Đánh giá cổ phiếu - nhìn từ chỉ tiêu hàng tồn kho
Bên cạnh các chỉ tiêu tài chính trong báo cáo tài chính (BCTC) như lợi nhuận sau
thuế, ROA, ROE…, chỉ số hàng tồn kho mang một ý nghĩa nhất định.
Hàng tồn kho có thể là hàng hoá không bán được, gây thiệt hại cho DN, hay là
nguyên vật liệu (đang chờ gia công thành thành phẩm hoặc sản phẩm đang chờ
đến hạn thực hiện hợp đồng), hứa hẹn thành khoản lợi nhuận không nhỏ cho DN,
nên khi đọc BCTC, nhìn vào giá trị hàng tồn kho, nếu không hiểu rõ tường tận
hoạt động của DN, NĐT sẽ không khỏi mắc phải sai lầm trong quá trình ra quyết
định đầu tư, thay vì nắm giữ, mua vào cổ phiếu thì lại bán ra và ngược lại.
Nhiều chưa chắc đã xấu
Tỷ trọng hàng tồn kho lớn luôn là mối quan ngại ít nhiều với NĐT, do tính chất
tồn lâu, chôn vốn, chi phí phát sinh thêm của nó. Nhưng cũng không thể nói mọi
số dư về hàng tồn kho trong BCTC đều là tiêu cực đối với tương lai của DN.
Nhằm dự phòng tổn thất do giá vật tư, thành phẩm, hàng hoá tồn kho bị giảm giá,
DN đã phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo quy định của Thông tư
13/2006/TT-BTC. Việc này giúp DN có nguồn tài chính để bù đắp tổn thất, song
do được tính vào chi phí, ảnh hưởng đến lợi nhuận của DN nên không ít NĐT "dị
ứng" với chỉ tiêu này.
Mặc dù vậy, ông Hoàng Thạch Lân, Trưởng phòng Phân tích CTCK Doanh
nghiệp nhỏ và vừa (SMES) Chi nhánh TP. HCM cho rằng, do chỉ tiêu hàng tồn
kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh (dược phẩm, thực phẩm, máy
móc, điện tử…) nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là
xấu.
"Khi phân tích, đánh giá chỉ tiêu hàng tồn kho, NĐT nên tính đến các yếu tố có
khả năng ảnh hưởng lớn đến kế hoạch quản lý hàng tồn kho của DN như tính chất
mùa vụ, các dịp lễ tết, sự kiện sắp diễn ra trong năm liên quan đến sản phẩm của
DN", ông Lân đánh giá và chứng minh rằng, trước mỗi dịp lễ tết, các công ty sản
tính chỉ số hàng tồn kho/doanh thu để xem mức độ biến động như thế nào, có gây
ảnh hưởng đến tình hình sản xuất của DN không. Nếu chỉ nhìn con số tại một thời
điểm thì rất khó đánh giá DN một cách toàn diện", ông Tân cho biết.
Ngoài ra, cũng nên so sánh con số này với chỉ tiêu bình quân ngành về hàng tồn
kho, cũng như tính đến khả năng sản phẩm bị thay thế trên thị trường.
Chỉ tiêu hàng tồn kho cần được xem xét, đánh giá bên cạnh các chỉ tiêu khác như
lợi nhuận, doanh thu, vòng quay của dòng tiền… cũng như nên được đặt trong
điều kiện kinh tế vĩ mô. "Cũng giống như con người, nếu khám 'sức khoẻ' cho DN
thì nên xem xét tất cả các yếu tố để đưa ra chẩn đoán chính xác. Theo ông Tân,
cũng có một số DN niêm yết mà chỉ số hàng tồn kho không quá quan trọng như
các DN ngành điện: CTCP Thuỷ điện Vĩnh Sơn Sông Hinh (VSH) hay CTCP
Nhiệt điện Phả Lại (PPC)… với đặc trưng là sản xuất ra điện và nhiệt điện, thậm
chí có DN không sử dụng nguyên liệu đầu vào, mà chỉ dùng sức nước (như VSH)
nên hàng tồn kho ở đây chỉ là bao gồm vật tư, thiết bị dự phòng … để thay thế khi
gặp sự cố.
Mặc dù vậy, giới phân tích đều cho rằng, đây là chỉ tiêu khó đánh giá khi xét về
khía cạnh đầu tư thì hàng tồn kho là chỉ tiêu thuộc nhóm rủi ro (nghĩa là có khả
năng gây ra rủi ro cho DN) nhưng NĐT thường khó khăn trong việc có được số
liệu đầy đủ, chính xác từ DN cũng như từ phía cơ quan quản lý các con số.
Nếu chỉ nhìn trên Bảng cân đối kế toán, NĐT có thể tính được chỉ tiêu vòng quay
hàng tồn kho, rồi so sánh với bình quân ngành hay với một công ty đầu ngành,
song để đánh giá chỉ tiêu này một cách chính xác, tường tận để có thể đưa ra một
quyết định đầu tư đúng đắn là điều không hề dễ dàng.