Tài liệu HỆ THỐNG HOÀN LƯU NƯỚC CỦA CÁC ĐẠI DƯƠNG - Pdf 91

HỆ THỐNG HOÀN LƯU NƯỚC CỦA CÁC ĐẠI DƯƠNG
I. KHÁI NIỆM
Sự dịch chuyển của nước từ nơi này đến nơi khác trong biển và đại dương gọi là
dòng chảy biển hay hải lưu. Dòng chảy đóng vai trò to lớn trong đời sống đại dương: làm
tăng khả năng trao đổi nước, phân bố lại nhiệt độ và độ muối, làm biến đổi bờ biển,
di chuyển băng biển, di chuyển bùn cát, dinh dương và sinh vật. Vì thế, nó cũng có ảnh
hưởng mạnh mẽ đến hoàn lưu khí quyển và khí hậu ở các vùng khác nhau của Trái Đất.
Ở ngoài khơi xa, di chuyển nước do dòng chảy diển ra trên qui mô hàng ngàn
kilomet, lôi cuốn vào chuyển động một khối lượng nước rất lớn. Ở dưới sâu hoặc sát đáy
chuyển động nước chậm hơn, thường ngược hướng với dòng chảy bề mặt. Các dòng chảy
ngang cùng với chuyển động thẳng đứng của nước tạo thành chu trình chung hay hoàn
lưu nước đại dương thế giới. Ở thềm lục đại quan sát thấy những dòng chảy qui mô nhỏ
hơn.
Tùy theo nguyên nhân tạo ra dòng chảy, người ta phân biệt các loại dòng chảy khác
nhau: dòng chảy gió (bề mặt), dòng chảy mật độ, dòng triều, dòng Gradient, dòng song…
ngoài ra người ta còn phân biệt: dòng chảy cố định nếu hướng và tốc độ ít biến đổi, dòng
chảy tạm thời (do gió) và dòng tuần hoàn (dòng triều). Nếu nhiệt độ nước trong dòng chảy
cao hơn xung quanh thì có dòng chảy nóng, ngược lại_dòng chảy lạnh. Tùy theo độ sâu
phân bố, người ta phân biệt: dòng chảy bề mặt, dòng chảy sâu và dòng sát đáy. Theo tính
chất chuyển động, người ta phân biệt dòng chảy uốn khúc, dòng chảy thẳng và dòng chảy
xoáy (thuận, nghịch).
DÒNG CHẢY BỀ MẶT
Trong số tất cả dòng chảy đại dương, dòng Gulf Stream có lẻ là quen thuộc nhất.
Đó là một dòng chảy lớn và quan trọng nhất ở Bắc bán cầu. Dòng chảy này vận chuyển
gần 100.10
6
m
3
/s . Có thể đem so sánh, đỉnh lũ cực đại của sông Mixixipi chỉ có thể mang
nhiều nhất 50.10
3

chuyển một nguồn năng lượng khổng lồ cỡ 1,4 petaOat (1,4.10
15
W). Lưu lượng nước của
nó đạt đến 30.10
6
m
3
/s . Sau khi nó vượt qua mũi Hatteras, lưu lượng tăng lên đến 80.10
6
m
3
/s. Lưu lượng nước vận chuyển của hải lưu Gulf Stream này vượt xa lưu lượng của tất
cả con sông đổ ra Đại Tây Dương cộng lại (tổng lượng của chúng chỉ có tối đa 0,6.10
6
m
3
/s).
Khi nó chuyển động về phía Bắc, một lượng nhất định nước ấm của hải lưu Gulf
Stream bị bay hơi. Điều này làm tăng độ mặn của nước trong hải lưu này, và ở Bắc Đai
Tây Dương nước bị lạnh đi và nặng hơn cùng với độ mặn cao hơn sẽ chìm xuống. Nó sau
đó trở thành một phần của nước sâu Bắc Đại Tây Dương, là một dòng nước đi về phía
Nam.
2. Hải lưu Labrador
Hải lưu Labrador là dòng hải lưu lạnh ở Bắc Đại Tây Dương, nó chảy từ Bắc
Băng Dương về phía nam dọc theo bờ biển Labrador và đi ngang qua Newfoundland, tiếp
tục đi về phía nam dọc theo bờ biển phía đông của Novascotia. Nó là sự nối tiếp của các
dòng hải lưu tây Greenland và hải lưu đảo Baffin. Nó tiếp giáp dòng hải lưu ấm Gulf
Stream ở Grand Banks phía Đông Nam của Newfoundland. Tổ hợp của hai dòng hải lưu
này tạo ra hiện tượng sương mù nặng và cũng tạo ra một trong những khu vực nhiều cá
nhất trên thế giới.

phía Bắc tới vùng cực. Nó đôi khi còn được gọi là “ hải lưu đen”, do nghĩa của từ kuroshio
là đen, và nó là hình ảnh của màu lam sẫm của nước biển ở đó.
Phần tương ứng phía Bắc của nó là hải lưu bắc Thái Bình Dương, phía Đông là hải
lưu California, phía Nam là hải lưu Bắc Xích đạo. Nước ấm của hải lưu Kuroshio làm cho
san hô nước ấm có thể tìm thấy ở Nhật Bản, là nơi xa nhất về phía Bắc mà san hô nước ấm
có thể sinh sống.
5. Hải lưu Oyashio
Hải lưu Oyashio là một hải lưu lạnh dưới Bắc cực, có chuyển động về phía Nam
và xoay ngược chiều kim đồng hồ ở miền Tây của Bắc Thái Bình Dương. Nó tiếp giáp với
hải lưu Kuroshio ở bờ biển phía Đông của Nhật Bản và tạo ra hải lưu Bắc Thái Bình
Dương.
Nước của hải lưu Oyashio xuất phát từ Bắc Băng Dương và chảy về phía Nam
thông qua eo biển Bering. Hải lưu này có ảnh hưởng đáng kể lên khí hậu của vùng Viễn
Đông nước Nga, chủ yếu là Kamchatka và Chukotka, ở đó giới hạn phía Bắc của sự sinh
trưởng thực vật là 10
0
về phía Nam so với vĩ độ mà nó đạt được trong đất liền ở Siberi.
Nước của hải lưu Oyashio có lẽ tạo thành nguồn cá giàu nhất trên thế giới vì thành
phần dinh dưỡng cực cao trong nước lạnh và do nó có thủy triều rất cao (tới 10m) trong
một số khu vực vì nó tăng khả năng làm giàu thêm các chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, hải lưu
Oyashio cũng làm cho Vladivostok trở thành cảng phụ thuộc nhiều nhất vào khí hậu do nó
bị đóng băng trong mùa đông và cần phải có tàu phá băng để giử cho cảng có thể ra vào
được trong mùa đông.
Một đặc trưng quan trọng khác của hải lưu này là trong thời kỳ băng hà, khi mực
nước biển xuống thấp đã tạo ra sự hình thành của cầu nối Bering, hải lưu này không thể
chuyển động và sự lạnh toàn cầu nói chung là không đáng kể trong khu vực mà nó có ảnh
hưởng như ngày nay. Nó là nguyên nhân chính của trạng thái không bị đóng băng của phần
lớn khu vực Đông Á, và do đó nó giải thích tại sao Đông Á vẫn giữ được khoảng 96% các
loài thực vật của thế Pliocen, trong khi châu Âu chỉ giử được khoảng 27%, mặc dù khí hậu
hiện nay của khu vực này lạnh hơn nhiều so với phần lớn châu Âu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status