Thực trạng và giải pháp để huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam - Pdf 25

Đề tài: Thực trạng và giải pháp để huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Phần Mở Đầu
Hiện nay trên thế giới, nhiều quốc gia, tổ chức tài chính và những công ty
lớn đang nắm giữ một lượng vốn khổng lồ , có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài.
Đây là một điều kiện thuận lợi với các nước thiếu vốn , có nhu cầu đầu tư
lớn, đặc biệt là các nước đang phát triển. Mặt khác, xu hướng và bối cảnh
quốc tế cũng rất phức tạp , mang tính cạnh tranh cao, đòi hỏi mỗi nước phải
có chiến lược hợp lý, tài tình dể thu hút vốn, phát triển kinh tế xã hội. Vì
vậy, thu hút đầu tư nước ngoài đã trở thành vấn đề rất quan trọng đối với
nhiều nước.
Đối với nước ta, để đạt tốc độ tăng trưởng và bền vững cần phải có một
lượng vốn lớn. Trong khi nền kinh tế còn chậm phát triển, khả năng tích luỹ
thấp, nguồn vốn trong nước chỉ đảm bảo được 50%, việc huy động vốn nước
ngoài có ý nghĩa rất lớn. Chính vì thế, việc xem xét đánh giá kết quả đầu tư
nước ngoài trong thời gian qua, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, ách tắc, đưa
ra những giải pháp khuyến khích thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài đang
được chính phủ quan tâm và chỉ đạo. Là một sinh viên theo học ngành kinh
tế, em rất muốn đóng góp phần kiến thức nhỏ bé của bản thân cho công cuộc
phát triển của đất nước, nên em đã chọn nghiên cứu đề tài này. Với sự hiểu
biết còn nông cạn, chắc chắn bài viết của em sẽ có nhiều thiếu sót, kính
mong dược sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của thầy. Em xin chân thành cảm
ơn.
Phương pháp luận được sử dụng trong bài viết là các phương pháp thống kê,
suy luận , phân tích tổng hợp, phương pháp logic…
1
Việc nghiên cứu đề tài sẽ chỉ sử dụng kiến thức kinh tế chính trị học, đã
được hướng dẫn ở năm trước. Và đây chỉ là một đề án nên phạm vi nghiên
cứu sẽ không rộng như luận án hay các bài nghiên cứu khác cùng đề tài
Nội Dung
I)Một số vấn đề về cơ sở lí luận

- Đầu tư ngắn hạn, đầu tư dài hạn( theo thời gian chu chuyển)
2
- Đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp( theo quan hệ quản lý của chủ đàu
tư)
Đầu tư trực tiếp là đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản
lý điều hành quy trình thực hiện và có thể quyết định toàn bộ mọi hoạt
động nếu là xí nghiệp 100% vốn, hoặc tham gia quyết định nếu là xí
nghiệp liên doanh. Trong hình thức này, người có vốn có thể bỏ vốn vào
để tăng thêm năng lực sản xuất hoặc có thể tạo ra năng lực sản xuất mới,
song cũng có thể mua lại một số cổ phần để hy vọng thu được lợi tức cổ
phần. Người bỏ vốn ra có thể là người trong nước mà cũng có thể là
người nước ngoài( nếu được luật pháp của nước chủ nhà cho phép).
Trong trường hợp vốn và người có vốn là người nước ngoài thì hoạt động
đầu tư trực tiếp đó là đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Invesment_ FDI)là
dạng đầu tư trực tiếp do nguồn vốn từ bên ngoài mà chủ thể của nó là tư
nhân hay nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế được nước chủ nhà cho phép
đầu tư vào những ngầnh hoặc lĩnh vực nào đó của một nước nhằm thực
hiện một mục tiêu nhất định .
Theo quan niệm của tổ chức OECD thì FDI là nguồn tài trợ của tư nhân,
nhưng thật ra chủ thể của FDI không phải duy nhất chỉ có tư nhân( mặc
dù tư nhân là chủ yếu) mà còn có nhà nước và các tổ chức quốc tế khác
1.1 Đặc điểm của FDI:
Một là, FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận mà cùng với vốn
có thể có cả kỹ thuật, công nghệ, bý quyết kỹ thuật, sản xuất kinh doanh,
năng lực Marketing. Chủ đầu tư khi đưa vốn vào đầu tư là đẫ tiến hành tổ
chức sản xuất kinh doanh. Sản phẩm làm ra phải được tiêu thụ ở thị
trường nước chủ nhà hoặc thị trường lân cận
Hai là, việc tiếp nhận FDI không gây nên tình trạng nợ cho nước chủ
nha, trái lại nó còn tạo ra điều kiện phát triển tiềm năng trong nước

thuật công nghệ từ các nước đầu tư( hoặc các nước khác ) sang nước chủ
nhà. Mặc dù sự chuyển giao này còn nhiều mặt hạn chế do những yếu tố
chư quan va khách quanchi phối. Song điều không thể phủ nhận là chính
nhờ có sự chuyển giao đó mà các nước chủ nhà đó có được kỹ thụâtt tiên
tiến, kinh nghiệm quản lý và năng lực mảketing, đội ngũ lao động được
đào tạo bồi dưỡng về nhiêu mặt.
- Thứ ba, do tác động của vốn, cua khoa học cong nghệ,FDI sẽ tác
động mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ cấu kỹ
thuật, cơ cấu sản phẩm và lao động sẽ được biến đổi theo chiều hướng
tiến bộ.
- Thứ tư, FDI là một trong những hình thức hợp tác quốc tế thông qua
cá hình thức đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà sẽ có thêm điều kiện mở rộng
quan hệ kinh tế quốc tế
Tuy nhiên FDI không phải khi nào và bất cứ ở đâu cũng phát huy tác
động tích cực với đòi sống kinh tế xã hội của nuớc chủ nhà. Nó chỉ có thể
phát huy tác dụng tốt trong môi trường kinh tế, môi trường chính trị xã
hội ổn định và đặc biệt là nhà nước biết sử dụng và phát huy vai trò quản
lý của mình. Nhiều công trình nghiên cứu và thực tế quá trình thu hút
FDI ở nước ta cũng đã chỉ ra rằng FDI có không ít mặt hạn chế.
1.3 Hạn chế của FDI
Nguồn vốn của FDI mang lại cho nước chủ nhà song trên thực tế do
chủ đầu tư quản lý trực tiếp và sử dụng theo những mục tiêu cụ thể của
mình( tuy nhiên trong khuôn khổ pháp luật của nước chủ nhà)
4
Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã lợi dụng chỗ sơ hở trong luật pháp
và trong quản lý của nhà nước để trốn thuế, gây tác hại đến môi trường
sinh thái và lợi ích của nước chủ nhà.
Chuyển giao công nghệ là mặt tác động lớn của FDI, song còn tồn tại
nhiều tiêu cực, trong đó có việc chuyển giao nhỏ giọt , từng phần và
thong thường là công nghẹ lạc hậu gây o nhiễm… với giá cao hon mặt

- ODA là hình thưc viện trợ chính thức không bao gồm các khoản tài
trợ tư nhân kể cả khi có chính phủ nước đó đứng ra bảo lãnh.
5
- Cũng tương tự viện trợ của các tổ chức phi chính phủ( NGOs) cũng
không được tính vào ODA, mặc dù các tổ chức này vẫn nhận được sự hỗ
trợ về tài chính của chính phủ.
Để phân biệt viện trợ và cho vay, các nước đã có quy ước chỉ khi nào yếu
tố cho không( tức là bộ phận không phải hoàn lai) chiếm từ 25% tổng số
viện trợ trở lên thì khoản viện trợ đó mới được coi là ODA
2.2Vai trò tích cực của ODA
Cũng như FDI, ODA có một vai trò quan trọng dặc biệt. Nó có vai trò bổ
sung nguồn vốn trong nước. Dưới dạng viện trợ không hoàn lại, ODA sẽ
giúp tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân
lực, hoàn thiện cơ cấu kinh tế. Nó tác động tích cực đến quá trình phát
triển kinh tế xã hội, ngoài ra, ODA còn có tác động tăng khả năng thu hút
vốn FDI và tạo điều kiện mở rộng đầu tư phát triển.
Tuy nhiên, ODA cũng có những hạn chế, tiêu cực do nguyên nhân khách
quan hoặc chủ quan.
2.3 Hạn chế của ODA
Các nhà tài trợ ODA đặt ra những quy chế và thủ tục khá phức tạp, từ
khâu chuẩn bị chương trình dự án đến việc ký kết và giải ngân, mà nước
chủ nhà muốn nhận viện trợ buộc phải chấp nhận. Hơn nữa ODA và
chính trị đi liền với nhau. Các nước và các tổ chức cung cấp ODA thường
hay gắn với nhau nhiều điều kiện để mưu tìm lợi ích kinh tế hoặc chính
trị. Trong số các điều kiện được đặt ra, không ít điều kiện không phù hợp
với định hướng chiến lược phát triển của nước chủ nhà.
Bên cạnh đó là nhưng hạn chế do chính sách sử dụng và quản lý của
nước chủ nhà. ODA uy có phần ưu đãi song lại là nguồn vốn vay phải trả
trong một thời gian nhất định. Vì thế, nó đòi hỏi sự chuẩn bị, phân tích và
cân nhắc kỹ càng trước khi tiếp nhận.

ngoài vào Việt Nam.
1.1.2Nhưng chúng ta cũng phải xem xét đến các khó khăn đang phải
đối mặt:
Do nhận thức tư tưởng về đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa nhất quán
thông suốt. Một mặt , do chúng ta thiếu vốn trầm trọng nên muốn khuyến
khích thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để xây dựng, phát triển đất
nước. Mặt khác, chúng ta lại sợ sự phát triển của cởu nghĩa tư bản ngay
trong lòng nước ta mà không khống chế được nên lại tìm cách ngăn chặn.
Việc đóng mở thất thường sẽ làm các nhà đầu tư ngán ngại, không muốn
đầu tư lớn và lâu dài ở nước ra.
Do môi trường đầu tư của Việt Nam chưa đủ sức hấp dẫn. Tuy chính phủ
Việt Nam đã thường xuyên lắng nghe các nhà đầu tư và ban hành nhiêù
biện pháp cải thiện moi trường đầu tư, nhưng hiện nay vẫn còn nhiều
vuớng mắc. Môi trường đầu tư của ta còn nhiều rủi ro, một số lợi thế so
sánh đã bị mất đi, chính sách về thuế , ngoại hối thường thay đổi quá
nhanh, thị trường còn hạn hẹp. Đặc biệt là yếu tố thị trường, sức mua ở
nước ta còn rất hạn hẹp. Những sản phẩm mà thị trường có sức tiêu thụ
khá thì nhiều công ty trong và ngoài nước đã đầu tư và hiện năng lực sản
xuất đã vượt quá sức mua, như: ximăng, đường, xe máy, thép xây dựng…
Còn nhiều mặt hang khác, thị trường Việt Nam lại chưa có nhu cầu hoặc
nhu cầu còn quá nhỏ. Khi không có thị trường, không có người mua thì
chúng ta không thể thuyết phục nhà đầu tư đổ thêm vốn vào Việt Nam.
Còn đầu tư ở Việt Nam dể xuất khẩu ra nước ngoài thì chúng ta đã và
đang để mất nhiều lợi thế
7
Do thiếu một hệ thống luật pháp và đầu tư hoàn chỉnh. Trong nhiều năm
qua, Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam đã được sửa đổi nhiều lần
nhằm tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng hệ thống pháp
luật về đầu tư vẫn thiếu sự đồng bộ nhất quán , thiếu tính rõ rang dẫn đến
nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau làm cho các nhà đầu tư ngần ngại

đạt trình đọ quốc tế, thúc đẩy khai thác nhanh các dự án công nghiệp điện
tử, ô tô, xe máy, hoá chất , dệt may giày dép.. và góp phần thay đổi bộ
mặt của đất nước ta. ĐTNN đã góp phần nâng cao năng lực của nền kinh
tế với nhiều công nghệ mưói hiện đại, tạo ra một bước ngoặt quan trọng
trong một số ngành kinh tế mũi nhọn.
8
Năm Số dự án
( Triệu USD)
Vốn đăng ký
(Triệu USD)
Vốn thực hiện
(Triệu USD)
Quy mô dự án
(Triệu USD)
1988 37 366 - 9.9
1989 70 539 - 7.7
1990 106 677 - 6.4
1991 149 1294 213 8.7
1992 195 2036 394 10.4
1993 273 2652 1099 9.7
1994 371 4071 1946 11.0
1995 412 6616 2671 16.1
1996 368 8640 2646 23.5
1997 331 4511 3250 13.6
1998 275 3596 1900 13.1
1999 308 1566 1519 5.1
2000 344 1973 2228 5.7
Tổng 3.239 38540 17886 11.9
Bảng 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ1988-2000
Nguồn: Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư

Singarpore 251 5.331.304 1.820.679
Đài Loan 646 4.889.125 2.199.799
Nhật Bản 332 3.551.815 1.863.846
Hồng Kông 325 3.257.953 1.471.364
Hàn Quốc 298 3.138.304 1.287.439
Pháp 157 2.176.807 1.254.026
Islands 94 1.779.506 718.135
LB Nga 62 1.319.661 912.726
Mỹ 121 1.341.442 629.853
Anh 41 1.133.716
Nguồn: Bộ Kế Hoạch Và Đầu tư
Nhìn vào số vốn và số dự án của từng quốc gia có thể thấy quy mô vốn bình
quân của từng quốc gia như sau: Anh 27,63 triệu;Singarpore:21,24 triệu;
Islands 18,93 triệu;Pháp 13,86 triệu; Mỹ 11,08 triệu; Nhật 10,69 triệu; Hàn
quốc 10,53 triệu; Hông Kông 10,02 triệu; Đài Loan7,57 triệu; Nga 21,27
triệu.Như vậy có thể nói rằng các quốc gia đầu tư quan tâm đến nhiều lĩnh vực
khác nhau chứ không chú trọng vào một lĩnh vực nào cả. Ngày càng xuất hiện
nhiều các công ty xuyên quốc gia, các tập đoàn có năng lực tài chính và tiền
tệ, công nghệ. Đạc biệt những chính sách thích hợp để chuyển hướng thu hút
đầu tư của Việt Nam trong năm 1998 đã có tác động tích cực nên cơ cấu đối
tác nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp đã coa sự thay đổi quan trọng.
Nếu như giai đoạn đầu các chủ đầu tư lớn đều thuộc các nước láng giềng, thì
10
gần đây ĐTNN từ các nước châu Âu, Mỹ tiếp tục chiếm tỷ lệ cao trong tổng
số vốn đầu tư
1.2.3 Phân tích cơ cấu đầu tư theo ngành cho thấy: Các dự án ĐTTTNN đã
có mặt ở hầu khắp mọi ngành của nền kinh tế quốc dan và đang có sự chuyển
dich cho phù hợp với yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá
đất nước. Nếu giai đoạn đầu các dự án đầu tư chủ yếu tập trung vào xây dựng
khách sạn, nhà hang, văn phòng cho thuê; thì ngày nay chủ yếu tập trung vào

Chúng ta tiếp tục phân tích trong 2 năm 1999 và 2000. Trong năm 1999. cơ
cấu ĐTTTNN tiếp tục chuyển dịch phù hợp hơn nữa với yêu cầu CNH-HĐH.
Trong 308 dự án được cấp phép co 255 dự án đầu tư vào khu vực sản xuất vật
chất( chiếm 82,8%) và vốn đăng ký đạt1,049 triệu USD, chiếm 67% vốn đăng
ký. Trong năm 2000, ĐTTTNN có sự chuyển biến lớn về chất so với các năm
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status