Tài liệu Chương I: Hoạt Động Tín Dụng Trung và Dài Hạn Của Ngân Hàng Thương mại - Pdf 91

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Chương I
Hoạt Động Tín Dụng Trung và Dài Hạn Của Ngân Hàng
Thương mại
1.1 Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng đã ra đời từ lâu và trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều hình
thức khác nhau. vậy tín dụng là gì ?
Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ rất lâu đời trong xã hội loài người. Tín
dụng theo nghĩa la tinh là creditim, sự tín nhiệm, tin tưởng tên gọi này xuất phát
từ bản chất của quan hệ tín dụng. Trong quan hệ tín dụng người cho vay sẽ cho
người cần vốn vay theo các điều kiện đã được thoả thuận trước như thời gian cho
vay, thời gian hoàn trả, lãi suất tín dụng ..vv. Trong quan hệ đó người cho vay tin
tưởng rằng người đi vay sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích, đúng các thoả thuận,
làm ăn có lãi và có khả năng hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn .
Mặc dù có thể diễn giải tín dụng bằng những từ ngữ khác nhau, song chúng ta
có thể hiểu một cách đơn giản nhất, tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc
hoàn trả cả vốn lẫn lãi giữa người đi vay và người cho vay .
Có thể định nghĩa tín dụng như sau :
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng,
một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, cá
nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là
người cho vay.
Hiện nay, ngân hàng thương mại là người cho vay lớn nhất đối với các tổ
chức kinh tế, và dân cư. Với tư cách là tổ chức huy động để cho vay, ngân hàng
đã góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức kinh tế, các thương nhân giúp
họ có thêm vốn để bổ sung vào hạt động sản xuất kinh doanh, tận dụng được cơ
hội làm ăn tăng lợi nhuận cho chính mình .
Ninh Xu©n §iÖp Líp: Tµi chÝnh doanh
nghiÖp 41D 1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

trường. Hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho một ngân hàng
thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng
trong sự phát triển kinh tế xã hội, là trung gian chuyển vốn từ người có vốn tạm
thờ nhàn rỗi sang người thiếu vốn để đầu tư, Ngay từ buổi ban đầu, hoạt động của
ngân hàng thượng mại đã tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho
vay để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt về vốn của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế
trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc nhu càu tiêu dùng cá nhân. Trong quá
trình phát triển, mặc dù môi trường kinh doanh có nhiều thay đổi, nhiều phương
pháp, sản phẩm mới, công cụ kinh doanh mới xuất hiện và được ứng dụng vào
kinh doanh song hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ bản, chiếm tỷ trọng
lớn trong toàn bộ các hoạt động của ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay
thường chiếm trên 70% tổng tài sản có. Lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng
thường chiếm tỷ lệ cao, ở các nước phát triển khoảng 60% trên tổng lợi nhuận
của ngân hàng. ở nước ta trong giai đoạn hiện nay chiếm khoảng 90% lợi nhuận.
Điều này thể hiện rõ hoạt động tín dụng là hoạt động quan trong bậc nhất của một
ngân hàng thương mại.
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng
được phát triển một cách đa dạng với sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế, theo
đó quan hệ tín dụng cũng được mở rộng cả về đối tượng và quy mô làm cho hoạt
động tín dụng ngân hàng càng đa dạng và phức tạp hơn. Hiện nay, các doanh
nghiệp đang hoạt động trong môi trường cạnh tranh hết sức gay gắt, ngân hàng
cũng không nằm ngoài xu thế đó .Để ngân hàng thương mại có thể đứng vững
trong điều kiện cạnh tranh thị trường gay gắt và phục vụ nền kinh tế ngày càng
tốt hơn, đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải đa dạng hoá hoạt động kinh
doanh của mình, mở rộng phạm vi hoạt động , nghiên cứu và đưa nhiều sản phẩm
mới vào phục vụ khách hàng , và đặc biệt là nầng cao chất lượng tín dụng của
ngân hàng thích ứng tốt với tình hình mới.
b. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Ninh Xu©n §iÖp Líp: Tµi chÝnh doanh

Muốn thực hiện được kế hoạch đó cần phải có vốn. Tín dụng ngân hàng góp phần
đáp ứng điều đó. Ngân hàng cung cấp cho các ngành thực hiện đầu tư theo cả
chiều rộng và chiều sâu, hình thành các ngành sản xuất mũi nhọn, xây dựng cơ
cấu kinh tế hợp lý và khai thác triệt để các nguồn lực, điều này thể hiện qua việc
Ninh Xu©n §iÖp Líp: Tµi chÝnh doanh
nghiÖp 41D 4
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
cấp tín dụng cho các dự án, chương trình phát triển để khuyến khích đẩy nhanh
tốc độ dịch chuyển cơ cấu kinh tế.

Tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả tới sản xuất, thúc đẩy cạnh
tranh trong nền kinh tế thị trường.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ, doanh nghiệp cần
vốn đầu tư máy móc thiết bị và luôn phải đổi mới công nghệ... tín dụng ngân
hàng đáp ứng được yêu cầu đó với điều kiện phải hoàn trả cả vốn vay và lãi ; nếu
vi phạm hợp đồng tín dụng, doanh nghiệp phải chịu phạt như chịu lãi suất nợ quá
hạn cao, mất quyền sử dụng tài sản thế chấp...do vậy, doanh nghiệp luôn phải
nâng cao hiệu quả sản xuất, cạnh tranh trên thị trường để kinh doanh có lãi, thu
hồi vốn đầu tư trả nợ cho ngân hàng.

Tín dụng ngân hàng góp phần tích cực vào sự phát triển các công ty cổ
phần.
Để thành lập công ty cổ phần đòi hỏi phải có một số vốn ban đầu do các cổ
đông đóng góp và ngân hàng có thể là một cổ đông lớn. Trong quá trình hoạt
động việc phát hành cổ phần mới thông qua ngân hàng là một biện pháp hữu hiệu
tiết kiệm được một phần chi phí và thời gian .
Hiện nay, nhà nước ta đang có chủ chương cổ phần hoá doanh nghiệp ,
ngân hàng cần phải có kế hoạch để tham gia nhiều hơn vào các công ty cổ phần
nhằm thực hiện chính sách vĩ mô của nhà nước và đa dang hoá các hoạt động
giảm rủi ro.

Ngân hàng xét duyệt cho vay :
+ Trước tiên ngân hàng kiểm tra các điều kiện cho vay: Tư cách pháp nhân,
tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình dư nợ của doanh nghiệp, mức vốn tham
gia của đơn vị vay vốn, xem xét mục tiêu kinh tế xã hội, khả năng thực thi, nguồn
cung cấp nguyên vật liệu, nguồn nhân lực, hướng tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả
kinh tế, khả năng hoàn trả vốn vay của khách hàng ..vv.
+ Thẩm định dự án xin vay: Đây là một mắt xích quan trọng trong quá trình
cho vay. Thực chất của quá trình này là dùng một số kỹ thuật phân tích, đánh giá
toàn bộ các vấn đề, các phương tiện được trình bầy trong dự án theo một số tiêu
chuẩn kinh tế kỹ thuật và theo một trình tự hợp lý, chặt chẽ nhằm rút ra những kết
luận chính xác về giá trị của dự án. Từ đó ngân hàng sẽ có quyết định cho vay
đúng mức, phù hợp với các dự tính của mình.
Ninh Xu©n §iÖp Líp: Tµi chÝnh doanh
nghiÖp 41D 6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Muốn đạt được kết quả như mong muốn về thẩm định một dự án xin vay vốn
thì phải tuân thủ quy trình thẩm định, nghĩa là phải đi từ khâu thu thập thông tin
cần thiết cho việc đánh giá dự án xin vay vốn, xử lý thông tin bằng nhưng phương
pháp thẩm định thích hợp và đi đến những kết lụân cụ thể, xác đáng được ghi
trong tờ trình thẩm định dự án xin vay vốn .


xác định mức cho vay : để xác định định mức tổng số tiền cho vay đối với
một dự án, ngân hàng cho vay phải căn cứ vào các toán đầu tư, nhu cầu vay vốn
của khách hàng, khả năng cung cấp vốn của ngân hàng, giá trị đảm bảo của tài
sản cho vốn vay hoặc khả năng tài chính của bên bảo lãnh vốn vay
Tổng số tiền cho vay tối đa = Nhu cầu đầu tư - Các nguồn khác tham gia tài trợ


Ký hợp đồng tín dụng : Hợp đồng tín dụng là một văn bản được ký kết

cạnh tranh là một tất yếu khách quan, sản xuất hàng hoá càng phát triển thì cạnh
tranh càng gay gắt. Cạnh tranh diễn ra trên 3 phương diện chủ yếu: chất lượng,
giá cả và số lượng, trong đó chất lượng là yếu tố quan trọng hàng đầu, tạo điều
kiện nâng cao tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường. Có nhiều quan niệm về chất lượng sản
phẩm như chất lượng là phù hợp với mục đích sử dụng hoặc là một trình độ dự
kiến trước về độ đồng đều và độ tin cậy với chi phí thấp phù hợp với thị trường.
Theo hiệp hội tiêu chuẩn Pháp thì chất lượng là năng lực của một sản phẩm hoặc
một dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng.
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu : chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng
một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng (người gửi tiền và người vay tiền)
trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn hay hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi
nhuận của ngân hàng, phù hợp và phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội.
* Xét trên góc độ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì chất lượng tín dụng
là khoản tín dụng được bảo đảm an toàn, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với
chính sách tín dụng của ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn, đem lại lợi
nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh tranh của
ngân hàng trên thị trường, làm lành mạnh các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng
trưởng và phát triển.
* Xét trên góc độ lợi ích của khách hàng thì khoản tín dụng có chất lượng là phù
hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục
tín dụng đơn giản, thuận tiện, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo
được nguyên tắc tín dụng.
Ninh Xu©n §iÖp Líp: Tµi chÝnh doanh
nghiÖp 41D 8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
* Đối với nền kinh tế, khoản tín dụng có chất lượng phải hỗ trợ cho hoạt động
kinh doanh, tiêu dùng hợp pháp, góp phần phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá,
giải quyết công ăn việc làm, xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, khai thác
khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn
cho sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng

√ Tỷ trọng từng loại tiền gửi trên tổng nguồn vốn huy động: Trong tổng
nguồn vốn huy động của ngân hàng gồm nhiều khoản được hình thành từ các
nguồn tiền gửi khác nhau. Mỗi loại tiền gửi có các mức lãi suất khác nhau, Chỉ
tiêu này xác định kết cấu của nguồn vốn huy động và hình thành nên chi phí vốn
bình quân. Ngân hàng sẽ dựa trên cơ sở lãi suất từng nguồn huy động để phát
hiện mặt mạnh, mặt yếu của ngân hàng trong kinh doanh. Nếu ngân hàng có tỷ
trọng tiền gửi không kỳ hạn cao, ngân hàng đó sẽ có nhiều thuận lợi trong việc
tạo ra lợi nhuận vì tiền gửi không kỳ hạn có mức lãi suất thấp. Ngược lại ngân
hàng nào có tỉ lệ tiền gửi với lãi suất cao chiếm tỷ trọng lớn sẽ gặp khó khăn
trong việc giải quyết đầu ra của nguồn vốn do chi phí vốn tăng cao .
√ Tổng dư nợ: Đây là chỉ tiêu hết sức quan trọng. Nếu tổng vốn huy động
phản ánh đầu vào thì tổng dư nợ của ngân hàng phản ánh đầu ra của vốn huy
động. Nó cho biết ngân hàng cho vay được nhiều hay ít. Khoản tiền ngân hàng
cho các tổ chức kinh tế và các chủ thể khác vay mà lớn chứng tỏ ngân hàng đã tạo
được uy tín với khách hàng, cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng, phong phú, phù hợp
và được khách hàng ưa dùng, tham gia vào nhiều nghiệp vụ thanh toán. Ngược
lại chứng tỏ ngân hàng hoạt động kém, khả năng cho vay thấp, vốn ứ đọng nhiều.
Khi nghiên cứu mối liên hệ giữa đầu vào và đầu ra về mặt vốn của một ngân hàng
người ta đưa ra chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn vay.
Tổng dư nợ
Hiêu suất sử dụng vốn vay = -------------------------
Tổng vốn huy động
Ninh Xu©n §iÖp Líp: Tµi chÝnh doanh
nghiÖp 41D 10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của ngân hàng
với khả năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy
động. Chưa thể nói được chỉ tiêu này càng lớn hay càng thấp là tốt, vì nếu tiền gửi ít
hơn tiền vay thì ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn có chi phí cao hơn, nếu tiền gửi
nhiều hơn tiền vay, ngân hàng sẽ thừa vốn, số vốn thừa coi như lỗ. Tuy nhiên nếu

Nợ quá hạn trên 1 năm
Nợ quá hạn khó đòi = --------------------------------------
Tổng dư nợ
Nếu tỉ lệ này cao có nghĩa ngân hàng không những phải gánh chịu rủi ro tín
dụng cao, chất lượng tín dụng kém mà ngân hàng còn có thể nguy cơ mất khả
năng thanh toán. Việc đòi nợ đối với những khoản vay này là rất khó khăn và tổn
thất là điều rất có thể xảy ra.
b, Nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn
Đối với tín dụng trung, dài hạn, áp dụng những chỉ tiêu trên có những chỉ
tiêu sau để đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn.
Dư nợ tín dụng trung dài hạn
Chỉ tiêu dư nợ = ----------------------------------
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này cho thấy biến động tỷ trọng dư nợ tín dụng trung dài hạn trong
tổng dư nợ tín dụng qua từng thời kỳ. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ mức độ phát
triển nghiệp vụ này càng lớn, mối quan hệ ngân hàng với khách hàng có uy tín.
Nợ quá hạn tín dụng trung dài hạn
Chỉ tiêu nợ quá hạn = -----------------------------------------
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn
Nợ khó đòi trung dài hạn
Nợ quá hạn khó đòi = --------------------------------
Tổng dư nợ trung dài hạn
Ninh Xu©n §iÖp Líp: Tµi chÝnh doanh
nghiÖp 41D 12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Nợ khê đọng trung dài hạn
Nợ quá hạn khê đọng = ---------------------------------
Tổng dư nợ trung dài hạn
- Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận từ tín dụng trung dài hạn

động tín dụng của ngân hàng phát triển, chất lượng tín dụng được nâng cao.
Ngược lại trong thời kỳ suy thoái kinh tế, sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, đầu tư,
tiêu dùng giảm sút, lạm phát cao, nhu cầu tín dụng giảm, vốn tín dụng đã thực
hiện cũng khó có thể sử dụng có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng.
Hoạt động tín dụng ngân hàng giảm sút về quy mô và chất lượng.
Mức độ phù hợp giữa lãi suất ngân hàng với mức lợi nhuận của doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân cũng ảnh
hưởng đến chất lượng tín dụng, lợi tức của ngân hàng thu được bị giới hạn bởi lơị
nhuận của doanh nghiệp sử dụng vốn vay ngân hàng, nên với mức lãi suất cao các
doanh nghiệp vay vốn ngân hàng không có khả năng trả nợ ảnh hưởng tới sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và tới toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Hoạt động tín dụng ngân hàng lúc này không còn là đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất
kinh doanh phát triển và chất lượng tín dụng cũng giảm sút.
Ngoài ra những sự biến động về lãi suất thị trường, tỷ giá thị trường cũng
ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất của ngân hàng. Bài học từ cuộc khủng hoảng tài
chính Đông Nam á đã cho thấy sự mất giá của đồng nội tệ ảnh hưởng trực tiếp
đến hoạt động tín dụng ngân hàng.
Ninh Xu©n §iÖp Líp: Tµi chÝnh doanh
nghiÖp 41D 14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1.2.3.2 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý được hiểu là một hệ thống luật và văn bản pháp quy liên
quan đến hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng.
Trong nền kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước, pháp luật có vai trò
quan trọng, là một hàng rào pháp lý tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng
thuận lợi, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế, nhà nước, cá
nhân công dân, bắt buộc các chủ thể phải tuân theo.
Nhân tố pháp lý ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, đó là sự đồng bộ thống
nhất của hệ thống pháp luật, ý thức tôn trọng chấp hành nghiêm chỉnh những quy
định của pháp luật và cơ chế đảm bảo cho sự tuân thủ pháp luật một cách nghiêm

dụng. Bất cứ ngân hàng nào muốn có chất lượng tín dụng cao đều phải có chính sách
tín dụng phù hợp với điều kiện của ngân hàng, của thị trường.

Công tác tổ chức của ngân hàng:
Khả năng tổ chức của ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng.
tổ chức ở đây bao gồm tổ chức các phòng ban, nhân sự và tổ chức các hoạt động
trong ngân hàng. Ngân hàng có một cơ cấu tổ chức khoa học sẽ đảm bảo được sự
phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cán bộ, nhân viên, các phòng ban trong
ngân hàng, giữa các ngân hàng với nhau trong toàn bộ hệ thống cũng như với các
cơ quan khác liên quan đảm bảo cho ngân hàng hoạt động nhịp nhàng, thống nhất
có hiệu quả, qua đó sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu khách hàng, theo
dõi quản lý chặt chẽ sát sao các khoản vốn huy động cũng như các khoản cho
vay, từ đó nâng cao hiệu quả tín dụng.

Chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng:
Chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng là yêu cầu hàng đầu đối với
mỗi ngân hàng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động và khả năng
Ninh Xu©n §iÖp Líp: Tµi chÝnh doanh
nghiÖp 41D 16
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
tạo lợi nhuận của ngân hàng. Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại
trong quản lý vốn tín dụng nói riêng và hoạt động của ngân hàng nói chung. Kinh
tế càng phát triển, các quan hệ kinh tế càng phức tạp, cạnh tranh ngày càng gay
gắt, đòi hỏi trình độ của người lao động càng cao. Đội ngũ cán bộ ngân hàng có
chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có đạo đức, có năng lực sẽ là điều kiện tiền đề để
ngân hàng tồn tại và phát triển. Nếu chất lượng con người tốt thì họ sẽ thực hiện
tốt các nhiệm vụ trong việc thẩm định dự án, đánh giá tài sản thế chấp, giám sát
số tiền vay và có các biện pháp hữu hiệu trong việc thu hồi nợ vay, hay xử lý các
tình huống phát sinh trong quan hệ tín dụng của ngân hàng giúp ngân hàng có thể
ngăn ngừa, hoặc giảm nhẹ thiệt hại khi những rủi ro xảy ra trong khi thực hiện

cấp thông tin, đến cơ sở của khách hàng trực tiếp xem xét, thông tin từ hồ sơ xin
vay vốn. Thông tin càng đầy đủ, chính xác và kịp thời, toàn diện thì khả năng
ngăn ngừa rủi ro càng lớn, chất lượng tín dụng càng cao.

Kiểm soát nội bộ:
Thông qua kiểm soát giúp lãnh đạo ngân hàng nắm được tình hình hoạt động
kinh doanh đang diễn ra, những thuận lợi, khó khăn việc chấp hành những quy
định pháp luật, nội quy, quy chế, chính sách kinh doanh , thủ tục tín dụng từ đó
giúp lãnh đạo ngân hàng có đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp giải quyết
những khó khăn vướng mắc, phát huy những nhân tố thuận lợi, nâng cao hiệu quả
kinh doanh. Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định,
thể lệ, chính sách và mức độ kịp thời phát hiện sai sót cũng như nguyên nhân dẫn
đến sai sót lệch lạc trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng

Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng:
Trang thiết bị tuy không phải là yếu tổ cơ bản nhưng góp phần không nhỏ
trong việc nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nó là công cụ, phương
tiện thực hiện tổ chức, quản lý ngân hàng kiểm soát nội bộ, kiểm tra quá trình sử
Ninh Xu©n §iÖp Líp: Tµi chÝnh doanh
nghiÖp 41D 18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
dụng vốn vay, thực hiện các nghiệp vụ giao dịch với khách hàng. Đặc biệt, với sự
phát triển như vũ bão về công nghệ thông tin hiện nay các trang thiết bị tin học đã
giúp cho ngân hàng có được thông tin và xử lý thông tin nhanh chóng, kịp thời,
chính xác, trên cơ sở đó có quyết định tín dụng đúng đắn, không bỏ lỡ thời cơ
trong kinh doanh giúp cho quá trình quản lý tiền vay và thanh toán được thuận
tiện nhanh chóng và chính xác.
1.2.3.4 Các nhân tố thuộc về phía khách hàng
Để đảm bảo khoản tín dụng xử dụng có hiệu quả, mang lại lợi ích cho ngân
hàng góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội thì khách hàng có

nước ra các nước trong khu vực và thế giới. Sự hình thành mạng lưới hoạt động
phức tạp như thế đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự tổ chức sản xuất và tiêu thụ
hợp lý . Tổ chức tốt việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là yếu tố giúp quá trình tái
sản xuất diễn ra được thông suốt, nhanh chóng, tăng khả năng quay vòng vốn, tiết
kiệm chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp là sự đảm bảo cho ngân hàng nâng cao chất lựơng tín dụng .

Vốn khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Có nhiều nhóm chỉ tiêu khác nhau biêủ hiện tình hình tài chính, khả năng độc
lập tài chính của doanh nghiệp như nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm
chỉ tiêu hoạt động, nhóm chỉ tiêu cơ cấu vốn, nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận. Ngoài
ra khi xem xét về tình hình tài chính ngân hàng còn quan tâm đến luồng tiền vào,
luồng tiền ra, dự trữ ngân quỹ ..vv. Khả năng tài chính tốt là điều kiện để doanh
nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư mua sắm thiết bị tiên tiến, sản
xuất sản phẩm có chất lượng cao, chiếm lĩnh thị trường và đem laị lợi nhuận lớn,
hoạt động tốt là điều kiện để doanh nghiệp trả nợ cho ngân hàng .

Tư cách, đạo đức của người vay. Tư cách đạo đức xét trên phương diện ý
muốn hoàn trả khoản nợ vay, trong nhiều trường hợp người vay có ý muốn chiếm
đoạt vốn, không hoàn trả nợ vay mặc dù có khả năng trả nợ, điều này đã gây ra
những rủi ro không nhỏ cho ngân hàng.
Ninh Xu©n §iÖp Líp: Tµi chÝnh doanh
nghiÖp 41D 20
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Tóm lại qua việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ta
thấy tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện về pháp lý của từng nước mà
những nhân tố này có ảnh hưởng khác nhau đến chất lượng tín dụng. Vấn đề là
phải nắm vững những nhân tố ảnh hưởng và vận dụng sáng tạo trong điều kiện
hoàn cảnh cụ thể thì sẽ nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Ninh Xu©n §iÖp Líp: Tµi chÝnh doanh

nghiÖp 41D 22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Ngày 14 tháng 11 năm 1990 chủ tịch hội đồng bộ trưởng ra quyết định thành
lập ngân hàng đầu tư và phát triển thay cho tên gọi cũ là ngân hàng Đầu tư và xây
dựng cơ bản trước đây. Bây giờ, ngân hàng có chức năng huy động vốn trung và
dài hạn trong và ngoài nước và nhận vốn từ ngân sách nhà nước cho vay các dự
án chủ yếu tronh lĩnh vực đầu tư và phát triển.
Giai đoạn 1991 đến 1997: Đây là giai đoạn ra đời và tìm hướng đi cho sở
giao dịch I NHĐT&PTVN.
Căn cứ vào quyết định 76/QĐ-TCCB ngày 28 tháng 3 năm 1991 của tổng
giám đốc ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam về việc thành lập sở giao dịch
ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam
Căn cứ vào Điều lệ hoạt động của ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
ban hành kèm theo quyết định 349QĐ/NH5 ngày 16 tháng 10 năm 1997 của
thống đốc ngân hàng nhà nước Việt nam. Trong thời gian này, sở giao dịch ngân
hảng đầu tư và phát triển Việt nam là một đơn vị phụ thuộc thực hiện cho vay,
nhận gửi từ trên xuống. Mọi hoạt động của sở giao dịch đều mang tính chất bao
cấp thực hiện theo chỉ thị (Sở giao dịch chủ yếu cho vay đối với các dự án phát
triển kinh tế do Ngân hàng đầu tư và phát triển trung ương chỉ định ), lỗ, lãi
không tự hạch toán và không tự chịu trách nhiệm. Chủ yếu do ngân hàng đầu tư
và phát triển trung ương đỡ đầu .
Giai đoạn từ 1998 đến nay: Đây là giai đoạn sở giao dịch có bước chuyển
biến lớn thực sự tách ra thành một ngân hàng hạch toán độc lập. Năm 1998-1999,
mặc dù đã được tách ra song sở giao dịch I vẫn thực hịên hạch toán phụ thuộc.
Trước 3/99 vẫn thực hiện cho vay với các bộ, ngành do chính phủ chỉ định, nhưng
sau tháng 3/99 thì có sự chuyển biến đáng kể, ngân hàng không còn cho vay theo
hình thức chính phủ chỉ định nữa mà dần chuyển sang cho vay thương mại.
Năm 2000, sở giao dịch I chính thức thực sự chuyển sang kinh doanh thương
mại, đến nay phần lớn là cho vay thương mại chỉ còn khoảng1000 tỷ cho tổng
công ty điện lực vay là cho vay theo hình thức chỉ định của chính phủ.

nghiệp 41D 25
Quản

Khách
Hàng
Phòn
g
Tín
dụng
Phòng
Hành
Chính
Kho
Quỹ
Phòn
g
Giao
Dịch
Phòn
g
Nguồ
n
Vốn
Kinh
Doan
Kiểm
Tra
Kiểm
Soát
Nội

h

Trích đoạn Cụng nghệ ngõn hàng cũn hạn chế về kĩ thuật so với một số ngõn hàng đứng đầu trong nước Bắt đầu từ việc chưa chuẩn hoỏ được hoạt động nghiệp vụ năng Cỏc giải phỏp về huy động vốn. Đa dạng hoỏ cỏc hỡnh thức cho vay và đầu tư trung và dài hạn nhằm phõn tỏn trỏnh rủi ro Nõng cao chất lượng thẩm định dự ỏn đầu tư: Tư vấn cho khỏch hàng về phương hướng sản xuất kinh doanh và thường xuyờn gần gũi hỗ trợ doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status