CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI
1. Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài
Nếu các lý thuyết đầu tư nước ngoài trong chương 2 đã phân tích
những điều kiện cần để xuất hiện dòng lưu chuyển vốn đầu tư giữa các nước
thì chương này sẽ phân tích các điều kiện đủ góp phần thúc đẩy, thu hút
hoặc hạn chế đầu tư nước ngoài.
Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài là các yếu tố của môi
trường đầu tư quốc tế, có tác động đến hoạt động đầu tư nước ngoài trên
phạm vi toàn cầu. Môi trường đầu tư quốc tế có thể hiểu là “tổng hoà các
yếu tố có ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư trên
phạm vi toàn cầu”
Môi trường đầu tư quốc tế gồm ba thành phần: môi trường đầu tư ở
nước nhận đầu tư (môi trường đầu tư nước ngoài), môi trường kinh doanh ở
nước chủ đầu tư và môi trường quốc tế.
1.1. Môi trường quốc tế
Môi trường quốc tế bao gồm các yếu tố cơ bản như xu hướng đối
thoại chính trị giữa các nước, liên kết khu vực, tăng trưởng nhanh của các
TNCs và tốc độ toàn cầu hoá. Các yếu tố này tạo ra môi trường thuận lợi
thúc đẩy nhanh dòng lưu chuyển vốn đầu tư quốc tế.
Môi trường quốc tế (dung môi)
Môi trường kinh doanh ở
nước chủ đầu tư
(yếu tố đẩy)
Môi trường đầu tư nước
ngoài
(yếu tố kéo)
Dòng vốn ĐTNN
Dòng lợi nhuận
- Xu hướng đối thoại chính trị giữa các nước
Như đã phân tích, tình hình chính trị là một trong những yếu tố được
Mặt khác, việc liên kết khu vực sẽ tạo ra sự phát triển ổn định của các
nước trong khu vùng, qua đó tạo cơ sở vững chắc cho các nước thành viên
thực hiện các cam kết chính sách tự do hoá chính sách FDI. Mặc dù đây
không phải là tác động trực tiếp đối với thúc đẩy dòng đầu tư giữa các nước
trong khối nhưng lại có vai trò hết sức quan trọng đối với việc tạo ra môi
trường đầu tư thuận lợi trong vùng, nhờ đó thúc đẩy lưu chuyển dòng vốn
đầu tư quốc tế.
Trên cơ sở của tự do hoá thương mại, các nước trong khối đã hình
thành nên khu vực tự do đầu tư, tức là không có các rào cản trong di chuyển
vốn đầu tư giữa các nước trong khối. Chính sách này đã tác động trực tiếp và
thúc đẩy mạnh dòng lưu chuyển vốn đầu tư giữa các nước.
Đối với các yếu tố kinh tế- xã hội quyết định đầu tư nước ngoài thì
liên kết khu vực đã tạo ra một thị trường với qui mô lớn. Đây là yếu tố rất
hấp dẫn các TNCs, nhất là với các TNCs đầu tư theo mục đích tìm kiếm thị
trường. Việc xóa bỏ các rào cản của thị trường quốc gia để hình thành thị
trường vùng đã làm giảm bớt các chi phí sản xuất hướng vào xuất khẩu trong
vùng của các TNCs, bởi vì lúc này tất cả các nước trong khối đều là một thị
trường. Mặt khác, việc xoá bỏ các rào cản của các thị trường thành viên còn
giảm bớt được các thủ tục hải quan, xuất nhập cảnh cho các nhà đầu tư, vì
thế thúc đẩy dòng vốn đầu tư giữa các nước.
Liên kết khu vực tạo ra cơ hội cho các nhà đầu tư hình thành được
mối liên kết kinh tế giữa các công ty vệ tinh trong sản xuất và nghiên cứu
những sản phẩm tương tự, nhờ đó không những giảm được chi phí dịch vụ
mà còn giúp cho các nhà đầu tư thực hiện được chuyên môn hoá sản xuất
cao. Bởi vậy, trong phạm vi vùng, các nhà đầu tư nước ngoài khai thác được
tốt hiệu quả của phân công lao động quốc tế. Ngoài ra, việc loại bỏ các rào
cản của các thị trường thành viên còn thúc đẩy các công ty cạnh tranh mở
rộng thị phần trong vùng. Để tăng thị phần, các công ty mở rộng sản xuất
bằng cách xây dựng cơ sở mới hoặc mua lại và sát nhập các cơ sở hiện có,
do đó làm tăng dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Theo các con số này, cho thấy các TNCs đã tăng trưởng nhanh chóng và tác
động mạnh vào dòng lưu chuyển vốn đầu tư quốc tế.
- Môi trường tài chính quốc tế
Bao gồm những nhân tố tác động vào hoạt động tài chính của các nhà
đầu tư. Có thể chia thành 2 nhóm nhân tố: hệ thống tiền tệ quốc tế; Hệ thống
tỉ giá linh hoạt.
Hệ thống tiền tệ quốc tế: bao gồm các tổ chức tài chính quốc tế và các
quy định- luật lệ đảm bảo cho sự hoạt động của các tổ chức này và ổn định tỉ
giá hối đoái trên thị trường ngoài hối quốc tế. Hệ thống tiền tệ quốc tế được
hình thành trên cơ sở thoả thuận trực tiếp giữa Ngân hàng trung ương của
các nước.
Hoạt động của hệ thống tiền tệ quốc tế đặt dưới sự điều hành của quĩ
tiền tệ quốc tế (IMF - International Monetary Funds) và ngân hàng thế giới
(WB - World Bank). Theo thoả thuận giữa các nước thành viên năm 1944:
các nước cùng góp vốn để duy trì sự hoạt động của IMF và WB. Mỗi nước
được xác định mệnh giá cho đồng tiền quốc gia dựa theo chế độ bản vị vàng
và USD; IMF cho phép (ấn định) giá trị đồng tiền mỗi nước được phá giá
trong phạm vi 1%, trừ trường hợp khẩn cấp đồng tiền mỗi nước có thể phá
giá đến 10% nhưng có thời hạn và phải được sự chấp thuận của IMF.
Tuy nhiên khi qui mô của IMF mở rộng với nhiều nước mới xin gia
nhập, IMF đưa ra yêu cầu: trong một thời gian nhất định, sau khi trở thành
thành viên của IMF, mỗi thành viên phải xác định tỉ giá tiền tệ của mình so
với vàng hay một ngoài tệ mạnh nào đó, nhưng chủ yếu là USD. Tỉ giá này
có thể dao động ở mức 10% mà không cần có sự chấp thuận trước của IMF.
Nói cách khác IMF đã can thiệt vào việc ấn định tỉ giá của các nước trên thị
trường tài chính quốc tế.
Hệ thống tỉ giá linh hoạt
Năm 1976 IMF đưa ra yêu cầu các nước thành viên phải áp dụng hệ
thống tỉ giá thả nổi có điều kiện (hệ thống tỉ giá linh hoạt) nhằm giảm thiểu
sự can thiệp của Nhà nước trên thị trường ngoài hối và điều chỉnh giá trị của
Trong quy chế tối huệ quốc (MFN) có ghi rõ về nguyên tắc không
phân biệt đối xử, nguyên tắc này được hiểu theo 2 cách:
Không phân biệt đối xử quốc gia qui định: doanh nghiệp nước ngoài,
hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài được đối xử không kém thuận
lợi hơn so với doanh nghiệp trong nước và hàng hoá, dịch vụ cùng loại sản
xuất trong nước. Nguyên tắc này nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa nhà
đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước.
Không phân biệt đối xử quốc tế qui định: nước nhận đầu tư sẽ giành
ưu đãi cho nhà đầu tư của một nước khác không kém thuận hơn những ưu
đãi đã giành cho các nhà đầu tư ở nước thứ ba khác khi họ đầu tư trên lãnh
thổ quốc gia mình. Nguyên tắc này nhằm chống phân biệt đối xử giữa các
nhà đầu tư hoạt động trên cùng một lãnh thổ, tạo môi trường kinh doanh
bình đẳng giữa các nhà đầu tư.
Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs -
Trade Related Investment Measures)
TRIMs quy định các nước không được sử dụng 5 loại biện pháp đầu
tư liên quan đến thương mại về đối xử quốc gia và các qui định cấm sử dụng
hạn chế định lượng. Chẳng hạn, biện pháp yêu cầu về hàm lượng nội địa;
yêu cầu về cân đối thương mại; hạn chế nhập khẩu; hạn chế khả năng tiếp
cận ngoại hối; hạn chế xuất khẩu.
Trong thực tế, nhiều nước đang phát triển thường sử dụng những biện
pháp này để bảo hộ sản xuất trong nước. Khi tuân thủ sử dụng những biện
pháp này để bảo hộ sản xuất trong nước. Khi tuân thủ TRIMs có nghĩa là các
nước phải xoá bỏ những biện pháp hạn chế định lượng trên đây, điều đó có
thể đặt các doanh nghiệp trong nước đứng trước sự cạnh tranh gay gắt,
nhưng lại là một trong những giải pháp làm tăng tính hấp dẫn của môi
trường đầu tư của một nước, thu hút luồng vốn FDI mạnh hơn.
Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến quyền sử hữu trí tuệ (TRIPs
- Trade Related Intelectural Property Right)
TRIPs quy định các quyền được hưởng quyền sở hữu trí tuệ; phạm vi
đầu tư nhằm đảm bảo một môi trường đầu tư - kinh doanh dễ dự đoán.
- Tốc độ toàn cầu hoá
Nếu liên kết kinh tế quốc tế nói về các hiệp định kinh tế giữa các nước
thì toàn cầu hoá lại nhấn mạnh đến quá trình đan kết giữa các công ty trên
phạm vị toàn cầu để hình thành lên mạng lưới sản xuất quốc tế.
Toàn cầu hoá được hiểu: là mức độ hoà nhập , lan toả của các hoạt
động kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Toàn cầu hoá là sự phát triển cao và
phức tạp hơn của quốc tế hoá. Tốc độ của quá trình toàn cầu hoá sẽ thúc đẩy
xu hướng tự do hoá FDI, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các TNCs mở
rộng phạm vi hoạt động trên phạm vi toàn cầu.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ đã tạo ra nhiều lĩnh
vực sản xuất mới trong các ngành điện, điện tử, tin học, viễn thông… và các
phương tiện thuận khác cho phép các TNCs mở rộng qui mô khai thác lợi
thế so sánh của mình trên phạm vi toàn cầu. Lợi ích to lớn của việc tham gia
vào mạng lưới phân công lao động quốc tế đã làm cho các quốc gia tích cực
tháo bỏ những rào cản đối với các TNCs, nhờ đó thúc đẩy xu hướng tự do
hoá đầu tư.
Xu hướng tự do hoá đầu tư tác động trở lại đối với TNCs trong việc
chọn lựa các lĩnh vực và hướng đầu tư. Việc mở rộng thị trường cho đầu tư
nước ngoài đã khuyến khích các TNCs đầu tư vào các lĩnh vực mà ở đó
chúng có nhiều thế mạnh. Các lĩnh vực hấp dẫn các TNCs thường là các
ngành sản xuất mới, có hàm lượng công nghệ cao như điện tử - tin học, viễn
thông…. Việc mở ra các lĩnh vực sản xuất này không những khuyến khích
các TNCs đầu tư các thị trường mới có tiềm năng tiêu thụ cao mà còn tạo
điều kiện cho các hoạt động mua lại và sát nhập (M&A) để tăng sức mạnh
độc quyền trong các ngành có công nghệ hiện đại. Hiện tượng này đã thúc
đẩy tăng nhanh dòng vốn đầu tư quốc tế.
Ngoài ra, toàn cầu hoá còn thúc đẩy phát triển của thị trường tài chính
quốc tế, qua đó tác động đến động thái dòng vốn đầu tư nước ngoài. Tác
động này được thể hiện qua các khía cạnh là: giảm bớt các định chế tài chính