LỜI MỞ ĐẦU
WTO - thể chế thương mại lớn nhất và mạnh nhất toàn cầu hiện nay. Tính đến
nay, Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã được 6 năm. Sáu
năm qua là thời kỳ mà kinh tế phát triển nhanh nhất trong lịch sử Trung Quốc. Năm
2002, GDP của Trung Quốc đạt 1.000 tỷ NDT, thì đến năm 2006, GDP đạt 2.554 tỷ
USD, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt qua ngưỡng 1.500 tỷ USD, dự trữ ngoại tệ
đạt 1.000 tỷ USD, chiếm 40% GDP, có quy mô lớn nhất toàn cầu, thu nhập bình quân
đầu người đạt 1.943 USD/năm. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, từ khi gia nhập
WTO, bình quân đóng góp của Trung Quốc đối với tăng trưởng kinh tế của thế giới là
13%/năm. Phát triển kinh tế của Trung Quốc đã trở thành trụ cột quan trọng và lực
lượng lôi kéo kinh tế toàn cầu phát triển
Đầu tư quốc tế là một hình thức của di chuyển quốc tế về vốn, trong đó vốn được di
chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện một hay hoặc một số dự án
đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia.
Thực chất của việc đầu tư quốc tế là sự vận động của tiền tệ và tài sản giữa các
quốc gia nhằm điều chỉnh tỷ lệ giữa các yếu tố sản xuất tạo điều kiện cho nền kinh tế
các quốc gia phát triển, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu nói
chung.
Từ thực tế này, một loạt vấn đề mới đặt ra trong chính sách thương mại và đầu
tư. Trong đó, có đối sách với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trong xu thế thời đại, hoặc
tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá hay đứng ngoài tiến trình ấy. Tham gia vào tiến
trình toàn cầu hoá, tiến cùng vào thời đại tuy thách thức là rất lớn, nhưng cơ hội cũng
rất nhiều. Không tham gia vào tiến trình ấy, trở thành người ngoài cuộc sẽ bị phân
biệt đối xử trong tiếp cận về thị trương hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, sẽ rất khó khăn
trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là bối
cảnh thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng kỹ thuật công nghệ lần thứ 3; và từ đó, dẫn
tới làn sóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế lần thứ 3. Mà sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
mỗi nước sẽ dẫn đến sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế giữa các nước.
Điều quan trọng nữa là quốc gia nào không tham gia vào tiến trình này, quốc
gia đó sẽ không có địa vị bình đẳng trong việc bản thảo và xây dựng định chế của nền
thương mại thế giới, không có điều kiện để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình.
giúp đỡ quý báu của PGS.TS Nguyễn Thường Lạng và các bạn đồng môn lớp Cao
học 17A đã giúp tôi hoàn thành đề tài này.
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ CHUNG
2
1.Tiếp cận vấn đề nghiên cứu
1.1.Các khái niệm cơ bản
Đầu tư quốc tế: là một hình thức di chuyển quốc tế về vốn, từ quốc gia này
sang quốc gia khác, để thực hiện một hoặc một số dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích
cho các bên tham gia.
Đầu tư quốc tế được thực hiện với nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có
thể tổng kết một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do sự mất cân đối về các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia nên có
sự chênh lệch về giá cả giữa các yếu tố. Đầu tư quốc tế được thực hiện nhằm đạt
được lợi ích từ sự chênh lệch đó.
Thứ hai, do sự gặp gỡ về lợi ích của các bên tham gia, cụ thể là:
Đối với bên có vốn đầu tư: cần tìm nơi đầu tư có lợi, cần tránh hàng rào bảo
hộ mậu dịch cũng như sự kiểm soát hải quan trong buôn bán quốc tế, cần khuyếch
trương thị trường, uy tín, tăng cường vị thế và mở rộng quy mô kinh doanh.
Đối với bên tiếp nhận vốn đầu tư: Do thiếu vốn tích lũy, do nhu cầu tăng
trưởng nhanh, nhu cầu đổi mới kỹ thuật, công nghệ và tiếp nhận kinh nghiệm quản lý
tiên tiến để khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên và tạo việc làm cho lao động
trong nước. Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển, thực hiện tiếp nhận đầu tư
quốc tế còn nhằm mục đích chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng các khu công
nghiệp và khu công nghệ cao, góp phần thực hiện công cuộc công nghiệp hóa đất
nước.
Thứ ba, trong nhiều trường hợp, đầu tư quốc tế còn góp phần giải quyết các
nhiệm vụ đặc biệt như xây dựng các công trình có quy mô vượt ra ngoài phạm vi biên
giới quốc gia, đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều quốc gia.
1.2.Tác động của đầu tư quốc tế.
Thực tế cho thấy rằng, đầu tư quốc tế có những tác động mang tính hai mặt
quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
* Tác động tiêu cực
+ Có thể dẫn tới tình trạng khai thác tài nguyên thái quá dẫn đến ô nhiễm môi trường;
+ Gây ra sự phân hoá, tăng khoảng cách phát triển giữa các vùng và giữa các tâng lớp
dân cư.
+ Có thể làm tăng các vấn đề về tệ nạn xã hội, bệnh tật;
+ Có thể bị ảnh hưởng hoặc lệ thuộc vào những yêu cầu từ phía chủ đầu tư.
4
Từ nội dung trên đã hệ thống những nguyên nhân và tác động mang tính thực tiễn của
đầu tư quốc tế. Bên cạnh đó thông qua nhiều công trình nghiên cứu, các nhà kinh tế
đã đưa ra những quan điểm khác nhau làm cơ sở lý luận để giải thích cho động cơ
thực hiện đầu tư quốc tế ở các quốc gia.Các lý thiếu tiêu biểu đó là: Lý thuyết lợi ích
cận biên, lý thuyêt về chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm, lý thuyết về quyền lực thị
trường, lý thuyết về tính không hoàn hảo của thị trường và lý thuyết chiết trung…
Mỗi lý thuyết đều có những thành công và hạn chế nhất định, nhưng các lý thuyết
này đều tập trung lý giải cho những động cơ thực sự của đầu tư quốc tế.
1.3. Đầu tư nước ngoài và đặc điểm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Hoạt động cơ bản của hợp tác đầu tư nước ngoài là nhận các nguồn vốn, ngày
nay thường được quy về các loại tư bản tài chính, tư bản tri thức, tư bản mạo hiểm, tư
bản xã hội (hai yếu tố quan trọng nhất là hợp tác và lòng tin) cùng các loại tư bản
khác trong các dạng tài sản hữu hình và tài sản vô hình từ nước ngoài hoặc đưa vốn
ra nước ngoài để sản xuất kinh doanh, dịch vụ...
Đầu tư có 2 hình thức là đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Xét về mọi mặt
thì đầu tư trực tiếp có vai trò quan trọng đặc biệt, trước hết đó là những đóng góp to
lớn và việc phát triển kinh tế, cung cấp cho nước chủ nhà vốn, công nghệ và kỹ năng
quản lý hiện đại.
Mục đích chính của các doanh nghiệp - nhà đầu tư thương là làm ra lợi nhuận càng
nhiều càng tốt. Để hoàn thành mục đích này, họ luôn luôn tìm kiếm cơ hội mở rộng
thị trường cho hàng hóa của mình và làm giảm giá thành
1.3.1. Đầu tư gián tiếp.
- Các hình thức của ODA bao gồm:
ODA không hoàn lại
ODA cho vay ưu đãi ( tín dụng ưu đãi)
ODA hỗn hợp
Ngoài ra còn có các khoản vay từ các tổ chức tài chính quốc tế có thành tố hỗ trợ
dưới 25% như IMF, Ngân hàng tái thiết phát triển quốc tế (IBRD) thuộc WB, quỹ
nguồn vốn thông thường ( OCR) thuộc ADB.
- Các phương thức cung cấp ODA
Hỗ trợ cán cân thanh toán và ngân sách.
Hỗ trợ chương trình.
Hỗ trợ dự án.
- Các lĩnh vực ưu tiên sử dụng ODA thường là các dự án về xoá đói giảm nghèo, y tế,
môi trường, vấn đề xã hội, giáo dục, cơ sở hạ tầng, năng lượng, hỗ trợ cán cân thanh
toán và một số lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng chính phủ.
6
1.3.1.2. Lợi thế và bất lợi của đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Lợi thế.
- Bên tiếp nhận vốn đầu tư hoàn toàn chủ động trong việc sử dụng vốn, do đó vốn
đầu tư được phân bổ hợp lý cho các vùng, các ngành, các lĩnh vực.
- Doanh nghiệp có khả năng phân tán rủi ro kinh doanh trong những người mua cổ
phiếu, trái phiếu.
- Chủ đầu tư nước ngoài ít chịu rủi ro vì lợi nhuận thu được luôn theo một tỷ lệ lãi suất
cố định.
Bất lợi
- Hạn chế khả năng thu hút vốn đầu tư vì chủ đầu tư nước ngoài bị khống chế ở mức
độ góp vốn tối đa.
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài hạn chế khả năng tiếp thu công nghệ, kỹ thuật hiện đại
và kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ các chủ đầu tư nước ngoài.
- Phạm vi đầu tư bị hạn chế do chủ đầu tư nước ngoài chỉ đầu tư và các doanh nghiệp
có triển vọng kinh doanh.
+ Các bên cùng nhau hợp tác kinh doanh trên cơ sở phân định trách nhiệm,
quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng.
+ Không thành lập pháp nhân mới
+ Mỗi bên làm nghĩa vụ tài chính đối với nước chủ nhà theo những quy định
riêng
Hình thức này khá phổ biến ở các nước đang phát triển và cũng được áp dụng ở
nước ta.
- Doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại nước chủ nhà
trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa bên hoặc các bên chủ nhà với bên hoặc các
bên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước chủ nhà.
Hình thức này có các đặc trưng:
+ Hình thành dạng công ty TNHH, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước
chủ nhà
+ Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm với bên kia, với doanh nghiệp liên
doanh trong phạm vi phần vốn góp của mình vào vốn pháp định.
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của đầu tư
nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự
chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Hình thức này có các đặc trưng:
+ Hình thành dạng công ty TNHH, có tư cách pháp nhân tuân theo pháp luật
của nước chủ nhà.
+ Sở hữu hoàn toàn của nước ngoài.
8
+ Chủ đầu tư nước ngoài tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh.
Tùy vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, các hình thức đầu tư trên được áp
dụng ở mức độ khác nhau.
Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, chính phủ nước sở
Nước tiếp nhận đầu tư khó chủ động trong việc bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành và
theo vùng lãnh thổ. Nếu nước nhận đầu tư không có một quy hoạch đầu tư cụ thể và
khoa học sẽ dẫn đến hiện tượng đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên
bị khai thác quá mức và nạn ô nhiễm môi trường trầm trọng.
Nếu nước tiếp nhận đầu tư không thẩm định kỹ các dự án sẽ dẫn đến sự du nhập của
các công nghệ lạc hậu, công nghệ gây ô nhiễm môi trường với giá đắt làm thiệt hại
lợi ích của nước sở tại.
1.5. Một số vấn đề chung về luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Năm 1977, chính phủ Việt Nam đã ban hành “Điều lệ về đầu tư nước ngoài tại nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Trên cơ sở những đổi mới tư duy kinh tế, cho đến nay “Luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam” đã được sửa đổi bổ sung và ban hành mới 4 lần.
Tháng 11 năm 2005 Quốc hội đã thông qua Luật đầu tư, đây là luật điều chỉnh chung
thống nhất cả hoạt động đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh đó, chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan còn ban hành
hệ thống các văn bản dưới luật nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật đầu
tư nước ngoài tại Việt nam.
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có tư tưởng chủ đạo là tạo nên khung cảnh pháp
lý thuận lợi và bình đẳng cho môi trường đầu tư tại Việt Nam, vừa tạo nên sự hấp
dẫn, vừa bảo vệ lợi ích của đất nước và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Theo quy định của luật hiện hành, đối tượng đầu tư tại Việt Nam là các doanh
nghiệp, các cá nhân người nước ngoài, người Việt nam định cư tại nước ngoài có đủ
năng lực pháp lý được phép tham gia liên doanh với bên Việt Nam thuộc mọi thành
phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp tư nhân để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam.
Các dự án FDI được phép triển khai trong hầu hết các ngành kinh tế của Việt Nam,
kể cả trong các ngành y tế và đào tạo. Trong đó có sự khuyến khích và ưu đãi đối với
những dự án đầu tư vào các chương trình kinh tế lớn, sử dụng nhiều lao động, công
nghệ cao và xây dựng cơ sở hạ tầng.
1.6.Mục đích, phạm vi và phương pháp nghiên cứu.
Trong nền kinh tế thị trường, dòng vốn luôn chuyển từ kênh đầu tư này sang kênh
- Hàng hóa và dịch vụ Việt Nam được đối xử bình đẳng.
- Hệ thống chính sách minh bạch, ổn định đã giúp tăng cường thu hút đầu tư
nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư trong nước và nước ngoài.
Cải cách các chính sách liên quan đến đầu tư theo hướng giảm thiểu các rào cản trái
với quy định của WTO, bãi bỏ sự phân biệt đối xử theo MFN và NT, các nhà đầu tư
đã yên tâm hơn khi tiến hành đầu tư vào thị trường tiêu thụ rộng.
Việt Nam đã nhận được nhiều sự hỗ trợ về tài chính, tín dụng và viện trợ không hoàn
lại của các tổ chức và các chính phủ nước ngoài.
Việc thực hiện những cam kết về mở của thị trường dịch vụ chắc chắn cũng đã kéo
theo một làn sóng đầu tư nước ngoài vào nhiều ngành kinh tế dịch vụ.
Đầu tư nước ngoài gia tăng đã đem lại những lợi ích cho nền kinh tế như:
- Tạo động lực tăng trưởng sản xuất công nghiệp.
- Tác động mạnh mẽ tới tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu.
- Góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động,
sáng tạo..
- Giải quyết việc làm cho lao động trực tiếp và gián tiếp trong nhiều ngành kinh
tế.
- Góp phần chủ yếu vào việc chuyển giao công nghệ, đầu tư nghiên cứu và phát
triển.
12
- Tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanh nghiệp và các nhà
quản lý doanh nghiệp trong nước học hỏi thêm về cách thức bố trí sản xuất, quản lý,
tiếp thu công nghệ, kiểu dáng sản phẩm và cách thức tiếp thị, phục vụ khách hàng…
- Tạo điều kiện cải cách chính sách, thể chế luật pháp:
+ Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện cơ chế thị trường, cải
cách hành chính và cải cách doanh nghiệp trong nước, minh bạch hóa toàn bộ các
chính sách liên quan đến thương mại và thông báo các kế hoạch hành động để tuân
thủ các nguyên tắc của WTO;
+ Hệ thống pháp luật sẽ phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo môi trường kinh
doanh thuận lợi, cạnh tranh lành mạnh và khuyến khích thương mại, đầu tư cũng như
người lao động mất việc…
- Việc cải cách doanh nghiệp đòi hỏi đầu tư rất nhiều về vốn, kỹ thuật và cả yếu tố con
người.
- Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng và bao trùm nhiều thách thức lớn
trong tiến trình hội nhập. Các cán bộ Việt Nam thường hạn chế về kinh nghiệm, kiến
thức kinh tế thị trường, ngoại ngữ và đặc biệt là kỹ năng đàm phán.
- Vấn đề an sinh xã hội: Giải quyết việc làm cho người lao động dư thừa do cải
tổ ngành sản xuất trong nước để phát triển, đặc biệt đảm bảo đời sống của người
nông dân;
* Thách thức đối với doanh nghiệp.
- Mở cửa thị trường dẫn tới cạnh tranh gay gắt trong khi doanh nghiệp Việt
Nam phần lớn vốn ít, công nghệ không cao, năng suất lao động thấp, khả năng cạnh
tranh không cao.
- Doanh nghiệp không được Nhà nước bao cấp vì phải bỏ những loại trợ cấp, hỗ
trợ trái quy định của WTO;
- Các doanh nghiệp chưa sẵn sàng tận dụng những cơ hội tiếp cận thị trường
mới do hạn chế khả năng và kiến thức hiểu biết thị trường bạn. Các nước lại có xu
hướng áp đặt nhiều biện pháp bảo hộ thông qua các biện pháp kỹ thuật, chống bán
phá giá, trợ cấp, tự vệ, tiêu chuẩn môi trường…;
- Cạnh tranh trên thị trường nội địa sẽ tăng khi các hàng rào thương mại được
cắt giảm;
- Những doanh nghiệp năng lực cạnh tranh kém có nguy cơ phá sản, hoặc giảm
lợi nhuận vì tác động của giảm thuế mở cửa thị trường;
- Doanh nghiệp Việt Nam thường vấp phải nhiều tranh chấp trong thương mại
quốc tế và luôn ở thế yếu hơn.
* Thách thức đối với người dân và xã hội
- Giải quyết lao động dôi ra do cải cách bộ máy hành chính, cải tổ ngành công
nghiệp, nông nghiệp, doanh nghiệp phá sản, bị đóng cửa do làm ăn thua lỗ;
- Khoảng cách giàu nghèo và mất công bằng trong xã hội gia tăng trong quá
trình phát triển kinh tế nếu như không có sự can thiệp hợp lý của Chính phủ.