Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Thiết bị chuyển đổi Telecine FDL Quadra" - Pdf 91

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài "Thiết bị chuyển đổi Telecine FDL
Quadra"
Lớp Công Nghệ Điện Ảnh Truyền Hình k26 Sinh Viên: Vu Văn A
1
MỤC LỤC
A. Phần mở đầu:
I.1. Lời giới thiệu --------------------------------------------------------------
I.2. Lý do chọn đề tài----------------------------------------------------------------
I.3: Mục đích nghiên cứu.-----------------------------------------------------------
I.4: Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.------------------------------
I.4.2: Phạm vi nghiên cứu-----------------------------------------------------------
I.5: Phương pháp nghiên cứu-------------------------------------------------------
I.6: Kết cấu của đồ án tốt nghiệp---------------------------------------------------
CH¦¥NG I : C¥ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG CỦA
THIẾT BỊ CHUYỂN ĐỔI TELECINE
I.1 Lịch sử của thiết bị chuyển đổi Telecine và ------------------------------------
các phương pháp chuyển đổi khung hình cho
phù hợp giữa truyền hình và điện ảnh
I.I.1 Lịch sử của thiết bị chuyển đổi Telecine---------------------------------
I.I.2 Các phương pháp được đưa ra---------------------------------------------
I.I.3 Một số chuẩn băng, phim nhựa, video và nhược điểm ----------------
của quá trình chuyển phim sang băng
I.I. 3.A: Các dạng tín hiệu video tương tự.--------------------------------
I.I. 3.B. Các dạng tín hiệu video số.----------------------------------------
I.I. 3.C: Các tiêu chuẩn định dạng tín hiệu video.------------------------
I.I.4. Điểm qua về truyền hình chất lượng cao HDTV---------------------
I.I.4.A Một số chuẩn băng, phim nhựa, video hiện hành---------------
I.I.5 Phương pháp quét tia điện tử và nguyên lý-----------------------------
làm việc của thể loại máy TELECINE-----------------------------------
I.I.5.a Phương pháp quét tia điện tử---------------------------------------

cứu thiết bị chuyển đổi Telecine FDL Quadra
III.1.a. Kỹ thuật số ứng dụng trong thiết bị------------------
chuyển đổi Telecine
III.1.b. Ưu điểm của các thiết bị chuyển đổi----------------
Telecine hiện nay
III.1.c. Nhược điểm của các thiết bị chuyển đổi ------------
Telecine hiện nay
Bộ phận quyết định chất lượng hình ảnh – hướng giải quyết--------------
C: Phần kết luận
Lời cảm ơn
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này trước tiên em xin chân thành cảm ơn
toàn thể các thầy cô giáo trong Trường Đại Học Sân Khấu Điện Ảnh Hà Nội Nói
chung và toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Kinh Tế Kỹ Thuật Điện Ảnh nói
riêng.
Đồng thời em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đên thầy giáo hướng dẫn
thực tập, Thầy Đỗ Quốc Dũng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, tạo mọi điều kiện
thuận lợi để cho e hoàn thành đề tài này một cách tốt nhất.
Từ đầu học kỳ II của năm học 2009-2010, nhà trường và thầy trưởng khoa,
NGƯT – TS Nguyễn Xuân Thành đã tạo mọi điều kiện cho em được đi thực tập tại
Lớp Công Nghệ Điện Ảnh Truyền Hình k26 Sinh Viên: Vu Văn A
3
Trung Tâm Kỹ Thuật Điện Ảnh trong khoảng thời gian từ 19/3 đến 10/5/2010,
trước khi bước vào thực tập chính thức tại xưởng kỹ thuật Video và phụ đề phim
Negative của Trung tâm. Được đến tham quan và thực hành ở xưởng in tráng của
trung tâm Kỹ Thuật Điện Ảnh em mới thấy được tầm quan trọng của việc in tráng
và sự phát triển của nền điền điện ảnh Việt Nam. Sau đó, trong khoảng thời gian
thực tập chính thức tại tại xưởng kỹ thuật Video và phụ đề phim Negative, được sự
chỉ bảo hết sức tận tình của thầy Nguyễn Quốc Dũng em có thể học cách vận hành
máy, tháo lắp phim, trực tiếp tìm hiểu trên máy móc thực tế.
Bên cạnh đó em muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các anh, chị tại

ngoài. Đó là điều có thể hiểu được khi máy quay phim nhựa của chúng ta cũ hơn
máy quay phim nước ngoài bao nhiêu thế hệ máy do đó chất lượng hình ảnh và độ
rung hình cho phép cũng không thể so sánh được với phim của các nước lân cận
như Trung Quốc, Thái Lan .. chú đừng nói đến Mỹ và các nước Tây Âu. Về âm
thanh chúng ta cũng khô thể bằng họ khi mà họ đx phát triển lên từ bốn đến 6
đường tiếng trên một bản phim, hay 7 kênh Dolby. Đó là âm thành Sourround, âm
thanh vòng, âm thanh lập thể đa chiều. Hay chí ít thì các thiết bị điện tử khác dùng
băng từ, đĩa ngày nay họ cũng đã tiến tới hai kênh đường tiếng để có hiệu ứng âm
thanh thay cho âm thanh mono truyền thống.

Vậy tại sao quy trình công nghệ điện ảnh lại phát triển?
Ngày xưa khi nền khoa học kỹ thuật chưa phát triển thì những ứng dụng của kỹ
thuật đện tử số vào điện ảnh và truyền hình còn rất hạn chế, nguồn băng từ dùng
trong truyền hình rất hiếm. Người ta phải dùng phim nhựa để quay, khi về họ in
tráng rồi nhờ máy chiếu lên màn ảnh. Sau đó dùng camera thu lại. Tế bào quang
điện biến tín hiệu quang thành tín hiệu điện đưa vào bộ trộn sóng và phát lên truyền
hình. Trong quy trình đó xuất hiện một số nhược điểm sau
Qua cả một khâu in tráng rất cầu kỳ, tốn kém người làm biên tập gặp rất nhiều
khó khăn không như dùng băng từ quay về là có thể biên tập được ngay và phát trực
tiếp dễ dàng. Một nhược điểm nữa là phương pháp trên vẫn chưa khắc phục được
sự đồng bộ của tần số chiếu phim nhựa và tần số phát của truyền hình.

Ngày nay với sư phát triển của khoa học kỹ thuật. Quy trình công nghệ điện
ảnh hiện đại ra đời cho phép khắc phục những thiếu sót đó và chất lượng hình ảnh
đã được nâng cao rõ rệt.
Sự đồng bộ ăn khớp nhau và nhất là sự chuyển đổi thể loại lưu giữ tín hiệu
trên vật liệu ghi một cách dễ dàng, nhanh chóng. Giữa băng từ, phim nhựa các cỡ,
đĩa VCD, CD – rom, thực hiện chuẩn nén hình ảnh MPEG. Đó là cách chuyển hóa
và ứng dụng một cách hài hóa giữa điện nahr và truyền hình nhờ các thiết bị điện tử,
tin học, điện tử số. Truyền hình phát triển mạnh mẽ nhờ ứng dụng các thiết bị của

thiết bị chuyển đổi Telecine FDL Quada để hiểu sâu hơn về quá trình chuyển đổi đó
mà em mới được nghe và học qua trong suốt quá trình theo học tại trường Đại Học
Sân Khấu Điện Ảnh.
Qua quá trình tìm hiểu nghiên cứu tại Trung Tâm Kỹ Thuật Điện Ảnh, qua những
ý kiến tham khảo, đóng góp của Thầy Cô và bạn bè và đặc biệt là sự giúp đỡ chỉ
bảo tận tình của tất cả các chú, bác, ảnh chị trong xưởng Kỹ Thuật Video và phụ đề
phim Negative của Trung Tâm. Em đã được tiếp xúc và nghiên cứu về thiết bị
chuyển đổi Telecine FDL Quadra và hiểu biết thêm về một số thiết bị chuyển đổi
Telecine khác. Trong khóa luận tốt nghiệp này em xin trình bày đồ án của mình với
đề tài: “ Thiết bị chyển đổi Telecine FDL Quadra”. Trong đó em chỉ chú trọng đi
sâu vào hai hệ thống sau: Hệ thống quang học chiếu sáng và hệ thống cơ khí vận
chuyển phim.
Lớp Công Nghệ Điện Ảnh Truyền Hình k26 Sinh Viên: Vu Văn A
6
Em rất mong có sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để đồ
án của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
I.3: Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của đồ án tốt nghiệp của em là tìm hiểu cấu tạo, chức năng
và hoạt động của thiết bị chuyển đổi Telecine FDL Quadra đặc biệt đi sâu vào hệ
thống quang học chiếu sáng và hệ thống cơ khí vận chuyển phim. Hệ thống chuyển
đổi quang điện và các chuẩn đầu ra của thiết bị cũng được em nói đến để làm rõ
thêm về hai hê thống chính trong đồ án. Ngoài ra trong đồ án em còn tìm hiểu thêm
một số thiết bị chuyển đổi Telecine khác, để tìm ra cách cải tiến và xu hướng phát
triển của các thế hệ thiết bị chuyển đổi Telecine.
I.4: Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
I.4.1: Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của đồ án là thiết bị chuyển đổi Telecine FDL Quadra mà
Trung Tâm Kỹ Thuật Điện Ảnh đang khai thác và sử dụng.

B. Phần nội dung: Gồm 3 chương
CH¦¥NG I : C¥ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG CỦA THIẾT BỊ CHUYỂN ĐỔI
TELECINE
I.1 Lịch sử của thiết bị chuyển đổi Telecine và các phương pháp chuyển đổi khung
hình cho phù hợp giữa truyền hình và điện ảnh
I.I.1 Lịch sử của thiết bị chuyển đổi Telecine
I.I.2 Các phương pháp được đưa ra
I.I.3 Một số chuẩn băng, phim nhựa, video và nhược điểm của quá trình chuyển
phim sang băng
I.I. 3.A: Các dạng tín hiệu video tương tự.
I.I. 3.B. Các dạng tín hiệu video số.
I.I. 3.C: Các tiêu chuẩn định dạng tín hiệu video.
I.I.4.A1 Điểm qua về truyền hình chất lượng cao HDTV
I.I.4.A2 Một số chuẩn băng, phim nhựa, video hiện hành
I.I.5 Phương pháp quét tia điện tử và nghuyên lý làm việc của thể loại máy
TELECINE
I.I.5.a Phương pháp quét tia điện tử
I.I.5.b Nghiên cứu nguyên lý làm việc của thể loại máy TELECINE
A. Chức năng và nhiệm vụ của máy
Lớp Công Nghệ Điện Ảnh Truyền Hình k26 Sinh Viên: Vu Văn A
8
A.1 Chức năng
A.2 Nhiệm vụ
B. Giới thiệu chung về thiết bị chuyển đổi FDL Quadra và một số thiết bị chuyển
đổi Telecine khác
B.1 Giới thiệu về thiết bị chuyển đổi FDL Quadra
CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU VÀ KHẢO SÁT TÍNH NĂNG KỸ THUẬT CỦA
HỆ THỐNG QUANG HỌC, HỆ THỐNG CƠ KHÍ VẬN CHUYỂN PHIM VÀ
TÌM HIỂU MỘT SỐ HỆ THỐNG KHÁC CỦA THIẾT BỊ CHUYỂN ĐỔI
TELECINE QUADRA

chuyển đổi hình ảnh từ phim nhựa sang băng từ là phương pháp chuyển đổi trực
tiếp. Người ta chiếu phim nhựa lên màn ảnh và dùng Camera thu lại trên băng.
Cách chuyển đổi này được thực hiện khi công nghệ truyền hình bắt đầu phát triển
và nó được sử dụng rất nhiều vì khi đó các vật liệu ghi hình từ tính rất hiếm, nên có
thể làm được các chương trình truyền hình người ta thường sử dụng các phim nhựa
để quay mang về in tráng sau đó dùng máy chiếu chiếu lên màn ảnh. Dùng Camera
thu lại và phát sóng lên truyền hình. Đó chính là phương pháp chuyển đổi cổ điển
nhất và là cơ sở để ra đời các thiết bị Telecine.
I.I.2 Các phương pháp được đưa ra
Hình 1: thiết bị chuyển đổi Telecine
Thay vì việc chọn lọc một đầu ra chuẩn cho việc chuyển đổi từ phim sang băng thì
người ta quyết định đưa ra một giải pháp mới “ chuyển hình ảnh từ phim nhựa sang
một bản phim điện tử chuẩn”. Bản phim này đảm bảo được các tính chất ảnh số tạm
thời như bản phim nhựa gốc, có chứa toàn bộ những chi tiết hình ảnh thực nhờ lộ
sáng ở tốc độ 24h/s. Để là bản phim cho phim nhựa, tín hiệu video cũng phải được
quét vào ở tốc độ 24h/s. Tuy nhiên sự khác biệt khung hình giữa phim và truyền
hình ( phim 24 khung hình/s còn truyền hình 25 – 30 khung hình/s ) nghĩa là chỉ cần
chiếu một bộ phim lên truyền hình sẽ có sự nhấp nháy và có sự thay đổi giữa khung
hình phim và truyền hình.
Nguyên lý cơ bản nhất để điều chỉnh hiện tượng khuyết hình còn tồn tại cho các
chuẩn phim nhựa có mặt hiện nay đó là quét từng dòng theo chiều ngang phim và từ
cạnh trên xuống cạnh đáy khuôn hình theo chiều dọc. Bản phim điện tử sẽ được
dùng trong suốt quá trình hiệu chỉnh màu, độ mịn hạt và tu sửa, ổn định hình và nếu
có thể cả trong quy trình dựng sao cho đạt mục đích cuối cùng tại hộp chuyển đổi:
đầu ra của bản video theo tiêu chuẩn yêu cầu. Tại bộ chuyển đổi người ta có thể bật
công tắc lựa chọn hệ video cần sang tương ứng với các hệ đang được sử dụng.
Biện pháp được đưa ra cho việc chêng lệch giữa các khung hình tỷ lệ hay tốc độ đổi
hình từ 24 h/s sang 25 h/s hoặc 30 h/s là ta phải thực hiện hình nội suy, dùng tỷ lệ
giảm 3/ 2 tạo tốc độ 30 h/s hoặc 60 nửa ảnh / s
Lớp Công Nghệ Điện Ảnh Truyền Hình k26 Sinh Viên: Vu Văn A

phần chói Y, thành phần hiệu số màu R-Y và thành phần hiệu số màu B-Y. Tín hiệu
này là tín hiệu chưa mã hóa hệ màu, và chỉ phụ thuộc vào số dòng ảnh như 525
dòng/ảnh hoặc 625 dòng/ảnh, thuộc tiêu chuẩn FCC hoặc CCIR.
Tín hiệu video component đôi khi còn được gọi là Y, Cr, Cb hoặc Y, U, V. Các tín
hiệu này không phụ thuộc vào hệ màu.
♦ Tín hiệu video composite là tín hiệu video tổng hợp gồm thành phần chói Y
(luminance) và tín hiệu màu C (chrominance). Cả hai thành phần tín hiệu này được
kết hợp với nhau và có ký hiệu là Y+C.
Tín hiệu video composite là tín hiệu đã được mã hóa màu C, tùy theo hệ mã hóa
như hệ NTSC hoặc PAL hoặc SECAM, mà Burst màu sẽ có tần số fSC (sóng mang
màu phụ) khác nhau.
Lớp Công Nghệ Điện Ảnh Truyền Hình k26 Sinh Viên: Vu Văn A
12

Hình 7: Cổng ra tín hiệu video trong camera
- Video composite hệ NTSC có fSC là 3,58Mhz.
- Video composite hệ PAL có fSC là 4,43Mhz.
Video composite hệ SECAM có fSC(R) là 4,406Mhz và fSC(B) là 4,25Mhz.
♦ Tín hiệu S-Video hoặc S-VHS (Super Video Home System) là tín hiệu gồm thành
phần chói Y (luminance) và tín hiệu màu C (chrominance). Cả hai thành phần tín
hiệu này được tách riêng biệt và có ký hiệu là Y/C.
Tín hiệu C là tín hiệu màu đã được mã hóa tùy theo hệ màu như NTSC, hoặc PAL.
I.I. 3.B. Các dạng tín hiệu video số.
Tín hiệu gốc là tín hiệu video tương tự được chuyển đổi sang tín hiệu số được thực
hiện bởi công việc lấy mẫu tín hiệu với tần số lấy mẫu là fS phải lớn hơn hoặc bằng
hai lần tần số cao nhất của tín hiệu tương tự fa (fS ≥ 2.fa) và mỗi mẫu được lượng
tử hóa bởi các bit nhị phân với mã hóa 8 bit hoặc 10 bit. Kết quả xuất ra là tín hiệu
số dạng mã bit nhị phân kiểu song song hoặc cũng có thể kiểu dạng ra là các bit nối
tiếp tuỳ theo mạch chuyển đổi (hình 2).
Các thiết bị mới công nghệ số có các cổng giao tiếp dạng tín hiệu vào và ra là tín

Tín hiệu B-Y: 13,5 x 10 = 135Mbit/s
Tốc độ bit truyền SDI là 405Mbit/s.
◊ HD-SDI tiêu chuẩn SMPTE 292M : Là tín hiệu video số có định dạng khuôn hình
tỉ lệ 9x16 hình ảnh độ phân giải cao HD (High Definition). Được xác định với các
điểm ảnh hàng ngang 1920 pixel và chiều dọc 1080 pixel.
Lớp Công Nghệ Điện Ảnh Truyền Hình k26 Sinh Viên: Vu Văn A
14
Hình 8: đồ thị lấy mẫu và dự liệu song song theo thời gian
- Truyền hình có độ nét cao HDTV 1080i (interlace) thực hiện quét xen kẽ luân
phiên bán ảnh lẻ và bán ảnh chẵn.
Tốc độ bit truyền HD-SDI 1080i SMPTE 292M là 1.485Mbit/s (áp dụng trong
truyền hình HDTV).
- Hình ảnh có độ nét cao 1080p (progressively) thực hiện quét liên tục từ trên xuống
dưới của một hình, tạo ra hình ảnh đẹp và mịn hơn 1080i. 1080p cho hình ảnh đầy
đủ (full HD). Kỹ thuật này áp dụng trong phim cenima màn ảnh rộng hoặc từ đĩa
DVD.
Tốc độ truyền HD-SDI 1080p còn được gọi là 3G-SDI có tốc độ bit là 2,97Gbit/s
thuộc tiêu chuẩn SMPTE 424M (áp dụng trong phim ảnh DVD).
◊ SD-SDI tiêu chuẩn SMPTE 272M (embeded digital stereo audio) : là tín hiệu
video số định dạng khuôn hình 3x4 tiêu chuẩn SD có ghép âm thanh số stereo theo
tiêu chuẩn âm thanh AES/EBU.
Âm thanh số tiêu chuẩn AES/EBU gồm
- Có 4 – 8 kênh âm thanh stereo
- Tần số lấy mẫu 32Khz – 48Khz
- Số bit mẫu 16 – 20bit/mẫu
- Tổng trở kháng không cân bằng 75Ω dùng Jack RCA (bông sen).
- Tổng trở kháng cân bằng 110Ω dùng Jack XLR (Canon).
SD-SDI tiêu chuẩn SMPTE 272M có ghép âm thanh stereo. Tốc độ bit truyền ≈
270Mbit/s.
◊ HD-SDI tiêu chuẩn SMPTE 299M (embeded digital stereo audio) : là tín hiệu

- Jack có 6 chân (jack DV lớn).
- Jack có 4 chân (jack DV nhỏ).
I.I. 3.C: Các tiêu chuẩn định dạng tín hiệu video.
Các chuẩn định dạng kích thước khung màn hình được xác định bởi số pixel hàng
ngang và số dòng pixel hàng dọc, đựơc minh họa ở hình 40.
Các tiêu chuẩn định dạng tín hiệu video số, và các đầu nối được liệt kê trong bảng 1
và hình 41.

Hình 9: Các đầu nối chuần video số hiện dùng
Lớp Công Nghệ Điện Ảnh Truyền Hình k26 Sinh Viên: Vu Văn A
16
I.I. 4.A1: Điểm qua về truyền hình chất lượng cao HDTV
Lịch sử của HDTV theo Wiki bắt đầu từ một dự án trong quân đội Liên Xô năm
1958 đã tạo ra một hệ thống có khả năng trình chiếu khung hình 1125 dòng cho mục
đích quân sự. Tuy nhiên chương trình phát sóng thương mại đầu tiên thuộc về người
Nhật năm 1969 nhưng vì “lý do kỹ thuật” nên không thể trở thành một xu hướng
mới trong phát sóng. Thuật ngữ HDTV như hiện nay được giới thiệu lần đầu ở Mỹ
năm 1996 và chương trình phát sóng đầu tiên ở Mỹ vào năm 1998, cho đến nay các
chương trình HDTV đã chiếm 50% ở Mỹ và đã có mặt tại Việt Nam.
HDTV ( High Definision Television) nghĩa là truyền hình độ nét cao hay truyền
hình độ phân giả cao. Hiểu một cách nôm na thì đó là một công nghệ truyền hình
ảnh với độ nét cao, hình ảnh từ phía phát được chia làm các ô nhỏ ( hay có thể gọi
là điểm ảnh) rồi truyền đến tivi của người xem, tại màn hình của tivi sẽ sắp xếp lại
các điểm ảnh đó theo đúng trình tự như ở bên phát thực hiện. Vì vây nếu số lượng
điểm ảnh này ít thì hình ảnh sẽ không mịn, không nét. Đặc biết với màn hình cỡ lớn
thì sự thô của hình sẽ càng rõ rệt. HDTV giả quyết vấn đề này bằng cách chia hình
ảnh trong HDTV cao hơn đến 5 lần trong truyền hình tiêu chuẩn SDTV trước đây
và hiện nay. Cũng giống như một tấm hình được chụp bằng loại máy ảnh có nhiều
Megapixel hơn một tấm ảnh chụp bằng điện thoại di động hay máy chụp ảnh có ít
Megapixel hơn.

nhựa sang băng tuân theo các chuẩn truyền ảnh video 525/60 đối với Bắc Mỹ,
625/50 đối với Châu Âu. Chuẩn được chọn trên máy Telecine và theo tần số lưới
điện. Chuẩn được sử đụng cho toàn bộ các quá trình tiếp theo như: định màu, dựng
băng và cho cả quá trình phát hành cuối cùng. Một sự lựa chọn khác dựa vào phần
hình ảnh được truyền lên một màn hình tivi tương ứng, có kích thước cố định cũng
được thực hiện ngay trên thiết bị Telecine. Hình ảnh video thu được có thể là hình
ảnh phối hợp bởi cả hai sự lựa chọn đưa ra. Khi các chuẩn càng ngày càng phát
triển một cách không ngừng thì vấn đề được đặt ra cho quá trình chuyển đổi sẽ ngày
càng lớn hơn so với lúc ban đầu. Vấn đề không đơn giản chỉ là các chuẩn video
khác nhau, mà càng phức tạp hơn khi xét đến các chuẩn khác của phim nhựa, các
phương án tỉ lệ hình khác nhau.
Lớp Công Nghệ Điện Ảnh Truyền Hình k26 Sinh Viên: Vu Văn A
18
Hình 10: Quy trình phim sang băng
và một số chuẩn phim hiện hành
Khi chuyển hình ảnh phim nhựa sang băng video cho phát truyền hình. Nếu các
công đoạn dựng phim được tiến hành trên một chuẩn băng video thì ta có một băng
dựng gốc 525 dòng chuẩn NTSC. Vậy khi cần chuyển sang băng khác, Châu Âu
Lớp Công Nghệ Điện Ảnh Truyền Hình k26 Sinh Viên: Vu Văn A
19
chẳng hạn với chuẩn 625/50 thì sẽ có một loạt vấn đề như hiệu chỉnh màu sắc, giảm
tạp âm, giảm nhiễu, ổn định dựng băng .. Khi chuyển dang chuẩn khác thì sự giảm
từ 60Hz xuống 50Hz cũng làm cho hình ảnh trở nên xấu. vấn đề không phải đơn
giản chỉ là các chuẩn video khác nhau mà sẽ càng phức tạp hơn khi xét đến các
chuẩn khác của phim nhựa, các phương án tỷ lệ hình khác nhau …. Các hệ chuẩn
video bây giờ còn phải sang cả truyền hình độ nét cao. Vậy điều kiện đặt ra cho bản
phim điện tử là phải đảm bảo được đặc tính không gian của phim nhựa cho phép
thích ứng với hệ video cao nhất về tiêu chuẩn, thỏa mãn các chuẩn video mới là
chuẩn truyền hình độ nét cao cần sử dụng mức độ số hóa tạo điểm
ảnh và số dòng quét chuẩn. Đồng thời phải đảm bảo tất cả các chuẩn phim nhựa đề

Bảng trên cho ta biết được một số chuẩn phim nhựa và video đầu ra hiện hành. Và
do đó sẽ nãy sinh những vấn đề đặt ra do sự khác nhau giữa các chuẩn phim nhựa.
Những khó khăn liên quan đến chiều cao của khuôn hình tỉ lệ 1,85:1 chuẩn
Academy ( 35mm thông thường) truyền cho màn hình 4:3 . Điều đáng chú ý là mặc
dù phần hình ảnh động phải được đóng gói trong khuôn hình tỷ lệ 1,85:1 ở chính
giữa khi phim đã sang băng lên màn hình tỉ lệ 4:3 thì thay vào phần cắt bởi hình, các
phần trên và phần dưới của khuôn hình 1,85:1 lại lộ ra và xuất hiện những thứ mà
người ta muốn che giấu trong khuôn hình như micro, camera, … Do đó chúng ta
phải lưu tâm đến điều này vì toàn bộ chiều cao của khuôn hình đều được quét ra cho
truyền lên màn hình 4:3 ở đầu ra, chỉ có hình ảnh tỉ lệ 1,78:1( 16:9) là có thể quét
toàn bộ trên một phần hình khoảng 3/4 hình chính. Để đạt được số đường quét tỷ lệ
16:9 cho HDTV, hình ảnh sẽ được quét toàn bộ chiều cao khoảng 1000 dòng.
Nhưng chúng ta phải nhân với số nghịch đảo của 3/4 để đạt được số đường quét
trong bản chuẩn chung có chiều cao đủ cho sang băng hình ở đầu ra có tỉ lệ 1,78:1
như vậy cần phải quét 1400 – 1500 đường từ hình ảnh phim nhựa.

Hình 11: Sơ đồ chuyển phim sang băng
chuẩn truyền video
Lớp Công Nghệ Điện Ảnh Truyền Hình k26 Sinh Viên: Vu Văn A
21
I.I.4.B Nhược điểm của quá trình chuyển phim sang băng
Vấn đề đầu tiên chúng ta phải chú ý đó là quét ở đây là quét cách dòng( nửa ảnh)
chứ không phải là quét liên tục với hệ thống xuyên hình hiện tại, điều này không
gây ảnh hưởng gì lớn lắm. Nhưng trong tương lai khi mà các phương tiện quét liên
tục trở lên thông dụng trong việc tryền tín hiệu tới từng gia đình, nửa hình sẽ trở về
với việc quét cả hình nhờ hệ thống chuyển đổi ngược từ cùng một hình ảnh gốc với
cùng một tốc độ nên việc trở về với quét cả hình sẽ không gây bất cứ cảm giác khó
chịu nào về mặt chất lượng hình ảnh thu được

Hình 12: Sơ đồ minh họa sử dụng chuẩn 625/50 và

chuẩn 625 dòng và 1250 dòng. Nhược điểm ở đây là không có một đầu ra ti vi nào
có thể duy trì tín hiệu mà không có chuyển đổi ( trong khi trên hai sơ đồ 6, 7 đầu ra
50 nủa ảnh/s có thể thực hiện ngay lập tức). Tuy nhiên có một ưu điểm là bản copy
đại diện cho 24h/s có thể dùng cho nhiểu thứ hơn cho truyền hình. Điện ảnh điện tử
có thể hoạt động rất hợp vớ mức quét liên tục 24 h/s. Hình ảnh điện tử chiếu có chất
lượng tương ứng với hình ảnh phim nhựa máy chiếu với tần số 70Hx, loại trừ hoàn
toàn nhảy hình trên màn hình có độ rộng và độ chói cao hơn màn ảnh rạp thông
thường.
`
Khuôn hình đưa vào
Dãn hình
Pal / Scan theo tỷ lệ 16 : 9
Nội suy tạo 1080 dòng
Ra 1440
Lớp Công Nghệ Điện Ảnh Truyền Hình k26 Sinh Viên: Vu Văn A
23
Giảm 3/2 tạo
30 hình/s từ 24 hình
giao diện quét hình
Hình 14: Sơ đồ các bước chuyển Đổi ở đầu ra,chuẩn US- HDTV
Sơ đồ trên minh họa một cách chi tiết những gì có được ở đầu ra của bộ chuyển dổi
chuẩn đã nói ở trên. Quy trình ở đây được đặt ra để minh họa cho nhũng khái niệm
mà ta đã trình bày ở trên. Các hãng phim sản xuất có thể có những cơ cấu thiết bị
khác, nhưng chắc hẳn ở một vị trí nào đó vẫn có mặt các quá trình này. Chú ý rằng
ở đây ta chỉ minh họa quá trình dãn hình, quét hình. Giảm hình không thực hiện trên
cùng đầu ra quá trình chuyển đổi. Trên thực tế tốc độ hình vào khoảng 23,96 hoặc
29,97 hình/s truyên trực tiếp theo chuẩn Mỹ( không qua chuẩn ATSC). Vậy thách
thức đưa ra cho các nhà kỹ thuật là nghiên cứu thiết kế sản xuất chủ yếu là nâng số
điểm ảnh tăng dữ liệu và cải tiến các cấu hình chuyển đổi phim sang băng hiện có
xuất phát từ các tiêu chuẩn truyền thông. Hội đồng công nghệ đã có đề án về các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status