Mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế tư nhân - Pdf 91

LỜI MỞ ĐẦU
Trong hầu hết sự phát triển về kinh tế của các quốc gia trên thế giới hiện nay
và trong tương lai đều có sự tham gia của các khu vực kinh tế thuộc Nhà nước, Tư
nhân, và nước ngoài. và mỗi khu vực này này đều có những đóng góp nhất định đối
với mỗi nền kinh tế cụ thể, tuy nhiên theo kinh nghiệm của các quốc gia phát triển
trên thế giới thì khu vực kinh tế tư nhân là khu vực có đóng góp quan trong trong
thúc đẩy qua trình phát triển của họ, mà khu vực kinh tế tư nhân thường là những
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngay cả Mỹ một nước có nền kinh tế hàng đầu thế giới,
có các công ty xuyên quốc gia khổng lồ, thì việc đóng góp cho nền kinh tế chủ yếu
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ của khu vực tư nhân. Đối với việt nam thì khu vực
kinh tế tư nhân đã có những đóng góp to lớn những cho kinh tế nước nhà. Nhưng
khu vực kinh tế này vẫn có những khó khăn trong đó khó khăn về vốn là vấn đề nan
giải hiện nay. Hiện nay tôi đang thực tập tại VIETCOMBANK _Ba Đình, nên tôi
chọn đề tài: "Mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế tư nhân của
ngân hàng ngoại thương nội chi nhánh _ Ba Đình", với dung gồm:
Chương I : Tổng quan về tín dụng và khu vực kinh tế tư nhân.
Chương II : Thực trạng hoạt động tín dụng của NHNT- CN Ba Đình đối với
khu vực kinh tế tư nhân.
Chương III : Một số ý kiến để mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế
tư nhân.
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG
VÀ KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN
Trang 1Trang 1SVTH: Lê Sĩ Tuấn - Lớp: Ngân hàng 44C 1
I.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm về tín dụng
Tín dụng là danh từ để chỉ một số hành vi như bán chịu hàng hoá, cho vay,
chiết khấu thương phiếu, kí thác, phát hành giấy bạ.
Ngày nay khi nói tới tín dụng người ta nghĩ ngay tới ngân hàng, tín dụng là
quan hệ vay mượn, gồm cả đi vay và cho vay.Tuy nhiên khi nói tới ngân hàng người
ta chỉ nghĩ là ngân hàng cho vay.

mình.
+ Vốn vay phải có tài sản đảm bảo: trong nền kinh tế thị trường các hoạt động nói
chung và các hoạt động kinh tế nói riêng diễn ra vô cùng đa dạng và phức tạp,
không có nhà quản trị ngân hàng nào có thể đự đoán chính xác những diễn biến có
thễ xảy ra trên thị trường, do đó rủi ro là không thể tránh khỏi, để giảm thiểu rủi ro
thì các ngân hàng càng tao ra được nhiều khoản thu càng tốt cho các khoản cho vay
của mình và đảm bảo chình là nguồn thu thứ hai sau nguồn thu thứ nhất như: vốn
lưu động, khấu hao, lợi nhuận, thu nhập …
Đảm bảo tín dụng như là một phương tiện cho người chủ ngân hàng có thêm một
nguồn thu khác để thu hồi nợ nếu mục đích cho vay bị phá sản, tài sản đảm bảo có
thể tồn tại dưới hình thức sau:
- Tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay của ngân hàng
- Tài sản đảm bảo là tài sản của người đi vay
- Tài sản đảm bảo là tín chấp hay bảo lãnh của người thứ ba
Các loại đảm bảo tín dụng:
*Đảm bảo đối vật:
- Thế chấp tài sản: là việc bên vay vốn dùng tài sản là bất động sản thuộc sở
hữu của mình của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bên cho vay,
bên đi vay vẫn được quyền sử dụng tài sản thế chấp và chỉ phải giao giấy chủ quyển
tài sản đó cho bên cho vay.
- Cầm cố tài sản: là việc bên đi vay có nghĩa vụ phải giao tài sản là động sản
thuộc quyền sở hữu của mình cho bên cho vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ
của mình.
* Đảm bảo đối nhân:
-Là sự cam kết của một người hay nhiều người về việc phải trả nợ cho ngân
hàng nếu một khách hàng vay không trả được nợ cho ngân hàng, trong trường hợp
này thì những người bảo lảnh phải có được uy tín hay phải có khả năng về tài
chính đủ mạnh đảm bảo được sự tin tưởng của ngân hàng.
1.1.2.2. Cho vay dựa trên chuyển nhượng trái quyền.
Cho vay dựa trên chuyển nhượng trái quyền là hình thức cho vay dựa trên cơ

tài khoản ngoại bảng, các ngân hàng chỉ đưa vào tài khoản nội bẳng khi mà ngân
hàng thực hiện chi trả cho khách hàng của mình ,bảo lãnh gồm:
+ Bảo lãnh ngân hàng : đây là hình thức rất quan trọng trong thực tế, nó giúp
cho người mua hàng không phải kí quỹ và được trả chậm tiền hàng, và người bán tin
tưởng giao hàng cho người mua.
+ Tín dụng chấp nhận : trong loại hình này ngân hàng chấp nhận một hối phiếu
đòi tiền chính mình, và khách hàng của ngân hàng phải nộp số tiền cần thiết ngay
trước khi hối phiếu đến hạn, lúc này chủ nợ có được sự đảm bảo thu được khoản nợ
của mình do ngân hàng đứng ra chấp nhận chi trả.
1.1.3. Phân loại tín dụng trong các ngân hàng thương mại.
1.1.3.1. Phân loại tín dụng chung.
+ Tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn: sự khác nhau giữa tín dụng ngắn hạn và
tín dụng trung và dài hạn chính là thời gian giao vốn cho khách hàng sử dụng, tuỳ
theo luật của từng quốc gia và trong từng thời kỳ mà thời gian ngắn hạn, trung và
dài hạn được quy định khác nhau, ở Việt Nam hiện nay ngắn hạn là nhỏ hơn hoặc
bằng 12 tháng, còn trung và dài hạn là lớn hơn 12 tháng.
+ Tín dụng cấp ra kèm theo hoặc không kèm theo cam kết của ngân hàng.
- Tín dụng không kèm theo cam kết của ngân hàng: trong hình thức cấp này
thường áp dụng cho ngắn hạn và ngăn hàng có thể chấm dứt hợp đồng cho
vay bất cứ lúc nào.
- Tín dụng phát sinh từ cam kết của ngân hàng: là hình thức mà ngân hàng
cam kết một khoản tín dụng cụ thể hay một hạn mức tín dụng mà ngân hàng
không thể tự do chấm dứt cam kết của mình khi phía khách hàng không có
những những vi phạm như đã thoả thuận.
+ Tín dụng có thể huy động và không thể huy động.
- Tín dụng có thể huy động là những khoản tín dụng mà ngân hàng có thể
chuyển nhượng để thu hồi tiền trước kì hạn đã định.
- Tín dụng không thể huy động: là tín dụng mà khi ngân hàng cấp ra là không
thể chuyển nhượng để thu hồi vốn trước thời hạn định.
1.1.3.2.Tín dụng ngân quỹ.

tích dự án và tình hình tài chính của khách hàng, ngân hàng kí hợp đồng với khách
hàng.
(2) Ngân hàng tìm kiếm nhà cung cấp để ký hợp đồng hay người thuê chỉ định nhà
cung cấp.
(3) Khác hàng có thể gặp nhà cung cấp để nêu yêu cầu về quy các, chất lượng tài
sản thuê, nhận tài sản, nhà cung cấp có thể phải cam kết bảo hành cho người thuê.
(3)
(4)
(1)
Ngân hàng (người cho thuê)
(2)
Nhà cung cấp Khách hàng
(4) Ngân hàng kiểm soát tình hình sử dụng tài sản thuê, thu tiền thuê hoặc thu hồi tài
sản nếu thấy người thuê vi phạm.
+ Ngân hàng có thể mua tài sản để cho thuê hay mua tài sản của người đi thuê
sau đó cho chính họ thuê lại hoặc thuê tài sản để cho thuê, trường hợp này được áp
dụng khi mà thời gian trong hợp đồng thuê nhỏ hơn thời gian khấu hao của tài sản,
hay Ngân hàng có thể mua trả góp để cho thuê trong trường hợp Ngân hàng thiếu
vốn.
+ Đặc điểm của nghiệp vụ này là: Ngân hàng cho thuê thường là tài sản cố
định do đó nó là tín dụng trung và dài hạn, thời hạn thuê có 2 phần đó là thời hạn cơ
bản là thời hạn mà người đi thuê không được huỷ ngan hợp đồng do đó tiền mà
ngân hàng thu được phải đủ cả gốc và lãi và thời hạn gia hạn thêm là người đi thuê
có thể trả lại, mua lại, thuê tiếp…, trong nghiệp vụ thuê mua thì Ngân hang không
cam kết bảo dưỡng tài sản, không chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại với tài
sản.
1.1.3.4.Tín dụng tài trợ cho ngoại thương.
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay, hoạt động tài trợ ngoại
thương có vai trò rất quan trọng, nó thúc đẩy thương mại quốc tế, làm giảm rủi ro
cho những nhà xuất – nhập khẩu vì những khó khăn như:địa lý, tôn giáo, chính trị

- Tín dụng thuê mua vượt qua biên giới: với hình thức này Ngân hàng cấp cho
doanh nghiệp một khoản tín dụng bằng cách mua hay thuê tài sản ở nước ngoài về
cho thuê lại tài sản tài tại nước mình, do đó người thuê không cần nhiều vốn ngay
mà vẫn được sử dụng những tài sản mình cần cho qua trình sản xuất.
- Cho vay mở L/C: đây là nghiệp vụ mà các nhà nhập khẩu yêu cầu Ngân
hàng mở thư tín dụng sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu theo yêu cầu
Của nhà nhập khẩu khi họ đã trình đủ các chứng từ quy định, như vậy khoản tín
dụng này được bảo đảm bằng bộ chứng từ hàng hoá, tuy nhiên ngân hàng có thể yêu
cầu nhà nhập khẩu phải ký quỹ hay không.
- Tạm ứng cho nhà nhập khẩu: Ngân hàng có thể tạm ứng cho nhà nhập khẩu
khi họ thiếu vốn để thanh toán. Tuy nhiên chỉ trong thời gian ngắn và được bảo đảm
bằng bộ chứng từ hàng hoá.
- Chấp nhận của Ngân hàng: với các hối phiếu có kì hạn sẽ được Ngân hàng
phía người nhập khẩu đóng dấu và chấp nhận thanh toán, khi người xuất khẩu có
nhu cầu về tiền, Ngân hàng nhập khẩu sẽ thanh toán ngay có triết khấu cho bên bán
và giữa lại hối phiếu, hối phiếu có thể được bán hay chiết khấu tại Ngân hàng nhập
khẩu khi đến hạn.
- Tín dụng chấp nhận hối phiếu dành cho nhà nhập khẩu: theo hình thức này
nhà nhập khẩu ký hợp đồng với ngân hàng phục vụ mình trên cơ sở hối phiếu tự
nhận nợ, hối phiếu này do Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát hành và chuyển
đến cho nhà nhập khẩu, và nhà nhập khẩu dùng hối phiếu này để chiết khấu nhận
tiền tại Ngân hàng phục vụ mình.
1.2. KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN:
Theo kinh nghiệm của các nước phát triển như Mỹ, Nhật thì khu vực kinh tế
tư nhân có đóng góp vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội cho những
quốc gia này, chẳng hạn như Mỹ là một nước mà nỗi tiếng có nhiều công ty đa quốc
gia nổi tiếng toàn cầu, nhưng đó chỉ là bề nỗi của nền kinh tế mỹ, còn khu vực kinh
tế tư nhân mới là đóng góp lớn cho nền kinh tế Mỹ, quay trở về Việt Nam thì khu
vực kinh tế tư nhân đã hình thành và phát triển khá sớm nhưng do nhiều hoàn cảnh
của đất nước mà khu vực kinh tế này có những lúc đã bị lãng quên trong một thời

1.2.2. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam.
Trải qua nhiều thăng trầm cùng với những khó khăn của đất nước, khu vực
kinh tế tư nhân có những lúc được thừa nhận rồi không rồi lại được thưa nhận,
nhưng với định hướng của đảng được khẳng đinh trong đại hội IX của Đảng thì
trong những năm ngần đây khu vực kinh tế này đã có những bước phát triển về mọi
mặt, khu vực kinh tế này đã, đang và sẽ có những đóng góp không nhỏ vào các mặt
kinh tế xã hội của Việt Nam. Và ngày càng khẳng định được chỗ đứng vững chắc
trong nền kinh tế của Việt Nam, và điều này được thể hiện qua những mặt sau:
1.2.2.1. Phát triển về số lượng.
Với sự khuyến khích mạnh mẽ và tạo nhiều điều kiện thuân lợi của Nhà nước
thì khu vực kinh tế tư nhân đã có nhưng đáng kể về số lượng.
Về hộ kinh doanh cá thể: số hoạt động từ 1498611 hộ năm 1992 và tăng lên
2016259 hộ vào năm 1996, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 7, 68%/ năm, mỗi
năm tăng 129412 hộ, từ năm 1996 đến 2000 số lượng hộ kinh doanh các thể hoạt
động tăng châm, từ 1996 là 2016259 lên 213731 hộ năm 2000, tăng bình quân
1,47% /năm, mỗi năm tăng30364 hộ và đến cuối năm 2003 cả nước có khoảng 2,7
triệu hộ kinh doanh, 130000 trang trại và 10 triệu hộ nông dân sản xuất hàng hoá, sở
dĩ có sự giảm về số lượng hộ cá thể là vì nhiều hộ đã chuyển lên thành lập công ty
sau khi đã tích luỹ được trong một thời gian dài và những năm gần đây lại gặp nhiều
điều kiện thuận lợi trong thành lập doanh nghiệp.
Về doanh nghiệp: số lượng các doanh nghiệp tăng được thể hiện qua các năm
như sau: năm 1991 cả nước có khoảng 414 doanh nghiệp, đến năm 1992 là 5189
doanh nghiệp và đến 1995 là 15276 doanh nghiệp, năm 1999 là 28700 doanh
nghiệp, từ khi luật doanh nghiệp đi vào hoạt động 1/1/2000 thì đã tao ra một bước
đột phá trong tăng số lượng các doanh nghiệp, tính từ năm 2000 đến tháng 5- 2004
cả nước có khoảng 93208 doang nghiệp đang ký thành lập mới,gấp hơn hai lần số
doanh nghiếp được thành lập trong thời gian trước đó từ 1991- 1999 chỉ có 45000
doanh nghiệp được thành lập, tính đến cuối 2004 cả nước có khoảng 138208 doanh
nghiệp đang ký thành lập theo luật doanh nghiệp, trung bình hàng năm tăng 3,75 lần
so với trung bình của những năm trước 2000, vể cơ cấu thì tỷ trọng doanh nghiệp tư

người chiếm 45,6%, lao động trong ngành thương mại và dịch vụ là 1753824 người,
chiếm tỷ trọng 37,37%, lao động trong các ngành khác là 786.792 người chiếm
16,94%. Trong những năm gần đây tốc độ tăng vế số lượng doanh nghiệp tăng
nhanh do đó số lượng trong các doanh nghiệp đã tăng, còn tốc độ tăng lao động
trong các hộ kinh doanh cá thể thấp hơn của các doanh nghiệp đó là do số lượng các
hộ kinh doanh cá thể tăng chậm so với các doanh nghiệp.
Về lĩnh vực và địa bàn: khu vực kinh tế tư nhân phần đông là các doanh
nghiệp, đã và đang hoạt động trong hầu hết các ngành nghề mà pháp luật không
cấm, không chỉ hoạt động trong nông nghiệp mà còn trong cả các ngành công
nghiệp, dịch vụ cao cấp như công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất, chế biến, công
nghệ thông tin, ngân hàng tài chính, bảo hiểm , tư vấn. Sở dĩ khu vực này có khả
năng hoạt động rộng vì một mặt là có số lương đông và tiềm lực về tài chính ngày
càng được cải thiện do đã tích luỹ quay nhiều năm, một mặt là khu vực này có mặt ở
hầu hết trên lãnh thổ cả nước do đó có thể phát hiện rất nhanh các nhu cầu ở các địa
bàn trên cả nước.
1.2.3. Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân.
1.2.3.1. tạo công ăn việc làm.
Sự đóng góp lớn nhất của khu vực kinh tế tư nhân cho xã hội đó là giải quyết
việc làm cho người lao động, khu vực kinh tế này hàng năm thu hút lao động mới và
từ các doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tập thể chuyển sang, năm 2000 số lượng
lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân là 9,616733 triệu lao động, chiếm
79,89% tổng lao động, trong năm 2003 khu vực nhà nước có 3,858 triệu lao dộng
chỉ chiếm gần 10% lực lượng lao động xã hội và với xu hướng ngày càng giảm số
lao động trong khu cực kinh tế này. Do đó có tới hơn 90% lao động đang làm việc
trong khu vực kinh tế tư nhân, mặt khác hàng năm nước ta có khoảng 1,4 -1,5 triệu
người gia nhập thị trường lao động đó là một sức ép rất lớn đến thị trường lao động
của nước ta, hơn nữa để đầu tư cho một suất lao động ở khu vực tư nhân tốn 35 triệu
đồng, còn ở doanh nghiệp nhà nước là 87,5 triệu đồng như vậy khu vực kinh tế tư
nhân có lợi thế tương đối so với khu vực nhà nước trong việc tao việc làm. Sự phát
triển của kinh tế tư nhân làm tăng sự lựa chọn cho người lao động và người sử dụng

trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tỷ trọng đóng góp
trong GDP năm 2001 là 47,85%, năm 2002 là 42% và năm 2004 là 38,5% tỷ trọng
có xu hướng giảm do năng suất lao động trong khu vực này giảm trong khi các khu
vực khác tăng lên.
1.2.3.3. Về xuất khẩu.
Khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp đáng kể vào xuất khẩu của
việt nam, số lượng đang ký tham gia xuất khẩu tăng mạnh năm 1995 có 156 doanh
nghiệp đến 2002 la 13774 doanh nghiệp, khu vực tư nhân tham gia xuất khẩu nhiều
mặt hàng như may mặc, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu … tuy nhiên hoạt động
xuất khẩu của khu vực tư nhân phân bố không đồng đều, chỉ tập trung ở những
thành phố lớn, thành phố trực thuộc Trung ương, điều này đựơc cụ thể là thành phố
hà nội xuất khẩu chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của hà nội và chiếm 7% kim
ngạch xuất khẩu của cả nước, thành phố HồChí Minh là 12%, một số tỉnh có tỷ
trọng khá cao như Hà Giang là 60%, Bình Thuận là 45%, khu vực kinh tế tư nhân đã
làm tăng thêm sư đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu và đã tìm kiếm được nhiều
thị trường để phát triển, năm 2002 khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 48% tổng kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam, hiện nay thì khu vực kinh tế tư nhân đã vượt khu
vực kinh tế nhà nước về xuất khẩu.
1.2.3.4. Đóng góp vào ngân sách.
Đóng góp của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân vào ngân sách
đang có xu hướng tăng lên, từ khoảng 6,4% năm 2001 lên 7,4% năm 2002. tỷ lệ này
tương đương với đầu tư trực tiếp nước ngoài là 5,2% và 6% , khoản thu từ thuế
công thương nghiệp và dịch vụ dân doanh là năm 2002 đạt 103,6% kế hoạch và tăng
13% so với năm 2001, doanh số thu từ doanh nghiệp dân doanh chiếm 15% tổng số
thu, tăng 29,5% so với các năm trước.
Đóng góp vào ngân sách của địa phương của các doanh nghiệp danh doanh
lớn hơn nhiều so vớ trung ương, như thành phố Hồ Chí Minh chiếm 15% tổng ngân
sách, Bnh Định là 33%, Thái Nguyên là 17%...
Ngoài ra hiệp hội các doanh nghiệp còn tham gia xây dựng các công trình
phúc lợi xã hội như trường học, đường nông thôn ở các địa phương.

nghệ… để nâng cao năng suất lao động, cải tiến sản phẩm …, sự phát triển của kinh
tế tư nhân thì các thị trường bắt đầu hình thành và phát triển mạnh, như là thị trường
hoá dịch vụ, thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường bất động sả, thị trường
hàng khoa học và công nghệ, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của nước ta.
1.2.4. Hạn chế của khu vực kinh tế tư nhân.
Tuy đã phát triển rất nhanh và phát triển ở mọi nơi và mọi ngành nghề nhưng do
xuất phát điểm thấp, từ các những khó khăn do lịch sử để lại, do điều kiện hoàn
cảnh chung của cả nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân cũng còn có nhiều hạn chế.
1.2.4.1. Quy mô vốn.
Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân và các hộ kinh doanh cá thể
có nhiều khó khăn về vốn hoạt động, các loại hình doanh nghiệp cá thể có vốn rất
nhỏ, 80,26% các loại hình doanh nghiệp có mức vốn nhỏ hơn 5 tỷ đồng, trông khi
đó đối với doanh nghiệp Nhà nước là 23,03%. Do vốn nhỏ bé nên điều này đã gây
rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân có thể mở rộng
sản xuất kinh doanh và có thể thực hiện được kế hoạch sản xuất của mình, có rất
nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực này có nhiều ý tưởng sản xuất tốt nhưng một
phần do thiếu vốn do đó họ không thể thực hiện được kế hoạch của mình, do hạn
chế về vốn nên họ chỉ tham gia vào các ngành không cần nhiều vốn như là các hoạt
động thương mại ít đầu tư vào sản xuất, vì kinh doanh các hoạt động thương mại
cần ít vốn hơn rất nhiều so với các ngành sản xuất, điều này cũng làm giảm sự phát
triển của các ngành sản xuất, cơ cấu vốn của các doanh nghiệp thuộc khu vực này là
25 – 30 % trong tổng vốn là đàu tư vào tài sản cố định còn 70 – 75% là vốn lưu
động. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của mình các chủ doanh nghiệp hay
chủ hộ phải đi thuê tài sản từ các tổ chức, cơ quan … do đo cơ sở vật chất của họ
không ổn định, do thiếu vốn nên họ thường không có được sự tin tưởng của các đối
tác của mình, và làm ăn theo kiểu manh muốn chộp giật, không có những chiến
lược dài hơi vì thiêu vốn Chỉ có 1/3 doanh nghiệp là được vay vốn ngân hàng, trong
số những doanh nghiệp được vay vốn thì họ chỉ vay được 20 % trong tổng số vốn
của họ còn lại 80% là huy động từ bạn bè, gia đình, vốn bản thân và sử dụng tín
dụng thương mại đối với đối tác kinh doanh, thậm chí là nguồn vốn có mức lãi suất

không lớn, kể cả thị trường trong và ngoài nước, mà cạnh tranh là yếu tố cơ bản để
đảm bảo tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, và là yếu tố sống còn của các
doanh nghiệp, sản phẩm họ sản xuất ra có bán được thì họ mới có doanh thu để mà
trang trải phí và có lợi nhuận, hơn nữa các doanh nghiệp đang tồn tại trong một môi
trường cạnh tranh rất khốc liệt như hiện nay.
1.2.4.4. Trình độ quản lý.
Trình độ quản lý của các chủ doanh nghiệp còn thấp. Đa số các chủ doanh nghiệp,
trưởng thành từ thực tiễn và học hỏi qua bạn hàng, ước tính khoảng trên 80% trưởng
thành từ kinh nghiệm thực tiễn chỉ có một số được đào tạo qua trường lớp chính quy
về quản trị doanh nghiệp hay quản lý về kinh tế chung. Khoảng 85% các doanh
nghiệp tư nhân được phát triển trên cơ sở hộ cá thể, 285 chủ doanh nghiệp là cán bộ
nhà nước đã nghỉ theo chế độ.Chính vì quản lý và điều hành dựa vào kinh nghiệm
được tích luỹ, chưa qua đào tạo và không có bằng cấp chuyên môn nên khó khăn
trong việc cạnh tranh, hơn nữa trong điều kiện hội nhập như hiện nay.kiểu kinh
doanh trên sẽ không còn phù hợp do hiện nay nó là rào cản sự phát triển của doanh
nghiệp, chẳng hạn là làm ăn theo lối chộp giật, khó có khẳ năng tiếp thu những cái
mới.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHNT_CN BA ĐÌNH ĐỐI
VỚI KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CHI NHÁNH BA ĐÌNH.
2.1.1. Quá trình hình thành.
Ngân hàng ngoại thương việt nam được thành lập ngày 1/4/1963 được thành
lập theo quyết định 115/CP ngày 30/10/1962 trên cơ sở tách từ cục ngoại hối ngân
hàng TW nay là ngân hàng nhà nước, hoạt động dưới dự bảo lãnh của ngân hàng
nhà nước là ngân hàng duy nhất được phục vụ kinh tế đối ngoại và hoạt động xuất
nhập khẩu của cả nước. Theo thời gian cùng với sự phát triển về mọi mặt của đất
nước nói chung và của kinh tế nói riêng, ngân hàng ngoại thương việt nam đã có
những chiến lược nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước hiện tại và trong
tương lai, và một trong những chiến lược ấy là mở rộng địa bàn hoạt động của ngân

có liên quan đến phòng mình chiệu trách nhiệm.
- Có trách nhiệm phối hợp với các phòng ban khác của chi nhánh khi sử lý các
vấn đề nghiệp vụ có liên quan.
- Ký trên các giấy tờ, chứng từ , văn bản giao dịch.
Phòng kế toán dịch
vụ ngân hàng
CN cấp II
Ba Đình
Ban
Giám Đốc
Phòng quan hệ
khách hàng
Phòng hành
chính ngân quỹ
- Phối hợp với các tổ chức Đảng, đoàn thể của cơ quan trong việc thự hiện các
chế độ, chính sách quản lý đối với công chức, viên chức. Động viên công chức viên
chức tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua của cơ quan, hoàn thành tốt nhiệm
vụ chính trị, chuyên môn.
- Bố trí và sắp xếp cán bộ của phòng mình cho phù hợp, xây dựng nội quy làm
việc và phương thứ điều hành, có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
- Phân công trách nhiệm cho các phó trưởng phòng và các thành viên trong
phòng.
-Bảo quản các tài liệu và tài liệu mật theo quy định hiện hành.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi ban giám đốc chi nhánh giao.
* Nhiệm vụ và quyền hạn của phó trưởng phòng .
- Giúp trưởng phòng điều hành, chỉ đạo một số công việc do Trưởng phòng giao
và chịu trách nhiệm trước trưởng phòng và ban giám đốc chi nhánh về công việc
được phân công.
- Ký thay trưởng phòng trên các giấy tờ, chứng từ, văn bản giao dịch thuộc trách
nhiệm phụ trách, trình ban giám đốc theo sự uỷ quyền của trưởng phòng và theo

- Mua bán ngoại tệ cho các tổ chức kinh tế và cá nhân được phép mua bán ngoại
tệ.
- Thực hiện các báo cáo của phòng do chi nhánh cấp I quy định.
- Thực hiện một số nghiệp vụ khác do ban giám đốc giao.
+ Phòng kế toán nghiệp vụ ngân hàng.
++ Bộ phận thông tin khách hàng.
- Tiếp nhận và mở các hồ sơ khách hàng mới
- Tiếp nhận quản lý và giải quyết các yêu cầu thay đổi về: chủ tài khoản, địa chỉ,
kế toán trưởng, mẫu dấu, chữ ký…
- Tiếp nhận và trả lời các thông tin tài khoản khách hàng: số dư tài khoản, hoạt
động và ra chi tiết liên quan đến tài khoản thông qua nhiều hình thức bao gồm giao
dịch trực tiếp và thông qua các phương tiện thông tin liên lạc.
- In, chấm và trả sao kê, sổ phụ bảng phiếu tính lãi, cấp ấn chỉ cho khách hàng .
- Giải đáp thắc mắc hướng dẫn quy trình nghiệp vụ cho khách hàng, phản ánh
tình hình giao dịch và đề xuất chính sách thu hút khách hàng.
++ Bộ phận dịch vụ khác hàng.
- Xử lý toàn bộ các giao dịch liên quan đến tài khoản tiền gửi cả bằng ngoại tệ
và nội tệ của mọi đối tượng khách hàng với các loại tiền và băng mọi hình thức: tiền
mặt, chuyển khoản, séc.
- Xử lý các nghiệp vụ liên quan đến các tài khoản tiền gửi, tiết kiệm,hỳ phiếu,
trái phiếu cả bằng nội tệ và bằng ngoại tệ.
-Xử lý các nghiệp vụ thanh toán thẻ và phát hành séc Vietcombank.
- Xử lý nghiệp vụ mua, chuyển đổi ngoại tệ, séc du lịch bằng mọi hình thức và
bán ngoại tệ theo hộ chiếu.
- Chi trả kiều hối chuyển tiền nhanh
- Quản lý các đại lý uỷ nhiệm thu hồi.
- Tiếp nhận và kiểm tra tính pháp lý các chứng từ nhờ thu trong nước, nước
ngoài, séc đích danh.
- Trực tiếp thu chi tiền mặt, séc du lịch liên quan đến các nghiệp vụ trên theo
hạn mức giám đốc giao cho.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status