Lệch chênh, vũ trụ này là thế!
(Phần 1)
Nguyên lý 80/20 là gì? Nguyên lý 80/20 cho chúng ta biết rằng trong bất cứ
một nhóm nào cũng đều có một số đối tượng có một vai trò quan trọng hơn những đối
tượng khác rất nhiều. Một mức chuẩn hoặc giả thuyết phù hợp là 80% những kết quả
hoặc sản phẩm được sản sinh ra từ 20% những nguyên nhân, và nhiều khi từ một tỷ lệ
nhỏ hơn nhiều những động lực có sức tác động lớn.
Business Word Portal xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn sách “Nguyên
lý 80/20”
về hiện tượng “bất thường” này trong cuộc sống kinh doanh.
Lời ăn tiếng nói thường nhật là một minh họa rất rõ cho thực tế này. Issac
Pitman, người phát minh ra tốc ký, khám phá ra rằng chỉ có 700 từ thông dụng mà đã
chiếm đến 2/3 các từ ngữ dùng trong những cuộc nói chuyện trao đổi qua lại giữa
chúng ta với nhau. Pitman nhận thấy rằng, những từ ngữ này, kể cả những từ ngữ phái
sinh của chúng, chiếm 80% trong lời ăn tiếng nói thông thường. Trong trường hợp
này, không tới 1% từ ngữ (bộ từ điển New Oxford Shorter Oxford English Dictionary
tập hợp nửa triệu từ) được sử dụng trong 80% lượng thời gian. Chúng ta có thể gọi đây
là nguyên lý 80/1. Tương tự, trên 99% những trao đổi, chuyện trò sử dụng không tới
20% vốn từ: chúng ta có thể gọi đây là nguyên lý 99/20.
Điện ảnh cũng có thể sử dụng để làm một minh họa cho nguyên lý 80/20. Một
nghiên cứu mới đây cho thấy rằng 1,3% các bộ phim đem về 80% tổng doanh thu từ
vé xem phim ở rạp, và ta có thể xem đây là quy luật 80/1.
Nguyên lý 80/20 không phải là một công thức huyền bí gì. Nhiều khi mối quan
hệ giữa kết quả và nguyên nhân gần tỷ lệ 70/30 hơn là 80/20 hay 80/1. Nhưng có một
thực tế là ít khi nào xảy ra trường hợp 50% các nguyên nhân dẫn đến 50% kết quả.
Chúng ta có thể thấy được vũ trụ này không cân đối, không bằng cân. Một thiểu số lại
đóng một vai trò quan yếu.
Những con người và tổ chức thật sự có hiệu quả đều biết bám sát, tận dụng một
số ít những động lực quan trọng có thể phát huy hiệu quả trong lĩnh vực, thế giới của
họ và chuyển chúng thành những lợi thế của họ.
80% các kết quả xuất phát từ 20% các nguyên nhân; hoặc rằng 80% những thành quả
có được từ 20% công sức đã đầu tư. Hình 1 minh họa cho mối quan hệ này.
Trong kinh doanh, nhiều ví dụ minh họa cho Nguyên lý 80/20 đã được kiểm
chứng. 20% các sản phẩm thường chiếm 80% doanh số tính theo đô-la Mỹ; và 20%
các khách hàng cũng có một tầm quan trọng tương tự. 20% các sản phẩm hoặc khách
hàng thường chiếm khoảng 80% lợi nhuận của đơn vị.
Trong xã hội, 20% các tội phạm chiếm 80% giá trị của tất cả các tội phạm. 20%
người lái xe gây ra 80% số tai nạn. 20% số người kết hôn cấu thành 80% số người ly
dị (những kẻ cứ tái hôn rồi lại ly dị đã làm méo lệch các con số thống kê, gây ra một
cảm giác bi quan sai lệch về mức độ chung thủy trong hôn nhân). 20% các học sinh
sinh viên nắm giữ 80% những bằng cấp, chứng chỉ được phát ra.
Trong cuộc sống gia đình, 20% những tấm thảm trải trong nhà thường xuyên có
những bước chân giẫm lên. 20% số quần áo được đem ra mặc trong 80% lượng thời
gian. Và nếu các bạn có gắn một chuông báo trộm, 80% những vụ báo trộm nhầm là
do 20% những nguyên nhân khả hữu.
Động cơ đốt trong là một minh họa tuyệt vời cho Nguyên lý 80/20. 80% lượng
năng lượng bị bỏ phí trong quá trình đốt nhiên liệu và chỉ có 20% là được chuyển
thành năng lượng đẩy cho bánh xe chạy; số 20% “nguyên liệu đầu vào” này tạo ra
100% “sản phẩm đầu ra”!
K
hám phá của Pareto: thiếu cân đối, một tình trạng xảy ra một cách có hệ
thống và có thể đoán trước được
Cơ sở nền tảng của Nguyên lý 80/20 được Vilfredo Pareto (1848-1923) – nhà
kinh tế học người Ý – khám phá ra năm 1897, cách đây đúng 100 năm. Khám phá của
ông cho đến nay đã có nhiều tên gọi khác nhau, như Nguyên lý Pareto (Pareto
Principle), Định luật Pareto (Pareto Law), Qui tắc 80/20 (80/20 Rule), Nguyên lý thiểu
công (Principle of Least Effort), và Nguyên lý bất cân bằng (Principle of Imbalance);
trong bộ sách này chúng ta sẽ thống nhất gọi là Nguyên lý 80/20. Qua cả một quá trình
ảnh hưởng ngấm ngầm đối với nhiều người thành đạt quan trọng, nhất là những người
làm kinh doanh, những người say mê máy tính, và những kỹ sư phụ trách về chất
kinh tế).
Mặc dù Pareto đã nhận thấy tầm quan trọng và phạm vi áp dụng rộng lớn của
khám phá của ông nhưng, thật đáng tiếc, ông lại rất kém trong việc giải thích nó. Sau
đó ông tiếp tục đưa ra hàng loạt những lý thuyết xã hội học kỳ thú nhưng lan man,
chẳng đâu vào đâu, tập trung vào vai trò của bộ phận tinh hoa của xã hội, để rồi cuối
đời ông, những tư tưởng ấy đã bị những tên phát xít theo phe Mussolini lạm dụng và