Tài liệu Luận văn Hoàn thiện quản lý vốn đầu tư Xây dựng cơ bản của Bảo hiểm xã hội Việt Nam - Pdf 91

Luận văn
Hoàn thiện quản lý vốn đầu tư
Xây dựng cơ bản của Bảo hiểm
xã hội Việt Nam
MỤC LỤC
Mở đầu..................................................................................................................................1
Chương 1: Lý luận cơ bản về vốn đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý vốn đầu tư xây
dựng cơ bản..........................................................................................................................4
1.1. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản...........................................................................................4
1.1.1. Thực chất vốn đầu tư xây dựng cơ bản..................................................................4
1.1.2. Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản.................................................................13
1.2. Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản...........................................................................15
1.2.1. Quy trình quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản....................................................13
1.2.2. Nội dung quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản....................................................19
1.3. Một số chỉ tiêu đánh giá trình độ quản lý vốn đầu tư XDCB và nhân tố ảnh hưởng tới
quản lý vốn đầu tư XDCB...................................................................................................27
1.3.1. Một số chỉ tiêu đánh giá trình độ quản lý vốn đầu tư XDCB..............................27
1.3.2. Nhân tố ảnh hưởng tới quản lý vốn đầu tư XDCB..............................................30
1.4. Tính tất yếu của việc hoàn thiện quản lý vốn đầu tư XDCB.......................................34
1.4.1. Vai trò của việc hoàn thiện quản lý vốn đầu tư XDCB.......................................34
1.4.2. Hoàn thiện quản lý vốn đầu tư XDCB giúp định hướng hoạt động đầu tư XDCB
..............................................................................................................................................35
Chương 2: Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của bảo hiểm xã hội
Việt Nam .............................................................................................................................37
2.1. Tổng quan về bảo hiểm xã hội Việt Nam ....................................................................37
2.1.1. Quá trình hình thành BHXH Việt Nam ...............................................................37
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, vị trí của bảo hiểm xã hội Việt Nam trong nền kinh tế thị
trường ..................................................................................................................................38

đã nhận được sự quan tâm của Đảng, của Chính phủ ngay từ những ngày đầu mới thành
lập. Cho đến nay đã hình thành 61 cơ quan BHXH ở 61 tỉnh thành trong cả nước, phạm vi
hoạt động của BHXH Việt Nam ngày càng được mở rộng, đem lại lợi ích không nhỏ cho
an toàn xã hội của đất nước nói chung và cho người lao động nói riêng.
Bên cạnh việc hoàn thiện các chính sách, BHXH Việt Nam ngày càng chú trọng
tới công tác đầu tư xây dựng, bao gồm: sửa chữa và xây dựng mới trụ sở làm việc, mua
sắm, lắp đặt trang thiết bị… đảm bảo điều kiện làm việc tốt nhất cho cán bộ ngành
BHXH.
Trong thời gian vừa qua, công tác quản lý vốn đầu tư XDCB của BHXH Việt
Nam vẫn còn kém, các nguyên nhân chủ yếu làm cho công tác quản lý vốn đầu tư XDCB
kém là: Bố trí kế hoach vốn đầu tư XDCB phân tán, dàn trải, kéo dài, bộ máy quản lý vốn
đàu tư XDCB không hiệu quả, năng lực yếu không đáp ứng được yêu cầu công việc,
thêm vào đó do đặc thù của vốn đầu tư xây dựng cơ bản (Vốn đầu tư XDCB) rất lớn, thời
gian đầu tư dài nên dễ dàng xảy ra tình trạng thất thoát vốn của nhà nước, vốn đầu tư
XDCB của ngành BHXH cũng không nằm ngoài đặc thù này. Đây chính là nguyên nhân
làm thất thoát vốn đầu tư XDCB của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến chất lượng cũng như
thời gian sử dụng của các công trình xây dựng cơ bản.
Để hoàn thiện quản lý vốn đầu tư XDCB của ngành BHXH, BHXH Việt Nam đã
soạn thảo một loạt các văn bản hướng dẫn quản lý và sử dụng vốn đầu tư XDCB như :
Văn bản số: 480/BHXH-KHTC ngày 30/5/1997 về việc: quản lý đầu tư xây dựng cơ bản,
Văn bản số: 1450/BHXH-KHTC ngày 03/11/1998 về việc Quản lý vốn XDCB bổ sung,
Văn bản số: 1363/BHXH-KHTC ngày 10/7/2000 về việc: Triển khai công tác đầu tư
XDCB năm 2000…Tuy nhiên, khi đưa vào triển khai thực hiện thì vẫn còn nhiều bất
cập.
Nhận thức được vấn đề này, cùng với mong muốn tìm hiểu và góp phần cung cấp
thông tin lý luận và thực tiễn cho các nhà quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản của
ngành Bảo hiểm xã hội, tác giả đã chọn đề tài: “Hoàn thiện quản lý vốn đầu tư Xây
dựng cơ bản của Bảo hiểm xã hội Việt Nam” mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng.
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn
-Khái quát hoá những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý vốn đầu tư XDCB nói

VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
1.1 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.1.1Thực chất vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.1.1.1Đầu tư, đầu tư xây dựng cơ bản dự án đầu tư, vốn đầu tư
Trong nền kinh tế thị trường, đầu tư được hiểu là việc bỏ vốn ra hôm nay để
mong nhận được kết quả lớn hơn trong tương lai. Kết quả mang lại đó có thể là hiệu quả
kinh tế xã hội.
Đầu tư trên giác độ nền kinh tế là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra các
tài sản mới cho nền kinh tế quốc dân của một nước, hoặc một vùng, một tỉnh, thành
phố...các hoạt động mua bán, phân phối lại, chuyển giao tài sản giữa các cá nhân, các tổ
chức không phải là đầu tư đối với nền kinh tế.
Đầu tư có thể tiến hành theo những phương thức khác nhau: đầu tư trực tiếp, đầu
tư gián tiếp.
- Đầu tư trực tiếp: Theo phương thức này người bỏ vốn đầu tư sẽ trực tiếp tham
gia quản lý trong quá trình đầu tư, quá trình quản lý kinh doanh khi đưa dự án vào khai
thác, sử dụng sau này. Đầu tư trực tiếp có hai hình thức:
+ Đầu tư dịch chuyển: là hình thức đầu tư mà ở đó chỉ liên quan đến việc tăng
hoặc giảm qui mô của từng nhà đầu tư cá biệt, nó không ảnh hưởng trực tiếp đến việc
tăng hoặc giảm qui mô vốn trên toàn xã
+ Đầu tư phát triển: là hình thức đầu tư mà ở đó có liên quan đến sự tăng trưởng
qui mô vốn của nhà đầu tư và qui mô vốn trên phạm vi toàn xã hội. Điển hình của đầu tư
phát triển là đầu tư vào khu vực sản xuất, dịch vụ, đầu tư vào yếu tố con người và đầu tư
vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội. Đó là quá trình chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện
vật để tạo nên những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh dịch vụ tạo ra cơ sở vật chất
kỹ thuật, năng lực sản xuất kinh doanh mới thông qua việc mua sắm lắp đặt thiết bị, máy
móc, xây dựng nhà cửa vật kiến trúc và tiến hành các công việc có liên quan đến sự phát
huy tác dụng của các cơ sở vật chất kỹ thuật do hoạt động của nó tạo ra.
- Đầu tư gián tiếp: là loại hình đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay
hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (mua trái phiếu chính phủ,
trái phiếu công trình, chứng khoán, trái khoán, gửi tiết kiệm...) hoặc lãi suất tùy thuộc vào

đầu tư. Theo quan điểm phổ biến hiện nay thì dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất
có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất
định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì cải tiến, nâng cao chất lượng
của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định.Một dự án đầu tư bao gồm
bốn vấn đề chính sau đây:
-Mục tiêu của dự án: Bao gồm mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài. Đó chính
là sự tăng trưởng phát triển về số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ hay các lợi ích kinh
tế xã hội khác cho chủ đầu tư hoặc các chủ thể xã hội khác.
-Các kết quả: Đó là các kết quả cụ thể, có thể định lượng được, được tạo ra từ các
hoạt động khác nhau của dự án. Đây là đIều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu
của dự án.
-Các hoạt động của dự án: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện
trong khuôn khổ dự án để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động
này gắn với một thời gian biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo
thành kế hoạch làm việc của dự án.
-Các nguồn lực của dự án: Đó chính là các nguồn lực về vật chất, tài chính và con
người cần thiết để tiến hành các hoạt động dự án. Các nguồn lực này được biểu hiện dưới
dạng giá trị chính là vốn đầu tư của dự án
Trình tự của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải
qua bắt đầu từ khi hình thành ý đồ về dự án đầu tư đến khi chấm dứt hoàn toàn các công
việc của dự án. Trình tự này được biểu diễn dưới sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Trình tự của dự án đầu tư
Việc phân loại dự án đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong quản lý dự án, đặc biệt là
đối với các cơ quan quản lý Nhà nước. Tuỳ theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư, dự
án đầu tư trong nước được phân chia theo Nghị định 52/1999/CP ngày 8/7/1999 của
Chính phủ về quy chế quản lý đầu tư và xây dựng. Theo đó người ta phân chia dự án đầu
tư theo 3 nhóm A,B,C để phân cấp quản lý. Đặc trưng của mỗi nhóm được qui định cụ thể
như sau:
Bảng 1: Phân loại dự án đầu tư
STT LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ TỔNG MỨC

thông nội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt.
Trên 400 tỷ đồng
5. Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới; các dự án: công nghiệp
nhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh, in; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, mua
sắm thiết bị xây dựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản,
chế biến nông, lâm sản.
Trên 300 tỷ đồng
6. Các dự án: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân
dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự
án khác.
Trên 200 tỷ đồng
II. NHÓM B
1. Các dự án: công nghiệp điện, dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy
(bao gồm cả mua và đóng tàu, lắp ráp ô tô), xi măng, luyện kim, khai
thác, chế biến khoáng sản; các dự án giao thông: cầu, cảng biển, sân bay,
đường sắt, đường quốc lộ.
Từ 30 đến 600 tỷ
đồng
2. Các dự án: thuỷ lợi, giao thông (khác ở điểm II.1), cấp thoát nước và công
trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử,
tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu,
bưu chính viễn thông, BOT trong nước, xây dựng khu nhà ở, trường phổ
thông, đường giao thông nội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi
tiết được duyệt.
Từ 20 đến 400 tỷ
đồng
3. Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới; các dự án: công nghiệp
nhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh, in; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, thiết
bị xây dựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến
nông, lâm sản.

1. Các dự án nhóm A về đường sắt, đường bộ phải được phân đoạn theo chiều dài đường,
cấp đường, cầu, theo hướng dẫn của Bộ Giao thông vận tải sau khi thống nhất với Bộ Kế hoạch và
Đầu tư.
2. Các dự án xây dựng trụ sở, nhà làm việc của cơ quan nhà nước phải thực hiện theo Quyết
định của Thủ tướng Chính phủ.
Nguồn: Nghị định 52/1999/CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ về quy chế quản lý đầu
tư và xây dựng phân chia các quy mô dự án đầu tư
Vốn đầu tư.
Trong cơ chế thị trường, để khai thác và phát huy đầy đủ các nguồn lực đầu tư
phát triển kinh tế - xã hội, khái niệm vốn được mở rộng về phạm vi và có các đặc trưng
cơ bản sau đây:
-Vốn được biểu hiện bằng giá trị nghĩa là vốn phải đại diện cho một loại giá trị
hàng hóa, dịch vụ, một loại giá trị hàng hóa nhất định. Vốn là đại diện về mặt giá trị cho
những tài sản hoạt động được dùng vào mục đích đầu tư kinh doanh để sinh lời. Tài sản
có nhiều loại: Hữu hình, vô hình, những tài sản nếu được giá trị hoá và đưa vào đầu tư thì
được gọi là vốn đầu tư.
- Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng không phải tất cả mọi nguồn tiền đều là
vốn. Tiền chỉ biến thành vốn khi nó được sử dụng vào mục đích đầu tư hoặc kinh doanh.
Tiền tiêu dùng hằng ngày, tiền dự trữ không có khả năng sinh lời không phải là vốn.
- Trong nền kinh tế thị trường, vốn là loại hàng hóa song nó là một loại hàng hóa
đặc biệt. Nó có điểm giống các loại hàng hóa khác là có chủ sở hữu nhất định về vốn,
người chủ sở hữu vốn chỉ chuyển quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định.
Chính nhờ sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đã làm cho vốn có khả
năng lưu thông và sinh lời.
- Vốn không chỉ là biểu hiện bằng tiền của các tài sản vật chất mà còn là của các
dạng tiềm năng và lợi thế vô hình. Tiềm năng và lợi thế vô hình chính là một nguồn vốn
to lớn, cần phải được huy động tích cực hơn nữa cho chu trình vận động của nền kinh tế.
Nếu không "giá trị hóa" được nó, rõ ràng nó không thể trực tiếp phục vụ cho phát triển
kinh tế mà còn chỉ là vốn ở dạng "tiềm năng" mà thôi. Do đặc điểm trên, vốn có thể phân
thành 4 loại:

hành các hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.
Xây dựng cơ bản xét về bản chất nó là ngành sản xuất vật chất có chức năng tái
sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định có tính chất sản xuất và phi
sản xuất thông qua hình thức xây dựng mới, xây dựng lại hay hiện đại hoá và khôi phục
lại tài sản đã có, vì thế để tiến hành được các hoạt động này thì cần phải có nguồn lực hay
còn gọi là vốn.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản gọi tắt là vốn cơ bản là tổng chi phí bằng tiền để tái
sản xuất tài sản cố định có tính chất sản xuất hoặc phi sản xuất.
Theo điều 5 Điều lệ quản lý XDCB kèm theo Nghị định 385-HĐBT ngày
07/11/1990 thì: “ Vốn đầu tư XDCB là toàn bộ chi phí để đạt được mục đích đầu tư, bao
gồm chi phí cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí về thiết kế
và xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác ghi trong tổng dự
toán.
Cơ chế huy động, quản lý, sử dụng, hoàn trả vốn đầu tư XDCB
Nguồn vốn đầu tư XDCB có thể tóm tắt bởi biểu thức sau:
S = S
TN
+ S
NN
= (S
1
+S
2
) + (S
3
+ S
4
+ S
5
)

phát triển vốn dưới cả hai hình thức giá trị lẫn hiện vật, phải gắn chế độ khấu hao nhanh
để đẩy nhanh tố độ đổi mới kỹ thuật và công nghệ.
Trong cơ chế huy động và quản lý các nguồn vốn đầu tư XDCB cần làm rõ những
định hướng đầu tư chủ yếu theo từng loại nguồn vốn, đồng thời đề ra các định chế thu hồi
vốn, quy rõ trách nhiệm cho các chủ đầu tư cũng như các cơ quan quản lý Nhà nước và
Ngân hàng trong vấn đề cấp phát và thanh toán nguồn vốn đầu tư, mối quan hệ giữa các
tổ chức tài chính và ngân hàng với chủ đầu tư.
1.1.2 Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.1.2.1 Căn cứ vào nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB
Căn cứ vào nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB bao gồm các nguồn sau:
-Vốn ngân sách nhà nước
-Vốn tín dụng đầu tư
-Vốn đầu tư XDCB tự có của các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ thuộc mọi
thành phần kinh tế
-Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài
-Vốn vay nước ngoài
-Vốn ODA
-Vốn huy động từ nhân dân
1.1.2.2 Căn cứ vào quy mô và tính chất của dự án đầu tư
Theo điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, tuỳ thuộc vào tính chất và quy mô các
dự án đầu tư được phân thành 3 nhóm A, B, C (Theo phụ lục của những điều sửa dổi bổ
sung Điều lệ quản lý đầu tu và xây dựng theo nghị định 92/CP ngày 23/08/1997)
1.1.2.3 Căn cứ theo góc độ tái sản xuất tài sản cố định
Ở đây phân ra:
-Vốn đầu tư xây dựng mới (Xây dựng, mua sắm tài sản cố định mới do nguồn
vốn trích từ lợi nhuận)
-Vốn đầu tư nâng cấp, cải tạo sửa chữa (Thay thế tài sản đã hết niên hạn sử dụng
từ nguồn vốn khấu hao). Ở đây có thể kết hợp với cải tạo và hiện đại hoá tài sản cố định
1.1.2.4 Căn cứ vào chủ đầu tư
Ở đây phân ra:

- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng.
Giai đoạn I
Chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn II
Thực hiện đầu tư
Nghiên cứu cơ
hội đầu tư
Nghiên cứu dự án
tiền khả thi
Nghiên cứu dự án
khả thi
Tự thẩm định
dự án
Thiết kế, lập tổng
dự toán, dự toán
Ký kết HĐ: xây
dựng, thiết bị
Thi công XD,
đào tạo cán bộ
Chạy thử, nghiệm
thu, quyết toán
Đưa vào khai
thác sử dụng
- Lập dự án đầu tư.
- Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư,
tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan có chức năng thẩm định dự án đầu tư.
Nội dung công việc ở giai đoạn thực hiện dự án bao gồm:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (bao gồm cả mặt nước,
mặt biển, thềm lục địa).
- Chuẩn bị mặt bằng xây dựng.

- Giá chuẩn của các công trình và hạng mục công trình xây dựng thông dụng.
- Đơn giá dự toán tổng hợp.
- Mặt bằng giá thiết bị của thị trường cung ứng máy móc thiết bị hoặc giá thiết bị
tương tự đã được đầu tư.
- Các chi phí khác tính theo tỷ lệ % quy định của Nhà nước (thuế, chi phí lập và
thẩm định dự án đầu tư.v.v.)
b) Quản lý vốn đầu tư XDCB ở giai đoạn thực hiện đầu tư.
-Trong giai đoạn thực hiện đầu tư, quản lý vốn đầu tư XDCB tập trung vào việc
quản lý giá xây dựng công trình được biểu thị bằng chỉ tiêu: Tổng dự toán công trình, dự
toán hạng mục công trình và các loại công tác xây lắp riêng biệt.
Tổng dự toán công trình là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây dựng
công trình thuộc dự án được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế kỹ
thuật - thi công. Tổng dự toán công trình bao gồm: chi phí xây lắp (GXL), chi phí thiết bị
(GTB) (gồm thiết bị công nghệ, các loại thiết bị phi tiêu chuẩn cần sản xuất gia công (nếu
có) và các trang thiết bị khác phục vụ cho sản xuất, làm việc, sinh hoạt), chi phí khác
(GK) và chi phí dự phòng (GDP) (bao gồm cả yếu tố trượt giá và chi phí tăng thêm do
khối lượng phát sinh)
Tổng dự toán công trình = G
XL
+ G
TB
+ G
K
+ G
DP
Trong đó: G
XL
- Chi phí xây lắp công trình
G
TB

tư XDCB
-Phải đảm bảo đúng mục đích, đúng kế hoạch. Tức là chỉ được cấp vốn cho việc
thực hiện đầu tư XDCB các dự án và việc giải ngân đó phải đảm bảo đúng kế hoạch đã
được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt.
-Vốn đầu tư XDCB phải được thực hiện theo đúng mức độ thực tế hoàn thành kế
hoạch trong phạm vi giá trị dự toán được duyệt. Điều này nhằm đảm bảo việc giải ngân
đúng mục đích, đúng giá trị của công trình.
-Việc giải ngân vốn đầu tư XDCB phải thực hiện việc kiểm tra kiểm soát bằng
đồng tiền đối với các hoạt động sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả. Kiểm tra bằng
đồng tiền bao trùm toàn bộ chu kỳ đầu tư bắt đầu từ giai đoạn kế hoạch hoá đầu tư và kết
thúc bằng việc sử dụng Tài sản cố định đã được tạo ra và được thực hiện trên cơ sở các
nguyên tắc giải ngân vốn đầu tư XDCB. Thực hiện nguyên tắc này nhằm thúc đẩy việc sử
dụng vốn hợp lý, đúng mục đích, hoàn thành kế hoạch và đưa công trình vào sử dụng
1.2.2.2 Hệ thống căn cứ làm cơ sở cho hoạt động quản lý vốn đầu tư XDCB
Đơn giá, định mức XDCB là những cơ sở quan trọng trong quản lý vốn đầu tư
XDCB. Chúng là căn cứ để xây dựng dự toán, cấp phát thu hồi tạm ứng, thanh quyết toán
công trình XDCB hoàn thành…
Đơn giá XDCB là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tổng hợp quy định chi phí cần thiết hợp
lý trên cơ sở tính đúng, tính đủ các hao phí về vật liệu, nhân công và máy thi công để
hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác hoặc một kết cấu xây lắp tạo nên công trình
Các đơn giá gồm 3 loại sau:
-Đơn giá XDCB tổng hợp: Là đơn giá do cơ quan quản lý xây dựng ở Trung ương
ban hành cho các loạI công tác hoặc kết cấu xây lắp, bộ phận nhà và công trình được xây
dựng trên cơ sở định mức dự toán XDCB tổng hợp và đIều kiện sản xuất, cung ứng vật
liệu trong từng vùng lớn.
-Đơn giá XDCB khu vực thống nhất: Là đơn giá các công tác hoặc kết cấu xây lắp
bình quân chung của các công trình xây dựng tạI các khu vực nhất định có đIều kiện sản
xuất và cung ứng vật liệu xây dựng giống nhau hoặc tương tự như nhau mà giá vật liệu
đến hiện trường xây lắp chênh lệch nhau không nhiều
-Đơn giá XDCB cho các công trình riêng biệt: là đơn giá XDCB được xây dựng

Hoạt động quản lý vốn đầu tư XDCB là hoạt động hết sức phức tạp, bao gồm
nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Vì vậy để làm tốt công tác quản lý vốn đầu tư
XDCB đòi hỏi phải có những phương pháp quản lý khoa học mà trong đó việc lập và
thực hiện các kế hoạch tài chính là có tính chất bắt buộc. Các giá trị dự toán trong dự án
đầu tư chính là cơ sở quan trọng để lập, triển khai các kế hoạch tài chính thực hiện công
tác quản lý vốn đầu tư XDCB. Thông thường người ta cần lập một số loại dự toán sau:
Dự toán vốn đầu tư XDCB công trình dùng để lập kế hoạch tài chính về nhu cầu
vốn đầu tư theo các nguồn vốn. Vốn đầu tư XDCB công trình là toàn bộ hao phí lao động
xã hội trung bình cần thiết mà chủ đầu tư bỏ ra để xây dựng công trình. Cụ thể nó chính
là toàn bộ số vốn cần thiết phải bỏ ra, vốn đầu tư XDCB công trình bao gồm:
+Vốn đầu tư xây lắp: Gồm các chi phí để xây lắp công trình và lắp đặt thiết bị vào
công trình.
+Vốn thiết bị: Gồm các chi phí mua sắm máy móc thiết bị sản xuất cho công trình
+Vốn kiến thiết cơ bản khác: bao gồm toàn bộ các chi phí kiến thiết cơ bản khác
được tính và không được tính vào giá trị công trình để đăng ký tài sản cố định.
1.2.2.4 Quản lý chi phí, tạm ứng và thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành
Như trên đã nêu, quản lý vốn đầu tư XDCB là một công việc hết sức phức tạp vì
mỗi dự án đầu tư bao gồm nhiều công việc, hoạt động khác nhau. Nội dung các hoạt động
lại cũng rất đa dạng. Quản lý vốn đầu tư XDCB phải được thực hiện đối với từng hoạt
động hay từng hạng mục của dự án công trình.
Công tác quản lý chi phí bao gồm:
- Quản lý chi phí xây lắp:
Cần kiểm tra, giám sát việc áp dụng các định mức, đơn giá đảm bảo đúng các qui
định về thành phần công việc, yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công và biện pháp thi công,
đối với các qui định hướng dẫn điều chỉnh định mức, đơn giá dự toán và các chế độ trong
quản lý XDCB của Nhà nước và địa phương, cần chú ý tới thời hạn hiệu lực của văn bản.
-Quản lý chi phí thiết bị:
Trước hết cần quản lý danh mục thiết bị, số lượng, chủng loại, công suất, các chỉ
tiêu kỹ thuật…đảm bảo đúng nội dung đầu tư thiết bị trong dự án đã được duyệt. Tiếp đó,
cần giám sát, theo dõi chặt chẽ để đảm bảo rằng các máy moc, thiết bị này dược sử dụng

vốn đầu tư chuyển thành tài sản cố định, tài sản lưu động hoặc chi phí không chuyển
thành tài sản của công trình là cơ sở xác định trách nhiệm của chủ đầu tư, chủ quản đầu
tư trong việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư XDCB
-Qua quyết toán vốn đầu tư XDCB có thể xác định rõ được số lượng chất lượng,
năng lực sản xuất và giá trị TSCĐ mới tăng do đầu tư mang lại để có kế hoạch huy động,
sử dụng kịp thời và phát huy hiệu quả của công trình XDCB đã hoàn thành.
-Thông qua việc quyết toán đánh giá kết quả quá trình đầu tư XDCB, các bên liên
quan, đặc biệt là chủ đầu tư, có thể rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và
tăng cường công tác quản lý vốn đầu tư phù hợp với tình hình hiện nay.
Phạm vi, đối tượng lập quyết toán bao gồm:
-Tất cả các công trình đầu tư XDCB, không phân biệt quy mô, hình thức xây
dựng, nguồn vốn đầu tư và cấp quản lý, khi hoàn thành đưa vào sản xuất, sử dụng chủ
đầu tư có trách nhiệm quyết toán toàn bộ vốn đầu tư của công trình hoàn thành với cơ
quan chủ quản đầu tư và cơ quan cấp phát hoặc cho vay vốn đầu tư XDCB công trình.
-Nếu công trình được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn thì chủ đầu tư phải tổng quyết
toán toàn bộ công trình, trong đó quyết toán riêng theo cơ cấu từng nguồn vốn đã được sử
dụng đầu tư xây dựng khi bắt đầu công việc chuẩn bị đầu tư, khởi công xây dựng và đưa
vào sản xuất sử dụng
-Trong quá trình xây dựng công trình, nếu từng hạng mục công trình hoàn thành
bàn giao đưa vào sử dụng ngay từ khi kết thúc xây dựng từng hạng mục đó, chủ đầu tư
phải xác định đầy đủ vốn đầu tư XDCB (kể cả các khoản phân bổ có thể tính được) thành
tài sản mới tăng của hạng mục công trình đó, báo cáo với cơ quan chủ quản đầu tư, cơ
quan cấp phát hoặc cho vay vốn đầu tư để làm căn cứ thanh toán bàn giao, hạch toán và
quản lý sử dụng của đơn vị nhận tài sản. Sau khi công trình hoàn thành, chủ đầu tư phải
quyết toán toàn bộ công trình.
Nội dung quyết toán bao gồm:
-Xác định tổng số vốn thực tế đã đầu tư cho công trình, bao gồm: chi phí xây lắp,
chi phí mua sắm thiết bị và những chi phí kiến thiết cơ bản khác.
-Xác định các khoản chi phí thiệt hại không tính vào giá trị công trình.
-Xác định tổng số vốn đầu tư thực tế tính vào công trình đầu tư: số vốn này bằng

2- Mức độ thực hiện mục tiêu kế hoạch hiện vật và giá trị: chỉ tiêu này là tỷ lệ % so
sánh giữa mức kế hoạch đạt được của từng mục tiêu so với mục tiêu kế hoạch.

Trích đoạn Đặc điểm của bảo hiểm xã hội Việt Nam Nguyên nhân tồn tại Hoàn thiện công tác tạo nguồn và cấp phát sử dụng vốn đầu tư XDCB của Hoàn thiện công tác kiểm tra kiểm soát việc thực hiện vốn đầu tư XDCB của Tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status