trong đó có nhiều cách tính khấu hao như.
Khấu hao đều là hình thức khấu hao bằng cách phân bổ chi phí mua sắm theo thời
gian sử dụng tài sản cố định. Chi phí khấu hao được xác định bằng cách chia giá trị
sổ sách của tài sản cho thời gian sử dụng tài sản cố định. Cách khấu hao này tạo ra
chi phí khấu hao cố định và bình quân theo thời gian.
Khấu hao nhanh có thể giúp cho doanh nghiệp sớm khôi phục tài sản cố định.
Theo phương pháp này, doanh nghiệp sẽ trích khấu hao nhiều vào các năm đầu sử

từ các cổ đông cũ và mới. Việc tăng vốn này của doanh nghiệp không thể diễn ra
thường xuyên được vì ta không thể lúc nào cũng kêu gọi các cổ đông đóng góp thêm
vốn như vậy sẽ làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các cổ đông trong công ty. Mặt khác
khi huy động thêm vốn mới từ các cổ đông mới cũng sẽ gặp phải khó khăn khi mà
thêm cổ đông điều đó đồng nghĩa với việc làm giảm cổ tức của các cổ đông cũ.
Tuy nhiên việc huy động vốn từ việc huy đông vốn góp của các cổ đông có những
ưu điểm sau.
Ưu điểm thứ nhất của nguồn vốn từ việc huy động vốn của các cổ đông cũ và
mới của công ty là việc huy động vốn từ nguồn này của công ty sẽ làm giảm chi phí
cho công ty khi bớt được chi phí trả lãi khi phải đi vay bên ngoài. Nhờ có phần vốn
từ nguồn huy động thêm này mà công ty không phải đi vay phần vốn tương ứng từ
các nguồn khác nhờ đó sẽ làm giảm được các khoản nợ mà công ty phải chịu khi phải
đi vay, và nhờ đó sẽ không phải chịu chi phí đi vay là trả lãi và còn các chi phí khác
như là chi phí cho việc phát hành trái phiếu khi muốn vay vốn từ phát hành trái phiếu
hay là chi phí cho phát hành cổ phiếu…
Ưu điểm thứ hai của nó là sẽ làm giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài vì khi mà có
phần vốn từ nguồn huy động sự góp vốn của các cổ đông này sẽ làm giảm tương ứng
phần vốn phải đi vay từ bên ngoài từ đó làm giảm sự phụ thuộc. Vì khi đi vay từ bên
ngoài dù nó là nguồn nào như vay tín dụng ngân hàng ta phải chịu những điều kiện
rằng buộc về thế chấp, những rằng buộc về lãi suất, thời gian trả lãi, thời hạn trả nợ…
Nguyễn Mạnh Dũng
lớp: kế hoạch 45A
22
Chuyên đề thực tập
nó là một sự rằng buộc đối với doanh nghiệp, hay là đi vay tín dụng thương mại thì ta
cũng phải chịu những điều kiện rằng buộc như thời hạn trả nợ…
Ưu điểm thứ ba của nguồn vốn này là nó làm tăng vốn chủ sở của doanh nghiệp vì
phần vốn từ tăng vốn này là vốn của doanh nghiệp do vậy mà nó làm tăng vốn chủ sở
hữu.
Tuy nhiên nó có những nhược điểm sau.

nghiệp mới phát hành lần đầu lên thị trường chứng khoán hoặc là phát hành thêm cổ
phiếu.
Khi mà nhu cầu vốn của doanh nghiệp không được đáp ứng bởi nguồn vốn nội bộ,
doanh nghiệp có thể thu hút nguồn vốn bằng cách phát hành cổ phiếu. Điều này sẽ
làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Có ba loại cổ phiếu: cổ phiếu có tên, cổ phiếu ưu tiên và cổ phiếu phổ thông. Phát
hành cổ phiếu sẽ làm giảm sở hữu của các cổ đông hiện tại của công ty cổ phần, do
vậy việc phát hành cổ phiếu phải được sự đồng ý của các cổ đông.
Việc phát hành cổ phiếu để huy động vốn có những ưu điểm như là.
Việc phát hành cổ phiếu ra thị trường chứng khoán sẽ huy động được lượng vốn
lớn. Vì khi mà doanh nghiệp tiến hành phát hành cổ phiếu ra thị trường chứng khoán
sẽ thu hút được các nhà đầu tư quan tâm mua cổ phiếu của công ty do vậy mà lượng
vốn thu được từ việc phát hành cổ phiếu là tương đối lớn.
Một ưu điểm nữa của việc phát hành cổ phiếu lá nó sẽ làm tăng vốn chủ sở hữu
cho doanh nghiệp. Vì khi mà doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ra bên ngoài cũng gần
như việc doanh nghiệp kêu gọi thêm các cổ đông mới góp vốn vào công ty chỉ có
điều kháclà những người nắm giữ cổ phiếu này không nằm trong ban lãnh đạo công
ty. Nhờ có lượng vốn lớn này mà doanh nghiệp sở hữu thêm được một lượng vốn lớn
do vậy mà vốn chủ sở hữu của công ty được tăng lên. Việc phát hành cổ phiếu này
vừa làm tăng vốn chủ sở hữu của công ty vừa giúp cho doanh nghiệp có được vốn để
đầu tư vào các dự án kinh doanh hay mua sắm tài sản cố định mới… Vừa làm giảm
tranh chấp về quyền lãnh đạo khi mà những nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu này không
nằm trong ban lãnh đạo công ty.
Tuy nhiên nó cũng có những nhược điểm sau.
Việc phát hành cổ phiếu ra thị trường chứng khoán dù là phát hành mới hay là
phát hành thêm thì nó đều gây tốn kém và mất thời gian. Vì khi muốn phát hành cổ
phiếu thì công ty phải tiến hành những khâu chuẩn bị nhất định, tiến hành xin giấy
phép với nhà chức trách và cũng phải tiến hành khảo sát thị trường, xem phản ứng
của các nhà đầu tư với cổ phiếu của công ty. Do vậy mà nó sẽ gây tốn kém cho công
Nguyễn Mạnh Dũng

nghiệp mà nó còn làm tăng tiềm lực cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên cũng có những nhược điểm là việc góp vốn bằng hiện vật này không
làm tăng được vốn lưu động cho doanh nghiệp.
Nguyễn Mạnh Dũng
lớp: kế hoạch 45A
25

Trích đoạn Vay tín dụng thương mại. Phát hành trái phiếu. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp. Thực trạng huy động vốn của doanh nghiệp trong những năm qua. Đánh giá thực trạng huy động vốn từ các kênh huy động vốn mà doanh nghiệp đã tiếp cận.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status