TĂNG HUYẾT ÁP
I- ĐỊNH NGHĨA:
- Tăng huyết áp là một hội chứng lâm sàng, do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, nói
lên tình trạng gia tăng áp lực máu trong các động mạch của đại tuần hoàn.
- Theo OMS, ở người lớn có huyết áp bình thường, nếu huyết áp động mạch tối đa < 140
mmHg (18,7 kpa) và huyết áp động mạch tối thiểu < 90 mmHg (12 kpa). Tăng huyết áp khi
huyết áp động mạch tối đa ≥ 160 mmHg (21,3 kpa) và huyết áp động mạch tối thiểu ≥ 95
mmHg (12 kpa). Huyết áp động mạch tối đa còn gọi là huyết áp tâm thu, huyết áp động
mạch tối thiểu còn gọi là huyết áp tâm trương.
- Dựa theo định nghĩa trên, tăng huyết áp được phân loại:
* Tăng huyết áp giới hạn khi trị số huyết áp trong khoảng 140/90 < PA < 160/95 mmHg.
* Tăng huyết áp tâm thu khi huyết áp động mạch tối đa lớn hơn 160 mmHg và huyết áp
động mạch tối thiểu nhỏ hơn 90 mmHg.
* Tăng huyết áp tâm trương khi huyết áp động mạch tối đa thấp hơn 140 mmHg và huyết
áp động mạch tối thiểu cao hơn 95 mmHg.
- Dựa vào tình trạng biến thiên của trị số huyết áp, ta có:
* Tăng huyết áp thường xuyên, có thể phân thành tăng huyết áp ác tính và tăng huyết áp
lành tính.
* Tăng huyết áp cơn: trên cơ sở huyết áp bình thường hoặc gần bình thường, bệnh xuất
hiện với những cơn cao vọt, những lúc này thường có tai biến.
* Tăng huyết áp dao động: trị số huyết áp có thể lúc tăng, lúc không tăng. (OMS khuyên
không nên dùng thuật ngữ này và nên xếp vào loại giới hạn vì tất cả các trường hợp tăng
huyết áp đều ít nhiều dao động).
- Dựa vào nguyên nhân, ta có:
* Tăng huyết áp nguyên phát (không có nguyên nhân), ở người cao tuổi.
* Tăng huyết áp thứ phát (có nguyên nhân) phần lớn ở trẻ em và người trẻ tuổi.
II- DỊCH TỄ HỌC:
- Ở châu Âu và Bắc Mỹ, tỷ lệ người lớn mắc bệnh từ 15 – 20%. Theo một công trình của
Tcherdakoff thì tỷ lệ này là 10 – 20%. Ở Việt Nam tỷ lệ người lớn mắc bệnh tăng huyết áp là
6 – 12%.
- Bệnh tăng huyết áp nguyên phát là bệnh của “thời đại văn minh”. Có lẽ, tăng huyết áp
bẩm sinh, hội chứng Cushing (0,2 – 0,5%), u tủy thượng thận, tăng calci máu, bệnh to đầu
chi, cường giáp …
* Nguyên nhân khác (1%): hẹp eo động mạch chủ, nhiễm độc thai nghén, bệnh đa hồng
cầu, nguyên nhân thần kinh (toan hô hấp, viêm não, tăng áp lực nội sọ…)
- Tăng huyết áp nguyên phát: khi không tìm thấy nguyên nhân, chiếm tỷ lệ 85 – 89% trường
hợp tăng huyết áp (theo Gifford và Weiss).
Phần lớn tăng huyết áp ở người trung niên và người già thuộc loại nguyên phát. Có nhiều
yếu tố thuận lợi làm xuất hiện bệnh tăng huyết áp nguyên phát:
* Yếu tố di truyền: bệnh thường gặp ở những gia đình có huyết áp cao hơn là ở những
gia đình có huyết áp bình thường.
* Yếu tố biến dưỡng: như thừa cân, xơ mỡ động mạch, chế độ ăn nhiều muối.
* Yếu tố tâm thần kinh: tình trạng căng thẳng thần kinh.
* Yếu tố nội tiết: thời kỳ tiền mãn kinh, dùng thuốc ngừa thai …
2/ Theo YHCT:
- Tìm hiểu các tài liệu của YHCT nói về bệnh tăng huyết áp của YHHĐ là điều không đơn
giản. “Tăng huyết áp” là danh từ bệnh học YHHĐ và không có từ đồng nghĩa trong bệnh học
YHCT. Từ đồng nghĩa dễ gặp giữa YHHĐ và YHCT là các triệu chứng, ví dụ: “đau đầu” với
“đầu thống”, “mất ngủ” với “thất miên” …
- Các chứng trạng thường gặp trong bệnh tăng huyết áp.
* Các triệu chứng cơ năng thường gặp (nếu có xuất hiện) và được mô tả trong các tài liệu
giáo khoa của một tình trạng tăng huyết áp kinh điển gồm: mệt, nhức đầu, rối loạn thị giác,
hoa mắt, chóng mặt, ù tai, chảy máu cam. Ngoài ra có thể có các biểu hiện khác là những
hậu quả trực tiếp của tăng huyết áp, đó là những tình trạng thiểu năng mạch vành, TBMMN,
liệt bán thân.
* Như vậy, có thể tóm tắt các triệu chứng cơ năng thường gặp trong bệnh lý tăng huyết
áp gồm:
. Hoa mắt, chóng mặt: YHCT xếp vào chứng Huyễn vậng hay còn gọi là Huyễn vựng.
. Đau đầu: YHCT xếp vào chứng đầu thống, Đầu trọng, Đầu trướng dựa vào những biểu
hiện khác nhau của nó.
. Đánh trống ngực, hồi hộp: YHCT xếp vào chứng Tâm quý, Chính xung.
* Giảm kali / máu, yếu cơ, vọp bẻ, tiểu nhiều, liệt, tiểu đêm gợi ý cho cường Aldosterone
nguyên phát.
* Đau vùng hông gợi ý cho những bệnh của thận và mạch máu thận.
Làm
tắc
trở
than
ĂN UỐNG
KHÔNG ĐÚNG
2/ Làm thế nào xác định chẩn đoán:
- Đo huyết áp lặp lại nhiều lần, nhiều nơi khác nhau, nhiều thời điểm khác nhau với kỹ thuật
thực hiện đúng.
- à Holter huyết áp rất tốt trong trường hợp nghi ngờ.
3/ Phải làm gì sau khi chẩn đoán tăng huyết áp:
- Có 3 vấn đề phải giải quyết sau chẩn đoán tăng huyết áp:
* Tăng huyết áp thứ phát ? nguyên phát ?
* Đã có ảnh hưởng trên những cơ quan nào ? giai đoạn tăng huyết áp ?
* Có yếu tố nguy cơ đi kèm ?
- Để trả lời 3 câu hỏi trên, cần chú ý:
* Hỏi bệnh, khám.
* Những xét nghiệm cận lâm sàng:
. Xét nghiệm thông thường của tăng huyết áp:
Xét nghiệm máu thường quy, BUN – Creatinine, K
+
/ máu, Cholesterol, HDL,
LDL, Triglycerides, đường huyết.
Đo ECG.
Phân tích nước tiểu.
. Xét nghiệm cần nên làm khi có nghi ngờ về nguyên nhân gây tăng huyết áp
(dựa trên bệnh sử, khám lâm sàng và các kết quả của những xét nghiệm).
. Mạch đi nhanh và căng (huyền).
2/ Thể Thận âm hư: Triệu chứng nổi bật trong thể này, ngoài trị số huyết áp cao;
* Tình trạng uể oải, mệt mỏi thường xuyên. Đau nhức mỏi lưng âm ỉ.
* Hoa mắt chóng mặt, ù tai, đầu nặng, đau âm ỉ.
* Cảm giác nóng trong người, bứt rứt, thỉnh thoảng có cơn nóng phừng mặt.
Ngũ tâm phiền nhiệt. Ngủ kém. Có thể có táo bón.
* Mạch trầm, huyền sác, vô lực.
3/ Thể Đờm thấp: Triệu chứng nổi bật trong thể bệnh lý này:
* Người béo, thừa cân.
* Lưỡi dày, to.
* Bệnh nhân thường ít than phiền về triệu chứng đau đầu (nếu có, thường là cảm giác
nặng đầu), nhưng dễ than phiền về tê nặng 2 chi dưới.
* Thường hay kèm tăng Cholesterol máu.
* Mạch hoạt.
V- ĐIỀU TRỊ VÀ THEO DÕI:
Việc điều trị tăng huyết áp chưa có biến chứng bao gồm trước tiên và luôn luôn là những
điều chỉnh về sinh hoạt ăn uống, kế đó mới đến vai trò của thuốc và nhất là chú ý toàn bộ về
nguy cơ các bệnh lý mạch máu.
1/ Điều trị không dùng thuốc:
- Mục tiêu kinh điển là giữ được huyết áp dưới ngưỡng 160/90 mmHg mà không gây ra
những khó chịu (làm cho bệnh nhân từ chối cách điều trị).
- Mục tiêu cũng là làm cho người bệnh thay đổi thái độ sống nhằm làm giảm nguy cơ các
bệnh mạch máu. Cũng còn có mục tiêu làm giảm hoặc chậm việc dùng thuốc, điều này đôi
khi có thể đạt được hoặc làm tốt hơn việc trị liệu bằng thuốc.
- Bao gồm giới hạn Na
+
, vận động thể lực, cân nặng lý tưởng, giảm rượu, bỏ thuốc lá, cà
phê, giảm Cholesterol máu hoặc tiểu đường, cung cấp thức ăn có nhiều potasium và calci,
kiểm soát tình trạng stress.
* Hạn chế Na
mạch máu.
* Việc điều chỉnh cholesterol / máu tăng và đường / máu tăng là bắt buộc và làm giảm
biến chứng mạch máu.
2/ Điều trị dùng thuốc:
(a) Theo YHHĐ:
Có 4 loại thuốc được khuyên sử dụng trong tăng huyết áp vì:
- Dùng một lần trong ngày.
- Có hiệu quả.
- Tác dụng phụ làm phải ngưng điều trị là 25%.
1+ Thuốc lợi tiểu:
* Đã được chứng minh tính hiệu quả hơn tất cả các loại khác.
* Nó làm giảm huyết áp như các loại khác, hơn nữa nó còn được dùng như điều trị cơ
bản của tất cả các thử nghiệm chứng minh việc điều trị tăng huyết áp, làm giảm tử suất, tỷ
lệ tử vong bệnh tim mạch và tỷ lệ tử vong chung.
* Các công trình nghiên cứu rất đáng tin cậy đã chứng minh lợi tiểu có tác dụng tốt trong
tăng huyết áp vừa (ở người trưởng thành và người cao tuổi) trong các thể lâm sàng tăng
tâm thu và tâm trương hoặc chỉ tăng tâm trương.
* Tập hợp tất cả các công trình lại, ta chứng minh được việc giảm trị số huyết áp làm
giảm đáng kể nguy cơ chảy máu não, suy tim và suy thận. Việc giảm nguy cơ suy mạch
vành ít thấy rõ hơn, nhưng lại rất có ý nghĩa ở người cao tuổi.
* Thuốc lợi tiểu nên dùng (thường là phối hợp trong 1 viên)
. Thiazide: tăng thải K
+
. Anti aldosterone: giảm thải K
+
. Phối hợp: Aldactazine: loại này thường gây giảm K
+
hơn là tăng K
+
* Chống chỉ định: suy gan nặng, suy thận mạn (clearance < 30 ml/phút).
. Dihydropyridines: Nifédipine: loại không ảnh hưởng trên nhịp tim hoặc làm
tăng nhịp tim.
. Loại làm giảm nhịp tim: Diltiazem.
* Cơ chế: giảm Ca
++
vào trong các tế bào cơ trơn thành mạch máu, dẫn đến giãn mạch
và cuối cùng là giảm kháng lực ngoại vi.
* Tác dụng phụ chủ yếu: phù 2 chi dưới, đau đầu. Đây là do tác dụng giãn động mạch
mà không kèm giãn tĩnh mạch. (Thường gặp khi dùng Adalate hơn nhóm Tildiem hay
Verapamil).
- Cách sử dụng:
* Quyết định sử dụng thuốc trong điều trị huyết áp cao là một quyết định nặng nề, bởi vì
sau đó rất có thể quyết định này sẽ bị ngưng lại.
* Quyết định này phải được nêu sau khi làm toàn bộ bilan như trên và sau khi áp dụng
các chế độ sinh hoạt, ăn uống, để chắc chắn rằng nó cũng kết hợp vào toàn bộ cách điều
trị.
* Lý tưởng là dùng 1 lần trong ngày và việc chọn lựa tùy thuộc chỉ định và chống chỉ
định.
* Hiệu quả của việc trị liệu chỉ được xác định sau vài tuần điều trị.
- Các công thức cần quan tâm:
* β- bloquants + Lợi tiểu: kinh điển và rất hiệu quả.
* Ức chế men chuyển + Lợi tiểu: rất hợp lý vì nhóm lợi tiểu hoạt hóa hệ thống renin và
như vậy làm mạnh thêm nhóm ức chế men chuyển (IEC), ngược lại IEC tăng hoạt bởi tình
trạng Na
+
giàm/máu.
* β- bloquants + Kháng Calci: thường dùng trên tăng huyết áp có bệnh mạch vành.
(b) Theo YHCT:
- Yêu cầu đáp ứng được những nguyên tắc điều trị sau:
môn, Nội quan, Bá hội, A thị huyệt.
- Thể Đờm thấp:
* Pháp trị: Hóa đờm trừ thấp.
* Bài thuốc sử dụng: Bài thuốc Hạ áp (xuất xứ 30 công thức thuốc) gồm Thục địa 20g,
Ngưu tất 10g, Rễ nhàu 20g, Trạch tả 10g, Mã đề 20g, Táo nhân 10g, Hoa hòe 10g.
VI- PHỤ LỤC – CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ CỦA BÀI THUỐC HẠ
ÁP.
1/ Kết quả nghiên cứu về hóa thực vật.
- Kết quả định tính một số hợp chất hữu cơ:
* Dịch chiết toàn phần Trà hạ áp có chứa: saponin, glycozid, flavon.
* Dịch chiết toàn phần Trà hạ áp không có chứa: anthraquinon, alkaloid, coumarin và tinh
dầu.
- Kết quả định tính các hợp chất hữu cơ có trong dịch chiết toàn phần Trà hạ áp bằng
phương pháp sắc ký.
* Hợp chất hữu cơ trong dịch chiết ete dầu hỏa: nhóm hợp chất hữu cơ khác với alkaloid,
flavon, saponines, tinh dầu, coumarine, anthraquinon.
* Các hợp chất hữu cơ trong dịch chiết etyl acetat của Trà hạ áp. Sau khi tách bằng
phương pháp sắc ký trên cột silice và định tính trên tấm SKLM, chúng tôi có được 9 phân
đoạn với Rf tuần tự là 0,82; 0,72; 0,70; 0,65; 0,55; 0,50; 0,45 trong dung môi của SKLM: Ete
dầu hỏa; AcOEt (50;50). Có 2 phân đoạn không cho phản ứng với các loại thuốc thử thông
thường. Những phân đoạn này đều cho phản ứng dương tính với flavon và không cho phản
ứng với anthraquinon, alkaloid, tinh dầu và coumarin.
Kết luận chung về nghiên cứu thành phần hóa học của bài thuốc:
+ Dịch chiết toàn phần Trà hạ áp có chứa saponin, glycozid, flavon.
+ Dịch chiết toàn phần Trà hạ áp không có chứa anthraquinon, alkaloid, coumarin và tinh
dầu.
+ Đã có một số hợp chất hữu cơ hiện diện trong các vị thuốc không có trong chế phẩm
Trà hạ áp mà các vị thuốc nêu trên cấu thành.
2/ Kết quả nghiên cứu độc tính của Trà hạ áp.
- Độc tính cấp diễn của thuốc: Thuốc đã dùng với liều rất cao nhưng không gây ngộ độc
huyết áp hạ được là 18 mmHg ở huyết áp tâm thu và 05 mmHg ở huyết áp tâm trương. Ở
nhóm tăng huyết áp giai đoạn II: trị số huyết áp hạ được là 07 mmHg ở huyết áp tâm thu và
03 mmHg ở huyết áp tâm trương.
* Thay đổi trị số huyết áp khi dùng thuốc dài ngày.
. Trà huyết áp ổn định được huyết áp ở giai đoạn I và II của bệnh tăng huyết áp. Sai biệt
có ý nghĩa thống kê (P = 0,05, v
1
= 44; v
2
= 47).
. Trị số huyết áp được ổn định rõ nhất sau ngày thứ năm.
* Thay đổi trị số huyết áp sau khi ngưng thuốc: sau khi ngưng thuốc, không thấy có hiện
tượng nẩy ngược của huyết áp.
* Diễn biến thay đổi trị số huyết áp trong 90 ngày dùng thuốc (trên 9 bệnh nhân tăng huyết
áp nhẹ và trung bình). Thuốc có khả năng giữ huyết áp ổn định trên những trường hợp tăng
huyết áp nhẹ và trung bình. Sai biệt có ý nghĩa (P = 0,05; v = 8).
- Những tác dụng dược lý lâm sàng khác:
* Ảnh hưởng của thuốc trên sự bài tiết nước tiểu: Trà hạ áp không làm thay đổi Na và Cl
trong máu và nước tiểu trước và sau khi dùng thuốc. Sai biệt không có ý nghĩa (P > 0,05; v
= 90).
* Ảnh hưởng của thuốc trên nhịp tim của bệnh nhân: trên 97 bệnh nhân dùng thuốc, trà hạ
áp không làm thay đổi nhịp tim (sự sai biệt của các kết quả không có ý nghĩa thống kê).
* SGOT – SGPT trước và sau khi dùng thuốc (n = 97): thuốc dùng sau 10 ngày không làm
thay đổi các men gan. Sai biệt không có ý nghĩa (P > 0,05; v = 96).
* Ảnh hưởng của thuốc trên các triệu chứng chức năng:
. Sau khi dùng thuốc, có cảm giác dễ chịu, có cảm giác mát trong người.
. Thuốc có mùi vị dễ uống.
. Không có bất kỳ tác dụng phụ nào.
5/ Kết luận chung:
- Chứng minh được một mặt của ý nghĩa “Bổ âm ghìm dương” của YHCT.
tìm thấy trong bệnh lý này như:
- Khi sự cung cấp oxy cho cơ tim không đủ: thiếu máu nặng.
- Khi nhu cầu sử dụng oxy gia tăng: tăng huyết áp, phì đại thất trái, hoạt động thể lực đột
ngột gia tăng.
B- THEO YHCT
Bệnh cơ tim thiếu máu có thể xuất hiện với bệnh cảnh đau ngực (với rất nhiều mức độ
khác nhau) hoặc không có biểu hiện lâm sàng (bệnh được phát hiện tình cờ trong khi khám,
điều trị một bệnh lý khác). Như vậy, có thể tóm tắt các triệu chứng cơ năng thường gặp
trong bệnh lý cơ tim thiếu máu gồm:
- Những triệu chứng có thể gặp trong bệnh lý xơ mỡ động mạch.
- Đau ngực gọi là Tâm thống, hoặc kèm khó thở thì được gọi là Tâm tý, Tâm trướng, Hung
hiếp thống.
Qua việc phân tích cơ chế bệnh sinh toàn bộ các chứng trạng thường gặp của YHCT
trong bệnh cơ tim thiếu máu, có thể biện luận về cơ chế bệnh sinh theo YHCT như sau:
Nguyên nhân của bệnh lý này theo YHCT có thể là:
- Do thất tình như giận, lo sợ gây tổn thương 2 tạng Can, Thận âm.
- Do bệnh lâu ngày, thể chất suy yếu, âm (huyết), dương (khí) suy, hư hỏa bốc lên, nung
nấu dịch thành đàm, đảm hỏa gộp lại gây bệnh.
- Do đàm thấp ủng trệ gây tắc trở kinh mạch. Đàm thấp có thể do ăn uống không đúng cách
gây tổn hại Tỳ Vị.
IV- CHẨN ĐOÁN:
A- CHẨN ĐOÁN YHHĐ:
SUY MẠCH VÀNH TIM MẠN
1/ Khi nào thì nghĩ đến việc tìm kiếm suy mạch vành mạn ?
- Những người đau ngực, có nguy cơ thiểu năng vành.
Yếu tố
nguy cơ
Nội dung bệnh Phòng ngừa
Tuổi tác Trong độ tuổi từ 45 – 60 tuổi: nguy cơ thiếu
máu tim tăng 2 lần khi già đi 10 tuổi.
2,8 lần nếu hút > 20 điếu/ngày
- Tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch tăng:
1,7 lần nếu hút 1 – 14 điếu/ngày
2,6 lần nếu hút > 25 điếu/ngày
- Giảm được 50 – 70%
nguy cơ NMCT sau 5 năm
ngừng hút.
- Giảm 50% đột tử sau 1
năm ngừng hút.
Tăng
Cholesterol
máu
Nguy cơ bệnh tim thiếu máu tăng gấp 4 lần
nếu Cholesterol: 1,8 – 2,8 g/l
- Cứ giảm được 1% lượng
Cholesterol toàn phần thì
giảm được 2-3% nguy cơ
NMCT.
- Gia tăng được HDL
tương ứng với giảm nguy
cơ bệnh mạch vành.
Tăng huyết
áp
Nguy cơ bệnh tim thiếu máu tăng theo
mức độ trầm trọng của bệnh:
Gấp 5,4 lần nếu HA max 130 - 190 mmHg
Gấp 3,3 lần nếu HA min 90 - 110 mmHg
- Làm giảm được 1 mmHg
của HA min sẽ làm giảm 2-
3 nguy cơ NMCT.
ít vận động 1,9% động sẽ làm giảm 35 –
55% nguy cơ NMCT.
Thuốc ngừa
thai uống
- Nguy cơ NMCT tăng gấp 4 lần kể từ sau
1 tháng sử dụng.
- Nguy cơ này sẽ tăng lên gấp 39 lần nếu
có kèm hút thuốc lá > 20 điếu/ngày.
Estrogen
sau tắt kinh
Cung cấp Oestrogen sau
mãn kinh làm giảm 44%
nguy cơ NMCT.
- Đau ngực:
* Điển hình: Đau ngực với các tính chất co thắt hoặc cảm giác nặng như bị đè. Đau tăng
khi cử động, khi gắng sức (làm người bệnh sợ không dám cử động). Vị trí đau sau xương
ức, lan lên hàm, vai, tay. Đau ngực có thể bắt đầu từ từ và kéo dài khoảng vài phút.
* Không điển hình: Đau có cảm giác chặn, tức ngực (làm bệnh nhân chậm hoặc ngưng
bước). Vị trí không điển hình ở hàm hoặc ở tay, có vẻ như đau không tăng khi gắng sức và
không giảm với nằm nghỉ khi gắng sức và không giảm với nằm nghỉ.
Có 1 chu kỳ khá rõ rệt: đỉnh cao của triệu chứng này là 4 giờ sau khi thức dậy (thời điểm
mà nor-adrenaline cao nhất trong ngày).
Chú ý: Tùy theo mức độ của tình trạng lo âu, của những yếu tố nguy cơ của XMĐM mà
chúng ta thấy cần thiết hay không thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng để xác định.
- Khó thở:
Trong nhiều trường hợp, khó thở chỉ xuất hiện đơn độc và là triệu chứng chủ yếu (được
xem như tương đương đau ngực).
- Những trường hợp không có triệu chứng lâm sàng:
* Những trường hợp bệnh mạch vành đang được điều trị: đó là những người mà chúng ta
đang muốn kiểm tra hậu quả của việc điều trị (như làm cầu nối, nong rộng mạch vành).
Dipiridamole.
. Kết quả nghiệm pháp nhấp nháy với Thallium 201. Nghiệm pháp này tốt hơn EKG
gắng sức (nhất là có giá trị định vị tổn thương rất rõ). Thallium là chất tương tự K và được
phân bố ở các tế bào được tưới máu. Nếu có vùng nhồi máu à trên hình sẽ có lỗ khuyết.
Nếu vùng cơ tim chỉ được nuôi bởi một mạch máu bị teo hẹp à kết quả có thể bình thường
lúc nghỉ ngơi, nhưng sẽ bất thường lúc gắng sức. Nếu nghiệm pháp gắng sức không thể
thực hiện được, có thể thay thế bằng chích Dipyridamole (đây là thuốc giãn động mạch
mạnh) à hình ảnh tăng tưới máu ở vùng cơ tim bình thường. Trong khi đó, vùng tưới máu
bởi động mạch teo hẹp không có hình ảnh tăng tưới máu hoặc hình ảnh giảm tưới máu (do
hiện tượng cướp máu sang vùng lành).
. Bất lợi: đắt, trang thiết bị có thể cho hình ảnh đẹp thường hiếm, chuyên gia còn ít.
* Siêu âm tim.
. Suy mạch vành mãn thường cho kết quả bình thường trên siêu âm tim. Đã có nhiều
nhóm nghiên cứu dùng siêu âm tim gắng sức, siêu âm tim với Dipyridamole, siêu âm tim với
Dobutamine. Từ năm 1993, những kỹ thuật này không còn dùng nhiều trong chẩn đoán
thiếu máu cơ tim.
. Ngược lại, siêu âm tim quy ước có giá trị xác định tình trạng tâm thất trái.
Độ nhạy và độ đặc hiệu của các test này không phải 100%, do đó chỉ được chỉ định trên
những người về mặt lâm sàng nghĩ nhiều đến thiếu máu cơ tim (không nêu chỉ định cho
những người đau ngực không điển hình và hoàn toàn không có yếu tố nguy cơ của xơ mỡ
động mạch vì sẽ gặp (+) giả rất cao.
3/ Phải thực hiện xét nghiệm gì khi đã nghi chờ có suy mạch vành mạn ?
- Đường huyết lúc đói. Đường huyết sau khi ăn.
- Bilan mỡ: Cholesterol, HDL, LDL, Triglycerides.
- Nhưng quan trọng hơn cả là cần xem có làm mạch vành đồ ?, đây là xét nghiệm giúp
chẩn đoán dương tính có suy mạch vành mạn, giúp quyết định chỉ định phẫu thuật tái lập
tuần hoàn tim.
* Thông thường ta có thể điều trị trước (trong 3 trường hợp sau):
1) Đau ngực giảm chỉ còn những cơn thưa thớt xuất hiện trong những gắng sức không
thông thường.
THIẾU MÁU CƠ TIM CẤP KHÔNG HOẠI TỬ (ĐAU NGỰC KHÔNG ỔN ĐỊNH)
Thực tế, không có giới hạn rõ ràng giữa đau thắt ngực ổn định và đau thắt ngực không ổn
định, cũng như không có giới hạn rõ ràng giữa đau thắt ngực không ổn định với nhồi máu
cơ tim. Sự phân chia như trên nhằm giúp theo dõi và ứng xử dễ dàng hơn trong thực tế lâm
sàng.
1/ Khi nào nghĩ đến thiếu máu cơ tim cấp không có hoại tử (đau ngực không ổn định).
- Những cơn đau thắt ngực xuất hiện với mức độ thường xuyên. Chúng xuất hiện trong
những hoạt động gắng sức không lớn và thậm chí cả trong lúc nghỉ (đau thắt ngực không
ổn định gần).
- Những cơn đau thắt ngực xuất hiện với mức độ thường xuyên hơn. Chúng xuất hiện
trong những hoạt động gắng sức không lớn, kéo dài hơn và không đáp ứng với thuốc giãn
mạch vành tác dụng nhanh (đau thắt ngực nặng).
2/ Làm cách nào để chẩn đoán thiếu máu cơ tim cấp không có hoại tử (đau ngực không ổn
định).
- Điện tim: đoạn ST chênh xuống.
Việc xác định sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu bệnh nhân có tiền căn về bệnh mạch vành
hoặc có những yếu tố nguy cơ của bệnh lý thiếu máu cơ tim.
- Mạch vành đồ: Việc chẩn đoán xác định có thể rất khó khăn khi các triệu chứng lâm sàng
và điện tim không điển hình. Thật sự rất khó chẩn đoán phân biệt với viêm màng bao tim
cấp, nhồi máu phổi, cũng như trường hợp đau ngực do nguyên nhân ngoài tim.
Ngoài ra, cũng thật sự khó phân biệt được giữa đau ngực không ổn định và trường hợp
nhồi máu cơ tim cấp không có sóng Q (nhồi máu dưới nội tâm mạc). Trường hợp này
thường dùng các xét nghiệm về men tim để chẩn đoán phân biệt.
3/ Phải thực hiện những xét nghiệm cận lâm sàng gì ?
- EKG không quan trọng trong trường hợp này.
- EKG gắng sức là chống chỉ định (cũng như với nghiệm pháp với Persantine).
- Các xét nghiệm men tim: CPK, CPK-MB, SGOT, SGPT, LDH, Troponine - test.
- Mach vành đồ: rất quan trọng vì ảnh hưởng rất lớn vào điều trị.
B- CHẨN ĐOÁN YHCT.
Dựa vào nguyên nhân và cơ chế bệnh lý YHCT, bệnh lý thiếu máu cơ tim theo YHCT có
- Nếu nặng hơn, Tâm dương hư thoát sẽ có thêm chứng ra mồ hôi không ngừng. Chân tay
quyết lạnh. Môi xanh tím. Thở nhỏ yếu. Lưỡi tím xám. Mạch nhỏ, muốn hư tuyệt.
V- ĐIỀU TRỊ KẾT HỢP VÀ THEO DÕI
SUY MẠCH VÀNH TIM MẠN
Việc điều trị bệnh suy mạch vành mạn phải đảm bảo những nguyên tắc trị liệu sau
- Chống những yếu tố nguy cơ của xơ mỡ động mạch.
- Làm giảm sự tiêu thụ oxy của cơ tim.
- Chống tình trạng tạo mảng xơ vữa.
- Tái lập tuần hoàn mạch vành.
A- Phòng chống những nguy cơ của xơ mỡ động mạch.
- Ngưng hút thuốc lá (dưới mọi dạng). Công việc này đòi hỏi ý chí của bệnh nhân và các
phương tiện hỗ trợ (cho từng cá nhân, tâm lý trị liệu cho cả nhóm).
- Ổn định tình trạng tăng huyết áp.
- Điều trị tăng Cholesterol máu:
* Khi Cholesterol toàn phần > 200 mg% và LDL > 130 mg%.
* Nếu LDL > 130 – 160 mg% và có < 2/5 yếu tố nguy cơ à điều trị bằng tiết chế
(nhiều chất xơ + trái cây).
* Nếu LDL > 130 – 160 mg%: có > 2/5 yếu tố nguy cơ à tiết chế + thuốc.
* Nếu LDL > 160 mg%: có < 2/5 yếu tố nguy cơ à tiết chế + thuốc.
Tiết chế giảm Cholesterol là sửa đổi chế độ ăn từ nhiều chất béo no sang béo không no.
* Thuốc YHHĐ và YHCT điều trị giảm Cholesterol máu.
B- Làm giảm sự tiêu thụ oxy của cơ tim.
Sự tiêu thụ Oxy tùy thuộc nhịp tim, độ co bóp của cơ tim, kháng lực của huyết áp khi tim
co (huyết áp động mạch), kháng lực của tâm trương (huyết áp tim trái cuối tâm trương).
Thuốc YHHĐ hoặc thuốc YHCT đều phải làm thế nào đáp ứng được yêu cầu này.
- β- bloquants: rất hiệu quả vì làm giảm nhịp tim, giảm co cơ tim, giảm huyết áp tâm thu. Do
đó, loại này đã được chứng minh phòng ngừa tốt tử vong sau NMCT.
- Nhóm kháng Calci: có tác dụng làm giảm co cơ tim, giảm huyết áp. Cần chú ý nhóm
Nifédipine vì làm tăng nhịp tim, có khả năng làm tăng nguy cơ thiếu máu. Dùng Tildiem
(Diltiazem), Isoptine (Verapamil). Có thể phối hợp β- bloquants và nhóm kháng Calci vì rất
* Sử dụng nhóm tác dụng nhanh trong cơn đau cấp.
* Sử dụng nhóm tác dụng chậm (khi kháng Calci kém hiệu quả).
Đối với thuốc YHCT, hiện nay chỉ ghi nhận những báo cáo về thuốc của Trung Quốc
được sử dụng, chủ yếu là những dược liệu có tính chất hoạt huyết, khử ứ mạnh: loại thuốc
phun sương “Tâm thống thể hàn” (chủ yếu thành phần có chứa Nhục quế, Hương phụ …),
“Tâm thống thể nhiệt” (chủ yếu chứa Đơn bì, Xuyên khung …), có tác dụng không kém
Nitroglycerin.
Ngoài ra còn có những báo cáo về sử dụng thuốc dạng tiêm (Đan sâm (IM, IV), Xuyên
khung (IV), Nhân sâm, Mạch môn (IV)).
B- Dùng châm cứu:
- Các huyệt thường dùng:
Chiên trung phối hợp Nội quan, Cự khuyết, Giản sử, Túc tam lý.
- Dùng theo kinh nghiệm:
* Day bấm điểm giữa đường nối 2 huyệt Tâm du và Quyết âm du bên trái trong 1 – 2
phút.
* Bấm mạnh huyệt Nội quan phối hợp bệnh nhân thở sâu.
Ngoài cơn, nếu có dấu hiệu gợi ý của xơ mỡ động mạch vành tim, thì cách điều trị sẽ
như phương pháp điều trị suy mạch vành mạn.
THIẾU MÁU CƠ TIM CẤP KHÔNG HOẠI TỬ (ĐAU NGỰC KHÔNG ỔN ĐỊNH)
Thiếu máu cơ tim cấp không hoại tử (đau thắt ngực không ổn định) phải được điều trị và
theo dõi trong một đơn vị săn sóc tích cực về tim mạch và bao gồm chống thiếu máu cơ tim,
chống tạo mảng xơ vữa & phương pháp tái lập tưới máu.
VI- NHỮNG PHƯƠNG PHÁP YHCT ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ CƠ TIM THIẾU MÁU
Tác dụng trị liệu của những phương pháp YHCT, ngoài việc đáp ứng những yêu cầu trị
liệu của bệnh lý cơ tim thiếu máu, còn chú ý đến tổng trạng chung của cơ thể, giải quyết
những rối loạn thực vật kèm theo.
1/ Thể Khí trệ huyết ứ:
- Pháp trị: Hành khí hoạt huyết.
- Những bài thuốc và công thức huyệt sử dụng:
* Bài thuốc gồm Qua lâu nhân 20g, Củ hẹ 12g, Đào nhân 12, Vỏ chanh già 12g.
nướng 2g.
- Công thức huyệt sử dụng: Đản trung, Cự khuyết, Khí hải, Quan nguyên, Cao hoang,
Nội quan.
5/ Thể Tâm Tỳ hư:
- Pháp trị: Bổ ích Tâm Tỳ.
- Những bài thuốc YHCT có thể dùng gồm:
* Bài thuốc Quy tỳ thang gia vị gồm Phục thần 3g, Toan táo nhân 3g, Long nhãn 3g, Nhân
sâm 3g, Hoàng kỳ 3g, Bạch truật 3g, Đương quy 3g, Viễn chí 3g, Đại táo 2 quả, Mộc hương
2g, Cam thảo 1g, Uất kim 4g.
- Công thức huyệt sử dụng: Đản trung, Cự khuyết, Tỳ du, Cách du, Thái bạch, Phong long,
Nội quan.
Editor: BS CKI. ĐOÀN THỊ BĂNG LINH
XƠ MỠ ĐỘNG MẠCHI- ĐẠI CƯƠNG:
Xơ mỡ động mạch (XMĐM) là nguyên nhân dẫn đầu gây tử vong và tàn tật ở các nước
phát triển. Mặc dù bệnh khá phổ biến nhưng một vài tính chất cơ bản của bệnh vẫn chưa
được hiểu biết đầy đủ.
Atherosclerosis, tên gọi của bệnh nói lên tình trạng tích tụ của mỡ làm thành trong mạch
máu bị dày lên.
Bệnh không xuất hiện trên tất cả các động mạch của cơ thể. Thông thường nó xuất hiện
ở động mạch chủ bụng, kế đến là động mạch vành tim, trước khi tấn công đến các động
phẫu và đâu là yếu tố nguy cơ của những biến chứng của XMĐM.
- Yếu tố nguy cơ của những biến chứng của XMĐM: thể hiện mối liên quan giữa yếu tố
phơi nhiễm và biến chứng à ta có thể dự kiến rằng nếu tác động trên yếu tố này sẽ làm
giảm nhanh tần số xuất hiện biến chứng ấy. Ví dụ: hút thuốc và biến chứng mạch vành.
- Yếu tố nguy cơ của của XMĐM giải phẫu: thể hiện mối liên hệ nhân quả giữa yếu tố phơi
nhiễm và sự phát triển về mặt giải phẫu của mảng xơ vữa à ta có thể dự kiến rằng nếu tác
động trên yếu tố này sẽ làm giảm từ từ tần số xuất hiện biến chứng ấy. Ví dụ tình trạng tăng
cholesterol máu và tăng athérome à biến chứng mạch vành.
Do đó, dù nguyên nhân của bệnh XMĐM chưa rõ nhưng với định nghĩa tạm thời về
nguyên nhân (yếu tố mà khi giảm sẽ dẫn đến sự giảm bớt tổn thương giải phẫu XMĐM
hoặc tần suất bệnh) và yếu tố nguy cơ (yếu tố mà sự hiện diện gia tăng sẽ dẫn đến sự gia
tăng tổn thương giải phẫu hoặc tần suất bệnh)
1/ Tăng Cholesterol máu được xếp vào những nguyên nhân của XMĐM:
Có một mối liên quan trên khắp thế giới giữa con số trung bình Cholesterol máu trong một
quốc gia, sự phát triển về mặt giải phẫu của XMĐM và tần suất các bệnh tim thiếu máu
trong các quốc gia ấy. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy việc làm giảm Cholesterol máu, dù với
phương tiện nào cũng làm chậm sự phát triển XMĐM và cuối cùng là giảm tỷ lệ tư vong các
bệnh mạch vành.
Giá trị Cholesterol đòi hỏi một sự trị liệu
Tuổi Cholesterol toàn phần
20 – 29 2 g/l = 5,16 mmol/l
30 – 39 2,2 g/l = 5,68 mmol/l
> 40 2,4 g/l = 6,19 mmol/l
Cholesterol di chuyển trong máu bằng cách gắn vào các Proteines tạo thành các
Lipoproteines. Có 2 nhóm Lipoproteines chính:
- Nhóm tỷ trọng thấp LDL (Low density Lipoprotein): trong nhóm này chuyên chở chủ yếu là
approteines B. Đây là dạng mà Cholesterol được mang đến các tế bào à Nếu LDL hay
approteines B càng cao, nguy cơ XMĐM càng lớn.
- Nhóm tỷ trọng cao HDL (High density Lipoprotein): nhóm proteines chuyên chở chủ yếu là
approteines A
chứng của bệnh đã xuất hiện.
- Dựa vào những cơ sở lý luận YHHĐ và YHCT, có thể biện luận về cơ chế bệnh sinh,
bệnh lý XMĐM theo YHCT như sau:
Có thể nói rằng nhiễm mỡ xơ mạch theo YHCT, dù do nguyên nhân nào cũng đều gây
bệnh thông qua cơ chế “Đàm thấp”. Đàm thấp (có thể hóa hỏa hoặc không) sẽ làm tắc trở
khí huyết lưu thông trong kinh mạch. Tùy theo tình trạng tắc trở trong kinh mạch xảy ra ở
đâu mà biểu hiện lâm sàng sẽ là:
- Ở Tâm với triệu chứng Tâm thống, Tâm trướng;
- Ở kinh lạc mà xuất hiện triệu chứng tê, đau, yếu liệt.
- Ở Can, Thận gây chứng Huyễn vựng, Đầu thống.
III- ĐIỀU TRỊ KẾT HỢP VÀ THEO DÕI:
Đối với bệnh lý XMĐM, phòng bệnh là yếu tố quan trọng hàng đầu. Việc phòng bệnh cần
thực hiện phải từ lúc còn trẻ và suốt cuộc đời. Chủ yếu là loại trừ những yếu tố nguy cơ.
A- Tiết chế:
- Chế độ ăn nhiều rau xanh, trái cây tươi là nguồn cung cấp sinh tố, ion K
+
, Mg
++
, các chất
anti-oxydants.
* Cần quan tâm đến sinh tố E là một chất anti-oxydants rất có lợi cho phòng XMĐM. Sinh
tố E có nhiều trong thức ăn thảo mộc và trong những loại dầu như dầu mộng lúa mì, dầu
hướng dương, dầu bắp …
* Chất xơ ngoài tác dụng chống táo bón, còn có tác dụng giữ lại Cholesterol trong lòng
ống tiêu hóa, hạn chế sự hấp thu Cholesterol vào máu, làm giảm LDL, VLDL, Trglycerides
trong máu.
Dương (khí)
hư
Đàm
thấp
- Chế độ làm giảm mỡ (dành cho Hyperlipidemie).
Cữ Giảm
- Bánh mì - Heo
- Bánh nướng - Cừu
- Khoai tây - Bê
- Đậu Hà lan - Vịt
- Bắp - Cá hồi
- Gạo - Cá mồi
- Bột
- Thức uống có đường, sirô - Fromage (trừ yaourt)
- Rượu - Chuối
- Tráng miệng có đường - Nho
- Trái cây khô
- Chế độ ăn làm giảm Triglycerides: cữ thức ăn ngọt, sôđa, sirô, chocolate, rượu.
B- Thay đổi cách sống:
Cũng nhằm loại bỏ những yếu tố nguy cơ như:
1/ Bỏ ngay thuốc lá.
2/ Giữ thái độ tâm thần thích hợp, lạc quan – Tránh căng thẳng thần kinh.