1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, mọi doanh nghiệp phải
hoàn toàn tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn
tại và phát triển thì không còn cách nào khác phải biết đổi mới cho phù hợp từ việc nghiên
cứu xem sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào đến việc tổ chức điều hành sản xuất ra sao để
với chi phí thấp nhất sản xuất ra những sản phẩm đạt chất lượng đáp ứng được nhu cầu của
người tiêu dùng. Đứng trước thực tế như vậy Hacatex cũng không ngừng vận động luôn
bám sát để nắm bắt sự thay đổi của thị trường, mạnh dạn áp dụng những thành tựu của
khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất, tổ chức điều chỉnh lại cơ cấu lao động, tác phong
làm việc công nghiệp trong công ty … Với mục tiêu chất lượng sản phẩm đặt lên hàng đầu,
sản phẩm của HACATEX dù còn mới mẻ nhưng đã nhanh chóng được thị trường nội địa
chấp nhận và trong tương lai không xa sản phẩm của công ty sẽ vươn ra thị trường khu
vực và thế giới.
Trong thời gian ngắn ngủi chỉ có 7 tuần thực tập tại Công ty nhưng em đã thấy một
không khí làm việc rất sôi nổi, nó giúp em hiểu được thực tế hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp sản xuất nói chung và của công ty nói riêng trong cơ chế thị
trường, giúp em so sánh, kiểm nghiệm và áp dụng những gì mình đã được lĩnh hội từ các
thầy cô đến thực tế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú trong công ty nhất là các cô chú trong phòng
Tổ chức hành chính đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy Trần Mạnh Hùng - giảng viên khoa Kinh
tế đã nhiệt tình hướng dẫn em, giúp em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2004
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Dương
PHẦN I:
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY DỆT VẢI CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
sau đó đổi tên lại thành nhà máy Dệt vải công nghiệp Hà Nội.
Với công nghệ mới và hướng đi đúng đắn đã giúp nhà máy từ chỗ làm ăn thua
lỗ, quy mô nhỏ với tổng vốn đầu tư ban đầu chỉ 475.406VNĐ (thời giá năm
1968), số cán bộ công nhân viên chỉ 174 người trong đó có 144 công nhân trực
tiếp sản xuất, đến năm 1988 -sau hơn 10 năm hoạt động tổng vốn đầu tư đă lên
tới trên 5 tỷ VNĐ (thời giá năm 1968), tổng sản lượng đạt trên 10 tỷ VNĐ và số
cán bộ công nhân viên lên tới 1.079 người trong đó có 986 công nhân trực tiếp
sản xuất. Điều này chứng tỏ mặc dù trong cơ chế bao cấp sản xuất kinh doanh
dưới sự chỉ đạo của Nhà nước nhưng nhà máy đã không lệ thuộc mà luôn nỗ
lực phấn đấu để ngày càng phát triển.
Năm 1988 nhà máy đạt đỉnh cao về tiêu thụ sản phẩm, gồm có: 3,308 triệu m
2
vải mành và 2,8 triệu m
2
vải bạt các loại. Song song với việc sản xuất nhà máy
tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng như: văn phòng, nhà xưởng, kho bãi, khuôn
viên trong nhà máy cùng với việc không ngừng đầu tư thêm máy móc thiết bị 3
tạo điều kiện và môi trường làm việc tốt hơn cho công nhân. Đây có thể coi là
thời kỳ tăng trưởng của nhà máy.
Trước thực trạng đất nước vào giữa thập kỷ 1980 đầy những khó khăn gay gắt
và phức tạp đã đặt ra một yêu cầu khách quan, bức xúc có ý nghĩa sống còn với
nền kinh tế nước nhà. Đại hội lần thứ VI của Đảng đã có sự đổi mới về tư duy
kinh tế, cụ thể là trong chỉ thị số 10 của Bộ Chính Trị đã nêu rõ: xoá bỏ cơ chế
hành chính bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, tự do
kinh doanh, tự do cạnh tranh dưới sự quản lý của Nhà nước.
Vào những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 tình hình trên thế giới cũng
công ty mở rộng thị trường ra nước ngoài về xuất khẩu sản phẩm và nhập khẩu
nguyên vật liệu vì phần lớn nguyên liệu của Công ty phải nhập từ nước ngoài.
Tuy vậy, Công ty vẫn hoạt động theo cơ chế hạch toán độc lập và chủ động
trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình không ngừng cải tiến về bộ
máy quản lý cũng như công nghệ để nâng cao năng xuất sản xuất và chất lượng
sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Cuối những năm 1990 mặt hàng vải bạt của Công ty đã bước vào giai đoạn suy
thoái và vải mành phải cạnh tranh khốc liệt với các sản phẩm ngoạ
i nhập cả về
chất lượng và giá cả. Đứng trước thực trạng đó vào đầu những năm 2000, Công
ty đã nghiên cứu và mạnh dạn đầu tư, thay thế hàng loạt các máy móc thiết bị
mới. Cụ thể năm 2002 đã có ba dự án đi vào hoạt động:
-Tháng 1/2002 đầu cuộn vải của dây chuyền nhúng keo được thay thế với tổng
mức đầu tư trên 2 tỷ đồng và kế
t quả là chấm dứt được lỗi ngoại quan của vải
mành nhúng keo như lồi, lõm bề mặt nhũn xốp, mặt bên không phẳng, giảm
99% lỗi loại B&C….
- Tháng 9/2002 Công ty đầu tư thêm hai máy xe ALLMASAURER của Cộng
hoà liên bang Đức và một máy dệt mành PICANOL của Bỉ vào sản xuất với
tổng vốn đầu tư 21.970.494.400 VNĐ. Dây chuyền này có năng suất tăng gấp
từ 5 đến 7 lần so với dây chuyền cũ.
- Và đặc biệt phải kể đến là dây chuyền sản xuất vải không dệt lần đầu tiên có
mặt tại Việt Nam, dây chuyền này được khởi công lắp đặt vào tháng 11/2001 và
đến tháng 10/2002 được đưa vào sản xuất để kỷ niệm ngày Giải phóng Thủ đô.
Tổng vốn đầu tư cho dây chuyền này lên tới 63.622.939.000VNĐ. Đây là dây
chuyền khá hiện đại có mặt lần đầu tiên tại Việt Nam vớ
i quy trình sản xuất
hoàn toàn tự động. Vải không dệt được sử dụng cho các ngành công nghiệp,
giao thông, thuỷ lợi, đồ gia dụng (như làm thảm)….
Mặc dù mới đi vào sản xuất được hơn một năm nhưng sản phẩm Vải không dệt
vào việc ổn định trật tự xã hội ....
Hiện nay Công ty gồm 4 xí nghiệp:
• Xí nghiệp sản xuất vải bạt.
• Xí nghiệp sản xuất vải mành.
• Xí nghiệp sản xuất vải không dệt.
• Xí nghiệp may.
(Như đã nói ở trên sản phẩm vải bạt đã bước vào giai đoạn suy thoái
nên sớm muộn nó sẽ được thay thế bằng một mặt hàng khác)
Tổng số cán bộ công nhân viên trong Công ty là 782 người (tính đến hết
31/12/2003) trong đó có 672 công nhân sản xuất. Lao động của công ty đa phần
là lao động nữ chiếm khoảng 75%. Trình độ của người lao động được Công ty
rất chú trọng: Trình độ ĐH và trên ĐH chiếm 6,5%; THCN& CĐ chiếm:6.79%;
thợ bậc 6+7là:11,69%; thợ bậc 5 là:20,69%; thợ bậc 3+4là :17,29%. Tuy nhiên
tỷ lệ này chưa cao, Công ty cần phải chú trọng hơn nữa trong thời gian tới. Đời 6
sống vật chất cũng như tinh thần của người lao động ngày càng được quan tâm
…
Thành công của Haicatex đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp phát triển của
ngành dệt may Việt Nam và trong sự nghiệp xây dựng đất nước.
II. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của HAICATEX :
1-Nhiệm vụ sản xuất sản phẩm của Công ty:
Công ty chuyên sản xuất các loại vải công nghiệp phục vụ cho các ngành công
nghiệp khác như giao thông, thuỷ lợi, sản xuất đồ dân dụng….Tuỳ vào tính
năng của mỗi loại mà nó đáp ứng cho mỗi ngành nghề khác nhau. Công ty sản
xuất 4 loại sản phẩm:
• Vải Mành :Vải mành được sản xuất để cung cấp cho ngành
công nghiệp làm lốp ô tô, xe máy, xe đạp…Sản phẩm của
Công ty được tiêu thụ bởi Công ty Cao su SaoVàng, Công ty
được áp dụng vào năm 2006 đối với các nước ASEAN khi đó thuế nhập khẩu
giảm xuống chỉ còn 0-5% và tiến tới Việt Nam ra nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) vào năm 2005 sẽ mở ra không ít cơ hội nhưng cũng đầy khó
khăn và thách thức.
Cùng với việc cố gắng hoàn thành tốt các mục tiêu sản xuất kinh doanh của
mình công ty cũng cố gắng hoàn thành tốt nhịệm vụ của mình đối với nhà
nước, dưới đây là tình hình thực hiện nghĩa đóng góp vào Ngân sách nhà
nước(NSNN) của công ty trong ba năm gần đây:
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 02/01(%) 03/02(%)
Nộp NSNN(tr.đ) 11.715 12.89 23.8465 110.03 185
Nhìn bảng trên ta thấy chỉ tiêu nộp NSNN của công ty tăng khá cao trong mấy
năm vừa qua, nó thể hiện sự lỗ lực không ngừng của công ty.
2- Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty:
Haicatex bao gồm 4 xí nghiệp thành viên:
1. Xí nghiệp Bạt
2. Xí nghiệp Mành
3. Xí nghiệp Vải Không Dệt
4. Xí nghiệp May
Tương ứng sản xuất 4 loại sản phẩm mỗi sản phẩm có một quy trình sản xuất
khác nhau, công nghệ sản xuất độc lập, mức độ phức tạp của mỗi quy trình
phụ thuộc vào yêu cầu sản xuất của từng loại sản phẩm.
* Quy trình sản xuất Vải Mành Nhúng Keo: Với nguyên liệu từ sợi PA,
Nylon6.6.6 (hiện nay vẫn phải nhập từ nước ngoài) trải qua ba công sản xuất
chính: xe, dệt , nhúng keo ta có thành phẩm là: Vải mành 840D/1; 840D/2;
1260D/2 được sử dụng để làm lốp ô tô, xe máy, xe đạp… 8
* Quy tình sản xuất vải không dệt: Vải không dệt được sản xuất từ sơ PES, PP
nhập từ nước ngoài với các sản phẩm HD130, HD180, HD200,... được sử
Lỗi
Đạt
Đạt Lỗi Đạt Đạt
Lỗi Quy Trình Công Nghệ Sản Xuất Vải Bạt
Sợi dọc
Xe lần 1
Sợi đơn
Lờ , dồn
Đánh ống
Xe suốt
Đậu sợi Suốt
ngang
Sợi ngang
Đóng kiện
Hon thiện
Dệt
Go
Nhập kho
Xơ P.P, P.E
Máy xé trộn 11
Quy trình công nghệ may
Nhập kho
Đóng gói
Chỉnh sửa
Kiểm
tra 12
Phần cứng : Bao gồm máy móc thiết bị cho sản xuất hàng hoá và dịch vụ còn được gọi
là phần vật chất.
Phần mềm: hay còn gọi là phần phi vật chất bao gồm những kỹ năng , kỹ xảo, kiến thức
quản lý điều hành, phương pháp sản xuất bí quyết kỹ thuật.
Với định nghĩa như trên thì công ghhệ bao gồm:
• Trang thiết bị (Technoware)
• Kỹ năng (Humanware)
• Thông tin (Infoware)
• Tổ chức (Organware)
Trên đây là quan niệm về công nghệ của tổ chức kinh tế xã hội Thái Bình Dương-ESCAP.
Theo tổ chức UNCTAD thì một số hoạt động sau đây cũng thuộc phạm trù công nghệ:
1-Nghiên cứu khả thi và khảo sát thị trường trước khi đầu tư. Đây là việc làm quan trọng vì
nó giúp cho nhà đầu tư biết được liệu có khả năng đầu tư vào thị trường đó không ? Thị
trường đó có đặc điểm gì? Sản phẩm của công nghệ có đủ sức cạnh tranh trên thị trường
không ? Môi trường đầu tư thế nào?...Tất cả những hoạt động này sẽ hạn chế rủi ro trong
quyết định đầu tư.
2-Thu thập thông tin về một số kỹ thuật sẵn có và sẽ có trong tương lai gần. Trên cơ sở đó
nhà đầu tư phải tìm hiểu, lựa chọn kỹ thuật thuộc công nghệ nào cho phù hợp với dự định
phát triển sản xuất hàng hoá của mình. Những thông tin kỹ thuật này còn là tiền đề quan
trọng cho sự lựa chọn đúng đắn chiến lược kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp.
3-Thiết kế kỹ thuật là làm cho máy móc thiết bị kỹ thuật sẵn có phù hợp với quy trình công
nghệ, phù hợp với đăc điểm điêù kiện tự nhiên tạinơi xây dựng nhà máy.
su Miền Nam và một số công ty có vốn đầu tư nước ngoài như: Công ty Shinfa,Công ty
Thời ích và Fungkeong của Malaysia... Đặc biệt là dây chuyền sản xuất Vải không dệt
có vốn đầu tư là 63.622.939.000 VNĐ, đây là dây chuyền hiện có duy nhất tại Việt
Nam. Quy trình sản xuất hoàn toàn tự động, tuy mới đi vào sản xuất nhưng đã đem lại
doanh thu khá cao cho công ty...
Vải mành và Vải không dệt tuy có ưu thế là đơn vị duy nhất ở Việt Nam sả
n xuất hai
mặt hàng này, được đằu tư trang thiết bị và dây chuyền sản xuất hiện đại nhưng còn gặp
nhiều trở ngại như: chịu áp lực của hàng ngoại nhập với giá thành hạ, sự biến động của giá
dầu mỏ trên thế giới và việc cắt giảm sản lượng lắp giáp xe máy dẫn đến giảm sản lượng
tiêu thụ lốp xe... Tuy nhiên cũng có những d
ấu hiệu đáng mừng cho sản phẩm vải địa kỹ
thuật vì hệ thống giao thông phát triển trên khắp đất nứơc từ nông thôn đến thành thị, hệ
thống đê kè thuỷ lợi cũng ngày được quan tâm áp dụng những kỹ thuật cao... Đứng trước
thực tế đó công ty đã không ngừng tìm hiểu xu thế của thị trường để nắm bắt thông tin,
khảo sát tìm nguồn nguyên liệu tốt để hạ giá thành sản phẩm, nghiên cứu thị hiếu của
khách hàng để đưa ra các sản phẩm mới phù hợp hơn... Song song với việc nâng cao hiệu
quả của công tác sau đầu tư, công tác tổ chức cũng luôn được công ty quan tâm, đổi mới. 14
• Công tác tổ chức: để thích ứng cao hơn với cơ chế thị trường và để phù hợp với trình
độ phát triển của khoa học kỹ thuật công ty đã luôn cố gắng để hoàn thiện cơ cấu lao
động của mình như:
- Tinh gỉam lao động, xây dựng bộ máy quản lý gọn nhẹ, hiệu quả
- Phân công lao động hợp lý đúng người đúng việc.
- Nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên như: Nhân viên văn phòng không dưới
trình độ Trung cấp; Công nhân trực tiếp sản xuất phải có tay nghề trình độ nhất định và say
mê công việc; Nhân viên kỹ thuật phải có tay mghề cao được đào tạo từ những trường CĐ,
ĐH có chất lượng.Thực tế trong những năm gần đây cán bộ kỹ thuật của công ty được
sẽ giảm thiểu các rủi ro khi đưa ra quyết định sản xuất kinh doanh. Ví dụ như Vải
không dệt hiện là một sản phẩm mới của công ty và cũng là sản phẩm lần đầu tiên được
sản xuất trong nước, để sản phẩm của mình có thể thay thế hàng ngoại nhập thì công ty
đã phải thu thập thông tin về thị trường, phân tích, xử lý để đưa ra chính sách về chất
lượng và giá cả hợp lý .... đó cũng là một phần công nghệ
Như đã nói ở trên công nghệ luôn phát triển cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
kỹ thuật. Tuy nhiên trình độ phát triển của nó trong từng ngành lại có sự khác nhau, vì mỗi
ngành lại bị chi phối bởi môi trường kinh doanh khác nhau nên lại có chỉ tiêu đánh giá
riêng. Mỗi công nghệ sản xuất sản xuất sản phẩm lại có sự đánh giá khác nhau tuỳ thuộc
vào tính chất, đặc thù của từng sản phẩm.
IV- Cơ cấu sản xuất của công ty:
Là một đơn vị sản xuất kinh doanh nên bộ phận sản xuất trong công ty được chia
làm ba phận chủ yếu: Bộ phận sản xuất chính; Bộ phận sản xuất phụ và Bộ phận phụ trợ.
Các bộ phận tác động qua lại hỗ trợ cho nhau thành một hệ thống không thể tách rời.
• Bộ phận sản xuất chính: Bộ phận sản xuất chính bao gồm các phân xưởng trực tiếp sản
xuất
- Phân xưởng sợi: Có nhiệm vụ kéo sợi để cung cấp cho các phân xưởng dệt.
- Phân xưởng dệt: Có nhiệm vụ dệt thành các mảnh vải theo mẫu mã kích thước của phòng
kỹ thuật đưa xuống.
- Phân xưởng nhúng keo:Có nhiệm vụ đưa những mảnh vải đã được dệt xong nhúng vào
dung dịch keo và đưa vào nhập kho.
- Phân xưởng may: Có nhiệm vụ may các sản phẩm theo mẫu mã kích thước của phòng kỹ
thuật đưa xuống.
- Phân xưởng vải không dệt: có nhiệm vụ sản xuất ra những tấm vải không dệt theo kích
thước, mẫu mã và đóng gói theo quy định.
• Bộ phận sản xuất phụ:
-Phân xưởng chuẩn bị: Có nhiệm vụ chuẩn bị nguyên liệu cho phân xưởng dệt.
• Bộ phận phụ trợ:
- Trạm điện: Cung cấp điện năng cho sản xuất và sửa chữa máy móc bị hỏng.
- Xưởng cơ khí: Có nhiệm vụ sửa chữa các máy móc thiết bị khi có sự cố và trong điều
Phòng Gian hng Nh xe
Bảo Vệ giới thiệu
sản
phẩm
Nh kho
P.
B.
V
Xí nghiệp Mnh- Nhúng Keo
Phân xưởng Mnh Xí nghiệp Bạt
Nh
PC
CC
17
- Phòng Sản xuất - Kinh doanh
- Phòng Kỹ thuật - Đầu tư
- Phòng Bảo vệ quân sự
- Phòng dịch vụ đời sống
• Cấp xí nghiệp : Công ty gồm có bốn xí nghiệp thành viên:
- Xí nghiệp Mành- Nhúng keo
- Xí nghiệp Bạt
- Xí nghiệp Vải không dệt
- Xí nghiệp May
Mỗi xí nghiệp đều có các giám đốc và phó giám đốc thực hiện chức năng quản lý và chức
năng kỹ thuật đảm bảo sản xuất ổn định. Nhìn tổng quát cấp xí nghiệp gồm có: Phòng
quản lý; Phòng kỹ thuật và Các tổ sản xuất.
2. Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận quản lý trong công ty:
Trong công ty tuỳ theo trách nhiệm và lĩnh vực cụ thể mà các thành viện trong ban giám
đốc, các phòng ban chức năng, cũng như giám đốc các xí nghiệp có chức năng và nhiệm vụ
khác nhau nhưng lại phối hợp chặt chẽ vơí nhau để đảm bảo cho sự hoạt động của công ty
được nhịp nhàng ăn khớp.
• Giám đốc công ty là người nắm quyền hành cao nhất và chịu trách nhiệm giám sát,
điều hành mọi hoạt động của công ty, đồng thời chịu trách nhiệm trước cấp trên về
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
• Phó giám đốc có nhiệm vụ cố vấn trợ giúp cho giám đốc công ty trong công tác chỉ
huy và điều hành các hoạt động của công ty, cụ thể như sau:
*Phó giám đốc Kỹ thuật sản xuất: Là người chỉ đạo trực tiếp các công tác
kỹ thuật như: công nghệ sản xuất sản phẩm, máy móc thiết bị, kiểm tra chất lượng
nguyên, nhiên vật liệu đầu vào , chất lượng sản phẩm đầu ra. Phó giám đốc kỹ thuật
sản xuất phụ trách các phòng: Sản xuất-Kinh doanh-Xuất nhập khẩu; Phòng Kế toán-
Tài chính; Phòng Kỹ thuật- Đầu tư.
* Phó giám đốc tổ chức hành chính: Là người chỉ đạo trực tiếp các công việc
về tổ chức hành chính như tuyển dụng, đào tạo lao động, chănm lo đời sống cán bộ
công nhân viên và phụ trách các phòng: Tổ chức hành chính; Phòng Bảo vệ; Phòng
doanh về mua bán nguyên vật liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đâù ra.
3. Đánh giá bộ máy tổ chức quản lý của công ty:
Với mô hình quản lý trực tuyến chức năng, các chức năng trong công ty được
chuyên môn hoá cao. Mỗi phòng ban có nhiệm vụ riêng nhưng không rời rạc mà liên kết
thành một hệ thống không thể tách rời. Những quyết định ở các phòng ban chỉ có hiệu lực
khi đã thông qua giám đốc hoặc được giám đốc uỷ quyền. Trong những năm gần đây để
phù hợp với nền kinh tế thị trường công ty đã liên tục thực hiện công tác tinh giảm, sàng
lọc lao động, giảm thiểu lao động gián tiếp, xây dựng bộ máy quản lý gọn nhẹ, linh hoạt... 20
Công tác này cần được tiếp tục phát huy trong những năm tới nhất là vào năm 2005 nước
ta ra nhập Tổ chức thương mại thế giới và 2005 ra nhập khối mậu dịch tự do ASEAN. Tuy
nhiên công ty cũng cần phải quan tâm hơn nữa tới công tác đào tạo cán bộ quản lý vì hiện
tại cán bộ quản lý trong công ty có trình độ ĐH, trên ĐH và CĐ còn hạn chế.
Bộ máy tổ chức quản lý của công ty được mô tả như sau:
PHẦN II
QUẢN TRỊ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG I: CÔNG TÁC HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC
CỦA CÔNG TY DỆT VẢI CÔNG NGHIỆP
I-Lý luận chung về chiến lược và kế hoạch phát triển doanh nghiệp: 22
Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước mọi doanh nghiệp phải hoàn
toàn tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình. Mặt khác mỗi doanh nghiệp là một phân hệ kinh tế
mở trong nền kinh tế quốc dân và từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới,
điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp không chỉ chú trọng đến thực trạng và xu thế biến động
của môi trường kinh doanh trong nước mà còn tính đến cả tác động tích cực cũng như tiêu
a) Môi trường kinh tế: Có vai trò quan trọng hàng đầu và ảnh hưởng có tính quyết
định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp.Khi phân tích môi trường
nền kinh tế quốc dân ta cần phân tích những vấn đề sau:
a,ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế: Nếu nền kinh tế quốc dân tăng trưởng với tốc độ cao
tức thu nhập của người dân tăng, mức cầu về sản lượng hàng hoá và dịch vụ tăng lên điều
này sẽ kích thích sức sản xuất của doanh nghiệp, đầu tư mở rộng kinh doanh,da dạng hoá
sản phẩm từ đó tạo khả năng tích luỹ vốn nhiều hơn ,tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
còn khi nền kinh tế quốc dân ổn định các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cũng
giữ ở mức ổn định. Nếu n
ền kinh tế quốc dân rơi vào tình trạng suy thoái nó sẽ làm giảm
sức cầu giảm khả năng thanh toán của người tiêu dùng điều này kéo theo hậu quả xấu cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ gía
hối đoái...cũng ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, có thể gây bất lợi hoặc
cũng có thể tạo ra cơ hội mới cho doanh nghiệp.
b) Tác động của các nhân tố luật pháp và quản lý nhà nước về kinh tế:
Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh hay không lành mạnh hoàn toàn phụ
thuộc vào yếu tố luật pháp và quản lý nhà nước về kinh tế. Việc ban hành hệ thống pháp
luật có chất lượng và đưa vào đời sống là điều kiện đầu tiên đảm bảo môi trường kinh
doanh bình đẳng, tạo điều kiện cho mọi doanh nghiệp có cơ hội cạnh tranh lành mạnh.
Phân tích sự ổn định hay không ổn định về chính trị, sự thay đổi luật pháp doanh
nghiệp sẽ phán đoán những cơ hội hay những nguy cơ sẽ xảy ra trong tương lai. Các chính
sách đầu tư, chính sách phát triển kinh tế, chính sách cơ cấu...sẽ tạo ra sự ưu tiên hay kìm
hãm sự phát triển của doanh nghiệp.
c) Tác động của những nhân tố kỹ
thuật công nghệ:
Trong phạm vi môi trường kinh tế quốc dân, nhân tố kỹ thuật công nghệ đóng vai
trò ngày càng quan trọng, mang tính chất quyết định đối với khả năng cạnh tranh, hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp. Trong xu thế toàn càu hoá nền kinh tế hiện nay, sự phát triển
nhanh chóng mọi lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ đều tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh
doanh của mọi doanh nghiệp liên quan. Với trình độ
25
2, Tác động của môi trường cạnh tranh ngành:
Nguy cơ các đối thủ cạnh tranh mới
KN ép giá
khả năng ép giá Nguy cơ bị các sản phẩm thay thế
a, Khách hàng:
Khách hàng của doanh nghiệp là những người có cầu về sản phẩm, dịch vụ do
doanh nghiệp cung cấp. Đối với mọi doanh nghiệp, khách hàng không chỉ là các khách
hàng hiện tại mà phẩi tính đến cả những khách hàng tiềm ẩn. Khách hàng là ngưòi tạo ra
lợi nhuận, tạo ra sự thắng lợi của doanh nghiệp. Cầu về sản phẩm và dịch vụ là yếu tố đầu
tiên ảnh hưởng có tính quyết định đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong một
thời kỳ nhất định, số cầu vừa tác động trực tiếp đến việc nghiên cứu quyết định cung của
doanh nghiệp, lại vừa tác động đến mức
độ va cường độ canh tranh giữa các doanhnghiệp
cùng ngành. Thị hiếu của khách hàng cũng như các yêu cầu cụ thể của khách hàng về chất
lượng sản phẩm, tính nhạy cảm của khách hàng về giá cả,... đều tác động trức tiếp có tính