6 những biện pháp cụ thể để huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - Pdf 23

Lời Mở Đầu
Việt Nam xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ phát triển,
KTXH ở mức thấp hơn rất nhiều so với nước khác. Với tốc độ phát triển nhanh
chóng của các nước phát triển, thì khoảng cách kinh tế ngày càng dãn ra.Vì vậy
nhiệm vụ phát triển kinh tế của nước ta trong những năm tới là vượt qua tình
trạng của một nước nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân và từng bước hội
nhập vào quỹ đạo kinh tế Thế Giới.
Tính tất yếu của XKTB với hình thức cao của nó là hình thức đầu tư trực
tiếp nước ngoài là xu thế phát triển của thời đại. Việt Nam cũng không nằm
ngoài trong luật đó nhưng vấn đề đặt ra là thu hút FDI như thế nào.
Với mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp và tiến hành
công nghiệp hoá và hiện đại hoá với mục tiêu lâu dài là cải biến nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế phù
hợp … cộng với thực hiện mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế trong đó có
việc nâng cao GDP bình quân đầu người lên hai lần như đại hội VII của Đảng đã
nêu ra. Muốn thực hiện tốt điều đó cần phải có một lượng vốn lớn. Muốn có
lượng vốn lớn cần phải tăng cường sản xuất và thực hành tiết kiệm. Nhưng với
tình hình của nước ta thì thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng cũng là một cách
tích luỹ vốn nhanh có thể làm được. Đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực
tiếp nói riêng là một hoạt động kinh tế đối ngoại có vị trí vai trò ngày càng quan
trọng, trở thành xu thế của thời đại. Đó là kênh chuyển giao công nghệ, thúc đẩy
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm và thu nhập, nâng cao
tay nghề cho người lao động, năng lực quản lý, tạo nguồn thu cho ngân sách…
Trên cơ sở thực trạng của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, ta cũng cần
phải chú ý tới vấn đề tính tiêu cực của đầu tư TTNN. Cũng không phải là một
nước thụ động để mất dần vị thế mà xem vốn ĐTNN là quan trọng nhưng vốn
trong nước trong tương lai phải là chủ yếu.
Nhận thức đúng vị trí vai trò của đầu tư nước ngoài là hết sức cần thiết.
Chính phủ cũng đã ban hành chính sách đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Đồng
thời tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng ta bằng
những biện pháp mạnh về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh… để thu hút

nữa. Mặt khác các nước lạc hậu hơn có lợi thế về đất đai, nguyên liệu, tài
nguyên nhân công… lại đưa lại cho nhà đầu tư lợi nhuận cao, ổn định, tin cậy và
giữ vị trí độc quyền
Theo Lê Nin " Xuất khẩu tư bản" là một trong năm đặc điểm kinh tế của
chủ nghĩa đế quốc, thông qua xuất khẩu tư bản, các nước tư bản phát triển thực
hiện việc bóc lột đối với các nước lạc hậu và thường là thuộc địa của nó: Nhưng
ông không phủ nhận vai trò của nó. Trong thời kỳ đầu của chính quyền Xô Viết,
Lê Nin chủ trương sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài và khi đưa ra "Chính
sách kinh tế mới" đã nói rằng những người cộng sản phải biết lợi dụng những
thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của chủ nghĩa Tư Bản thông qua hình
thức kinh tế và khoa học kỹ thuật của chủ nghĩa Tư Bản thông qua hình thức "
Chủ nghĩa Tư Bản nhà nước" đã nói rằng những người cộng sản phải biết lợi
dụng những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản thông
qua hình thức "chủ nghĩa tư bản nhà nước". Theo quan điểm này nhiều nước đã
"chấp nhận phần nào sự bóc lột của chủ nghiã tư bản để phát triển kinh tế, như
thế có thể còn nhanh hơn là sự vận động tự thân của mỗi nước. Tuy nhiên việc
"xuất khẩu tư bản" phải tuân theo pháp luật của các nước đế quốc vì họ có sức
mạnh kinh tế, còn ngày nay thì tuân theo páhp luật, sự điều hành của mỗi quốc
gia nhận đầu tư.
2. Các hình thức xuất khẩu tư bản.
Gồm c ó hai hình thức chính:
Xuất khẩu tư bản cho vay: là hình thức cho chính phủ hoặc do tư nhân
vay nhằm thu được tỷ suất cao.
Xuất khẩu tư bản hoạt động: là đem tư bản ra nước ngoài, mở mang xí
nghiệp tiến hành sản xuất ra giá trị hàng hoá, trong đó có giá trị thặng dư tại
nước nhập khẩu.
Đầu tư hoạt động gồm có đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Đầu tư trực tiếp: là đầu tư chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngaòi đầu tư toàn
bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm dành quyền điêù hành hạơc
tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương

Theo phân tích đánh giá của LêNin thì sự phát triển của đầu tư trực tiếp
nước ngoài luôn gắn với lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư banr. Xuất phát từ
điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới lúc bấy giờ mà Lênin cho rằng
loại vốn được sử dụng dưới sạng đầu tư trực tiếp nước ngoài là công cụ bóc lột,
là hình thức chiếm đoạt của chủ nghĩa tư bản. Và theo quan niệm củaR.Nurkse
quan niệm, dù "đầu tư trực tiếp nước ngoài trước hết phục vụ cho lợi ích của các
nước công nghiệp xuất vốn chứ chưa phải nước nhận vốn"{32, 26} tuy nhiên là
nhân tố quan trọng, là giải pháp tích cực để cho nền kinh tế chậm phát triển có
thể "vươn tới thị trường mới". Mặc dù, đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn
cung cấp một lượng vốn đáng kể cho công nghiệp hoá, cho tăng năng suất lao
động, tăng thu nhập…. làm phá vỡ sự khép kín của vòng luẩn quẩn, nhưng nó
không phải là tất cả mà nó chỉ phát huy tác dụng khi khả năng tích luỹ vốn bằng
con đường tiết kiệm nội bộ của một nước đạt tới mức nhất định. Cũng như
R.Nurkes, quan điểm của A. Samuelson coi vốn là yếu tố quyết định đảm bảo
cho hoạt động có năng suất cao, hay nói cách khác, vốn là yếu tố có sức mạnh
nhất có thể làm cho "vòng luẩn quẩn" dễ bị phá vỡ. Theo quan điểm của hai ông
nhấn mạnh, đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, mức thu nhập thấp,
chỉ đủ sống ở mức tối thiểu, do đó khả năng tích luỹ hạn chế và để "tích luỹ vốn
cần phải hy sinh tiêu dùng trong nhiều thập kỷ". Vì vậy A.Samuelson đặt vấn
đề: Đối với nước nghèo, nếu có nhiều trở ngại như vậy như vậy đối với việc cấm
thành tư bản do nguồn tài chính trong nước, tại sao không dựa nhiều hơn vào
những nguồn vốn nước ngoài?
2. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
a. Khái niệm
Về mặt kinh tế: FDI là một hình thức đầu tư quốc tế đặc trưng bởi quá
trình di chuyển tư bản từ nước này qua nước khác. FDI được hiểu là hoạt động
kinh doanh, một dạng kinh doanh quan hệ kinh tế có quan hệ quốc tế. Về đầu tư
quốc tế là những phương thức đầu tư vốn, tư sản ở nước ngoài để tiến hành sản
xuất kinh doanh dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu
kinh tế, xã hội nhất định.

nguyên nhân sau. Thứ nhất, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản
xuất, đời sống vật chất ngày một nâng cao, vì vậy mà nhu cầu về các loại dịch
vụ phục vụ đời sống và sản xuất kinh doanh tăng lên mạnh mẽ, nhất là dịch vụ
kỹ thuật, tài chính, du lịch, đòi hỏi ngành dịch vụ phải được phát triển tương
ứng. Thứ hai, ngành công nghiệp chế biến là ngành có nhiều phân ngành, mà
những phân ngành đó thuộc các lĩnh vực mũi nhọn của cuộc cách mạng khoa
học - công nghệ, như điện tử, thông tin liên lạc, vật liệu mới… Thứ ba, do đặc
tính kỹ thuật của hai ngành này là dễ dàng thực hiện sự hợp tác. Ví dụ như
ngành công nghiệp chế tạo có những quy trình công nghệ có thể phân chia ra
nhiều công đoạn và tuỳ theo thế mạnh của mỗi nước có thể phân chia ra nhiều
công đoạn và tuỳ theo thế mạnh của mỗi nước có thể thực hiện một trong những
khâu mà hai ngành này cho phép nhà đầu tư thu được lợi nhuận cao, đỡ gặp rủi
ro hơn và nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư. Vì vậy mà hầu hết các nước đều tập
trung mọi cố gắng điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
hai ngành này. Xuất phát từ yêu cầu phát triển một cơ cấu kinh tế hiện đại theo
hướng CNH mà chính phủ của nhiều nước đang phát triển đã dành nhiều ưu đãi
cho những nước ngoài đầu tư vào hai ngành này, điều đó tạo ra sức hấp dẫn
mạnh mẽ đầu tư trực tiếp nước ngoài.
* Hiện tượng hai chiều trong đầu tư trực tiếp nước ngoài
Từ những năm 70 và đầu những năm 80 trở lại đây, đã xuất hiện hiện
tượng hai chiều, tức là hiện tượng một nước vừa tiếp nhận đầu tư vừa đầu tư ra
nước ngoài. Điển hình như Mỹ, các nước thuộc nhóm G7, các nước công nghiệp
mới (NICs)… nhận vốn đầu tư nhiều và trực tiếp đầu tư lớn. ở các nước NICs là
những nước tiếp nhận đầu tư trực tiếp nhiều nhất từ Mỹ và Nhật Bản. Đài Loan
và Hồng Kông là hai trong số 10 nước đầu.
3. Mục tiêu và các yếu tố đảm bảo cho CNH, HĐH của Việt Nam
Việt Nam khi tiến hành CNH về thực chất là thực hiện sự chuyển biến từ
một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế công nghiệp phát triển.
Việt Nam đã tiến hành CNH từ những năm 60 theo phương thức "ưu tiên phát
triển công nghiệp nặng đồng thời phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ".

Quá trình toàn cầu hoá đã giúp Việt Nam tăng thu hút đầu tư nước ngoài,
viện trợ phát triển chính thức và giải quyết được vấn đề nợ quốc tế. Điều này đã
góp phần ổn định cán cân thu chi ngân sách tập trung nguồn lực cho trương trình
phát triển kinh tế xã hội trong nước. Tham gia hội nhập kinh tế cũng góp phần
cho ta tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý, và cán bộ
kinh tế. Điều này góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp
với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nếu xét ở phạm vi hẹp hơn, Việt Nam nằm trong vùng Châu á- Thái Bình
Dương hiện đang là khu vực kinh tế năng động, có tốc độ tăng trưởng tương đối
cao, có nhiều nước thực hiện công nghiệp hoá thành công, tạo ra một sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động quốc tế theo hướng tích cực. Châu á-
Thái Bình Dương hiện đang là khu vực có sự hình thành một tổ chức hợp tác
kinh tế có hiệu quả như AITA, APEC…. Các tổ chức này là điều kiện quan
trọng để phá bỏ những hạn chế, cản trở, không những trong lĩnh vực mậu dịch,
mà nó còn là cơ sở mở đường cho sự dịch chuyển vốn, công nghệ và các yếu tố
sản xuất quan trọng giữa các nước trong khu vực.
Vì thế, Việt Nam thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở điểm xuất
phát thấp so với các nước đi trước tuy còn ở mức thấp hơn nhiều về thực lực
kinh tế nội sinh nhưng có bối cảnh kinh tế quốc tế có nhiều thuận lợi.
b) Mục tiêu và các yếu tố đảm bảo cho sự thành công trong công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
Đối với Việt nam thực chất "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình
chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và
quản lý kinh tế, xã hội và sử dụng lao động thủ công là chính, xong sử dụng một
cách phổ biến mức lao động cùng với công nghệ, phương tịên và phương pháp
tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học công
nghệ, tạo ra năng suất lao động cao. Mục tiêu lâu dài của công nghiệp hoá, hiện
đại hoá là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế phù hợp, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với
trình độ phát triển của sức sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc

chính bản thân yêu cầu của các hoạt động sản xuất kinh doanh quyết định sự
chuyển biến về cơ cấu theo hướng cơ cấu của một nền kinh tế CNH, HĐH. Và,
sự chuyển biến này cũng là điều kiện để có được những tiềm lực khoa học kỹ
thuật và công nghệ thích ứng với đòi hỏi của nền kinh tế CNH, HĐH.
Thứ tư, có quan hệ kinh tế đối ngoại rộng rãi và hiệu quả. Đây là luồng
quan trọng nhằm thu hút tốt nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, tri thức
quản lý tiên tiến và khả năng hoà nhập với nền kinh tế thế giới để giảm bớt
những bước tìm tòi, thử nghiệm, tiếp cận nhanh những tri thức, thanh tựu tiên
tiến của thế giới, rút ngắn những bước đi của công cuộc CNH, HĐH.
Thứ năm, có một thị trường đầy đủ, rộng khắp (kể cả thị trường trong và
ngoài nước) và hoàn chỉnh như là điều kiện thực hiện các yêu cầu CNH, HĐH.
Thị trường là điều kiện thực hiện các yêu cầu CNH, HĐH. Thị trường là điều
kiện vì chỉ có thông qua nó thì mọi yếu tố đầu vào, đầu ra mới có thể được đáp
ứng và phần lớn các quan hệ sản xuất - kinh doanh mới được giải quyết. Thị
trường vốn, thị trường tư liệu sản xuất, thị trường kỹ thuật - công nghệ, thị
trường lao động… đi vào hoạt động càng hoàn chỉnh thì tác dụng thúc đẩy sản
xuất phát triển cũng như tiến trình hoàn thành CNH, HĐH càng cao.
c) Một số yêu cầu và những vấn đề đặt ra của tiến trình CNH, HĐH ở
Việt Nam đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Thu hút vốn nước ngoài, một mặt góp phần giải quyết một trong những
tiền đề cơ bản, mang tính chất quyết định sự khởi động cho sự nghiệp CNH,
HĐH. Mặt khác, làm điều kiện kết hợp các yếu tố nội lực để khai thác tốt các
tiềm năng trong nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng và chuyển biến nền kinh tế
theo cơ cấu của một nền kinh tế công nghiệp.
- Góp phần đổi mới công nghệ, trang bị kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế
quốc dân, nâng cao năng lực cho người lao động và tiếp thu kinh nghiệm quản
lý tiên tiến.
- Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động.
- Hình thành một thị trường đồng bộ, mở rộng và góp phần làm tăng khả
năng thanh toán của thị trường tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ… Mở rộng giao lưu

ty mẹ sẽ có các biện pháp hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, trợ giúp tài chính.
Trong tình huống xấu nhất thì họ cũng sẽ là người cùng chia sẻ rủi ro với các
công ty của các nước sở tại.
FDI vào Việt Nam sẽ tạo ra các tác động tích cực đối với việc huy động
các nguồn vốn khác như ODA, NGO. Nó tạo ra một hình ảnh đẹp đáng tin cậy
về Việt Nam trong các tổ chức và cá nhân nước ngoài. Mặt khác, ngay trong
quan hệ đối nội, FDI còn có tác dụng kích thích đối với việc thu hút vốn đầu tư
trong nước.
Tích luỹ vốn ban đầu cho công nghiệp hoá bằng cách khai thác tối đa
nguồn vốn trong nước và tranh thủ nguồn vốn từ bên ngoài là phù hợp với thời
đại hiện nay, thời đại của sự hợp tác và liên kết quốc tế.
2. Chuyển giao công nghệ mới
Với chiến lược xây dựng Việt Nam thành nước công nghiệp, theo đuổi
con đường CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN, tuy nhiên khoảng
cách về phát triển khoa học công nghệ giữa các nước phát triển, nhất là Việt
Nam, với các nước công nghiệp phát triển. Vì thế một trở ngại một trở ngại rất
lớn trên con đường phát triển kinh tế là trình độ kỹ thuật - công nghệ lạc hậu.
Tuỳ vào hoàn cảnh của mỗi nước mà có cách đi riêng để giải quyết vấn đề này.
Việc mà các nước đang phát triển tự nghiên cứu để phát triển khoa học kỹ thuật
cho kịp với trình độ của các nước phát triển là việc khó khăn và tốn kém. Con
đường nhanh nhất để phát triển kỹ thuật - công nghệ và trình độ sản xuất của các
nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay là phải biết tận dụng được những
thành tựu kỹ thuật - công nghệ hiện đại trên thế giới, tuy nhiên mức độ hiện đại
đến đâu còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong điều kiện hiện nay, trên thế giới
có nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài
và thực hiện chuyển giao công nghệ cho nước nào tiếp nhận đầu tư. Thì đây là
cơ hội cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam có thể tiếp thu được
kỹ thuật - công nghệ thuận lợi nhất. Nhưng không phải các nước đang phát triển
được "đi xe miễn phí" mà họ cũng phải trả một khoảng "học phí" không nhỏ cho
việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ này. Chuyển giao công nghệ cũng là yêu

bị máy móc thiết bị, công nghệ, nền sản xuất công nghiệp trong thời gian qua đã
đạt tốc độ nhanh và chiếm tỉ trọng ngày càng tăng trong GDP. Trong 9 tháng
đầu năm 1996, giá trị sản lượng trong khu vực có vốn FDI chiếm 21,7% tổng
sản lượng công nghiệp. Hiện nay khu vực này chiếm 100% về khai thác dầu thô,
44% về sản lượng thép, hầu hết lĩnh vực lắp ráp ô tô, xe máy, và sản xuất bóng
hình là do các cơ sở này nắm giữ. Qua đây thấy vai trò FDI trong sản xuất công
nghiệp của Việt Nam hiện nay.
FDI thực sự đã có vai trò to lớn với sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế thông
qua việc đầu tư nhiều hơn vào ngành công nghiệp. Vì ngành công nghiệp có
năng suất lao động cao nhất và tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, nên FDI đã góp
phần to lớn vào tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế quốc dân.
Để trở thành một quốc gia công nghiệp hoá vào năm 2020 và để nền kinh
tế Việt Nam có thể hội nhập với khu vực và thế giới, một đòi hỏi bức xúc là phải
đẩy nhanh hơn nữa quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
Thúc đẩy quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế
giới.
Hoạt động của đầu tư đã giúp Việt Nam mở rộng hơn thị phần nước
ngoài. Góp phần làm chuyển biến nền kinh tế Việt Nam theo hướng của một nền
kinh tế hàng hoá. Đối với Việt Nam, vốn FDI đóng vai trò như lực khởi động,
như một trong những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của công nghiệp hoá -
hiện đại hoá. Một số dự án FDI góp phần làm vực dậy một số doanh nghiệp Việt
Nam đang trong điều kiện khó khăn, sản xuất đình đốn nguy cơ phá sản.
Chương hai
Vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
ở Việt Nam
I. Thực trạng của đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
1. Trước khi mở cửa
Chỉ sau hai năm sau ngày thống nhất đất nước. Ngày 18-7-1977 chính phủ
nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành điều lệ về đầu tư của
nước ngoài ở CHXHCN Việt Nam trong đó: "Chính phủ nước CHXHCN Việt

mức 37 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký 342 triệu USD năm 1988 lên 326
dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký 8640 triệu USD năm 1996.
Giai đoạn sau 1996: FDI vào Việt Nam liên tục giảm. Trong giai đoạn
1997-2000 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm trung bình khoảng 24% một
năm. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giảm đáng kể từ mức vốn đầu tư đăng ký
khoảng 8,6 tỷ USD năm 1996 xuống còn 1,9 tỷ USD năm 2000. Ngoài ra, trong
giai đoạn này, còn có một xu hướng khác rất đáng lo ngại và vốn đầu tư giải thể
tăng cao hơn nhiều so với giai đoạn trước. Tổng số vốn đầu tư giải thể giai đoạn
1997-2000 khoảng 2,56% tỷ USD so với 2,69 tỷ USD của năm trước đó cộng
lại.
Tính đến cuối năm 2002 đã có hơn 4500 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
(ĐTTTNN) được cấp giấy phép đầu tư với tổng vốn đăng ký và tăng vốn đạt
trên 80 tỷ USD. Trừ các dự án giải thể trước thời hạn hoặc đã hết hạn hoạt động,
hiện có trên 3670 dự án đang có hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt trên 39 tỷ
USD. Trong đó có gần 2000 dự án đang triển khai hoạt động kinh doanh. 980 dự
án đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản và làm các thủ tục hành chính, gần 700
dự án chưa triển khai do nhiều nguyên nhân. Tổng số vốn đầu tư thực hiện của
các dự án đã cấp giấy phép khoảng 24 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện của các
dự án còn hiệu lực là trên 21 tỷ USD. Đầu tư nước ngoài chủ yếu dựa vào lĩnh

Trích đoạn hình thức khen thưởng và kỷ luật nghiêm minh đối với những cá nhân và tỔ chức trong viẹec thực hiện chủ trương quan trọng và có ý nghĩa thời sự trọng đạ Biện pháp nâng cao hiệu lực hiệu quả sử dụng FD
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status