Tài liệu Đề cương kinh tế môi trường - Pdf 91

Đề Cương Kinh Tế Môi Trường
Câu 1: Bản chất và mục đích nghiên cứu kinh tế môi trường
Hoạt động kinh tế của xã hội loài người có các thời kì(3):
- Kinh tế tự nhiên: Con người gắn chặt hữu cơ với hệ thống tự nhiên:
Hái lượm và săn bắt để sinh sống  chịu lệ thuộc hầu như hoàn toàn vào tự
nhiên.
- Nền văn minh nông nghiệp: Con người đã tiến hành sản xuất trên cơ
sở phát triển các lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi ở những vùng đất có khả năng
canh tác được  tác động nhất định đối với tự nhiên còn rất hạn chế và chưa
gây ra những biến đổi sâu sắc đối với môi trường sống.
- Nền văn minh công nghiệp: Con người đã tiến hành rộng khắp các
hoạt động sản xuất  làm biến đổi ngày càng sâu sắc đối với môi trường sống.
- Dưới góc độ của nền kinh tế thị trường có hàng hoá môi trường.
Môi trường với qui mô và chất lượng cho phép là một loại hàng hoá đặc
biệt. Hơn thế nữa, chất lượng môi trường khó có thể dùng tiền bạc và quyền lực
để giành lại được; do vậy nghiên cứu và giải quyết những vấn đề về môi trường
cần phải có sự hợp sức của toàn xã hội và toàn cầu.
KTMT ra đời và PT là do đòi hỏi của sự PT KT- XH.
Kinh tế môi trường nhằm nghiên cứu (3):
- Mối quan hệ biện chứng giữa môi trường với tư cách là hệ thống chỉnh
thể với các hoạt động kinh tế – xã hội.
- Đưa ra những giải pháp thích hợp trong việc đảm bảo sử dụng có
hiệu quả các nguồn TNTN và thành phần môi trường.
- Ngăn chặn và giảm thiểu những sai lầm của thị trường, hoặc những
mặt trái trong các quyết định và cơ chế khai thác, sử dụng TNTN và môi trường
cho các hoạt động kinh tế – xã hội.
Mục tiêu cơ bản của phần lớn các nước trên thế giới cũng như ở nước ta hiện
nay (2):
- Sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm môi trường sống,
- Duy trì và cải thiện chất lượng của môi trường trong các hoạt động kinh
tế - xã hội.

người.
vừa phải nằm trong môi trường sống của thế giới sinh vật nói chung, lại vừa phải
có đặc thù riêng liên quan đến hoạt động sống của con người.
Cuộc sống của con người chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi 2 hệ thống:
Hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội (xem giản đồ hình 2.1)
Hệ thống Hệ thống
Tự nhiên xã hội Hình 2.1.
Môi trường sống của
con người
MTTN MTNT MTXH
Hai hệ thống này ngày càng đan xen vào nhau và đã tạo ra 3 loại môi trường sống
đặc trưng: môi trường tự nhiên (MTTN), môi trường xã hội (MTXH) và môi trường nhân
tạo (MTNT)
Trong khoa học về môi trường và kinh tế môi trường chỉ giới hạn môi trường trong
hệ thống tự nhiên. Môi trường được nghiên cứu ở đây chỉ gồm môi trường tự nhiên và
môi trường nhân tạo.
Luật Bảo vệ môi trường 12/12/2005 đã nêu:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con
người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh
vật” (Mục 1, Điều 3, Chương 1). “Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi
trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình
thái vật chất khác” (Mục 2, Điều 3).
2.1.2. Các chức năng cơ bản của môi trường (3)
2.1.2.1. Tạo không gian sống (không gian sinh tồn)
Lịch sử của loài người đã thấy rõ là, trong khi trái đất gần như không thay đổi về
độ lớn, nhưng dân số trên thế giới lại không ngừng gia tăng  diện tích đất tự nhiên bình
quân đầu người ngày càng giảm sút nhanh chóng (xem bảng 2.1)
Bảng 2.1. Dân số và diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới qua các thời kì
Năm Đơn vị Đầu
CN

2.1.3.4. Môi trường có khả năng tự tổ chức, điều chỉnh
Các thành phần trong hệ môi trường đều có khả năng tự tổ chức, tự điều chỉnh để
thích ứng với biến đổi bên trong theo qui luật của tự nhiên. Hơn thế nữa, vật chất sống
trong tự nhiên lại luôn có khả năng tự tiến hoá và vận động không ngừng để thích ứng với
điều kiện mới.
Câu 3: Điều kiện cân bằng sinh thái trong môi trường.
2.1.4.1. Cấu trúc của hệ sinh thái trong môi trường
Con người cũng như các loài sinh vật khác muốn sống và phát triển được đều phải
nằm trong một hệ sinh thái nhất định. Hệ này luôn luôn được đặt trong trạng thái cân bằng
nhất định.
Hệ sinh thái là hệ thống các loài sinh vật sống chung và phát triển trong một môi
trường nhất định, có quan hệ tương tác lẫn nhau và với môi trường đó. Một hệ sinh thái
hoàn chỉnh phải bao gồm các thành phần cơ bản sau:
1- Các chất vô cơ
Đây là thành phần cơ sở, nền tảng của môi trường sống, thuộc các thể dạng khác
nhau. Chúng được tạo thành bởi rất nhiều các hợp chất hoá học vô cơ khác nhau, tham gia
vào chu trình tuần hoàn vật chất. Các chất này được coi là nguồn nguyên liệu ban đầu để
mọi sinh vật sử dụng, biến đổi thành các chất hữu cơ sống.
2- Các chất hữu cơ
Loại này được thể hiện dưới dạng các chất mùn rác chứa nhiều hợp chất hữu cơ
phức tạp (các dạng carbua hydro). Chúng liên kết các thành phần sinh vật và vô sinh với
nhau, tham gia vào các chu trình chuyển hoá vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái.
3- Thành phần vật lí của môi trường
Đó là các điều kiện vật lí của từng loại môi trường. Mỗi loài, mỗi nhóm cá thể đòi
hỏi phải có các điều kiện vật lí của môi trường tương ứng.
Các chất vô cơ, chất hữu cơ và thành phần vật lí của môi trường nêu trên tạo thành
sinh cảnh trong toàn hệ sinh thái.
4- Các sinh vật sản xuất
Đó là các các loài cây xanh, sinh vật có khả năng tự tổng hợp chất hữu cơ sống từ
các chất vô cơ đơn giản thông qua quá trình quang hợp. Quá trình quang hợp không

Câu 4: Các tác động của phát triển đến môi trường
Phát triển kinh tế có thể được hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt
của nền kinh tế trong một thời kì nhất định; trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về qui mô
sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế – xã hội. Như vậy, phát triển kinh tế còn xem xét
đến cả tính cân đối, tính hiệu quả, tính mục tiêu và tính bền vững.
2.2.2. Các tác động của phát triển đến môi trường (3)
2.2.2.1. Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Nếu mức khai thác nhỏ hơn khả năng phục hồi nguồn tài nguyên, hoặc quá trình
khai thác sử dụng nguồn tài nguyên hợp lí thì môi trường được cải thiện. Ngược lại,
thường bị suy thoái.
2.2.2.2. Thải các chất thải vào môi trường qua quá trình hoạt động và tái sản xuất
Xét cho cùng thì

W =

R: Càng khai thác, sử dụng nguồn TNTN nhiều bao
nhiêu thì tất yếu sẽ càng thải vào môi trường lớn bấy nhiêu  đẩy mạnh phát triển công
nghệ tinh, sử dụng khối lượng ngày càng ít nguyên liệu hơn, việc xây dựng lối sống lành
mạnh giảm thải vào môi trường chính là cải thiện môi trường sống.
2.2.2.3. Tác động trực tiếp vào môi trường
Trong quá trình phát triển, tác động của con người vào môi trường phù hợp với các
qui luật tự nhiên thì tạo ra hiệu quả tích cực. Ngược lại, dẫn đến các hậu quả tiêu cực, gây
hại cho môi trường  bất kì tác động nào của con người đối với môi trường đòi hỏi phải
được tính toán, cân nhắc thận trọng.
Câu 5: Mối quan hệ giữa môi trường với phát triển
2.3.1. Mối quan hệ qua lại, thường xuyên và lâu dài
Từ xa xưa đến nay, Con người và sự sống của con người vẫn luôn luôn lệ thuộc và
là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ thống tự nhiên.
Ngược lại, trong quá trình sống và hoạt động của mình, con người cũng thường
xuyên, liên tục khai thác các nguồn TNTN và tác động vào môi trường theo các hướng

Mặt khác, phải lựa theo các qui luật vốn có của tự nhiên để tác động vào tự nhiên
một cách phù hợp. Không can thiệp thô bạo và không được làm đảo lộn các qui luật vốn
bền vững của tự nhiên để tránh sự “trả thù” của tự nhiên. Xây dựng mối quan hệ thân
thiện, “khiêm tốn” với tự nhiên. Vấn đề “chinh phục tự nhiên” xem xét lại một cách
nghiêm túc hơn.
2.5.2.2. Tiết kiệm trong khai thác, sử dụng các nguồn TNTN và thành phần môi
trường
Để phát triển bền vững nhất thiết phải tiết kiệm.
Trước hết, cần phải quản lí chặt chẽ môi trường, đặc biệt là các nguồn TNTN.
Mặt khác, cần phải tăng cường áp dụng các thành tựu giảm thiểu hao phí TNTN và
thành phần môi trường để tạo ra một đơn vị sản phẩm.
2.5.2.3. áp dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong việc sử dụng tổng hợp và thay thế
các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thành phần môi trường
- Sử dụng tổng hợp các nguồn TNTN và thành phần môi trường là để hướng tới tạo
ra một nền sản xuất kín, không có hoặc có rất ít chất thải.
- Thay thế các nguồn TNTN và thành phần môi trường là để sử dụng các nguồn dễ
kiếm, rẻ tiền, hoặc lấy từ nguồn TNTN có khả năng tái tạo hay vô hạn thay thế các nguyên
liệu truyền thống trước đây khó kiếm và dễ cạn kiệt.
2.5.2.4. Tăng cường các biện pháp bảo vệ, phục hồi, cải tạo và làm phong phú hơn các
nguồn tài nguyên thiên nhiên và thành phần môi trường
Bảo vệ môi trường gắn với bảo tồn, cải tạo, làm phong phú và giàu có hơn các
nguồn TNTN.
Cõu7: Cỏc nguyờn tắc phỏt triển bền vững
2.5.3.1. Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất, làm cơ sở đạo lí cho các nguyên tắc tiếp theo khác.
Trước hết, sự phát triển của mỗi nước, mỗi cộng đồng không được làm tổn hại đến
quyền lợi của những nước khác, cộng đồng khác và của các thế hệ mai sau. Mặt khác, sự
sống còn của con ngưòi lại phụ thuộc và do vậy phải tôn trọng tất cả các dạng sống trên
trái đất.
2.5.3.2. Cải thiện chất lượng cuộc sống con người

 Thể chế đồng bộ, thống nhất, có sự bao quát đối với mọi lĩnh vực, trong đó có
lĩnh vực về môi trường.
 Cơ chế phù hợp, đảm bảo quyền lợi của con người, phục vụ đắc lực cho việc
thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
2.5.3.9. Kiến tạo một cơ cấu liên minh toàn cầu
Trong thế giới ngày nay, không có quốc gia nào có thể phát triển khép kín được.
Muốn đạt được sự phát triển bền vững toàn cầu cần phải có sự liên minh chặt chẽ giữa tất
cả các nước.
Tất cả đều có lợi ích trong sự phát triển bền vững chung, cũng như đều bị đe doạ
đến quyền lợi nếu chúng ta không đạt được điều này.
Cần đẩy mạnh việc kí kết những công ước quốc tế đối với các quốc gia, đặc biệt là
đối với những nước có những vấn đề gay gắt và nhạy cảm về môi trường.
Câu 8 : Mô hình khai thác đối với các tài nguyên vô hạn
Trong phạm vi sự sống của loài người thì mặt trời và nguồn năng lượng của nó vẫn được
coi là vô hạn. Nguồn năng lượng mặt trời đóng vai trò quyết định và là nguồn gốc của sự
sống trái đất.
Từ năng lượng mặt trời được chuyển hoá, các dạng năng lượng khác được hình
thành và được tích luỹ dưới dạng tiềm năng: gió, sóng biển, dòng chảy biển và đại dương,
dòng chảy sông suối,… và cuối cùng là năng lượng sinh khối.
Nguồn tài nguyên này phân bổ không đều theo thời gian trong ngày và trong năm,
theo không gian lãnh thổ.
Loài người đã có nhiều thành tựu trong việc khác thác và sử dụng nguồn tài nguyên
năng lượng mặt trời; hơn nữa, đây lại là loại năng lượng sạch, rất cần cho sự phát triển bền
vững. Về cơ bản, trong phạm vi hoạt động kinh tế có thể xem xét theo hai hướng cơ bản
sau:
1) Tăng cường khai thác, sử dụng trực tiếp nguồn năng lượng từ mặt trời
cung cấp theo hai cách:
- Sử dụng nhiệt mặt trời :
+ Phơi, sấy khô các vật dụng và hàng hoá (phơi khô nông, lâm, thuỷ, hải sản; phơi
khô các sản phẩm chế biến; phơi khô quần áo và đồ dùng gia đình…). Đây là một hình

Trong điều kiện hiện nay, con người mới chỉ có khả năng khai thác các dạng tài nguyên
năng lượng đạt hiệu suất dưới 1,5%, tức là nguồn này nhìn chung còn rất dồi dào, chúng ta
khai thác sử dụng là không đáng kể.
Sản lượng khai thác đối với nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh (Y) được xác
định trên cơ sở mối quan hệ giữa trữ lượng (X) và tỉ lệ khai thác (E); tức là chúng được
biểu diễn qua biểu thức: Y= E.X; hay là E =
X
Y
; ( hình 3.3).
Y (Sản lượng khai thác)MSY H
Y
1
ỏ F
0
X
0
X
1
X
MSY
X
MAX
X (Trữ lượng)
Hình 3.3. Quan hệ giữa tỉ lệ khai thác (E) với trữ lượng tài nguyên (X)

Qua công thức trên ta thấy, tỉ lệ khai thác E tỉ lệ thuận với sản lượng khai thác (Y),
và tỉ lệ nghịch với trữ lượng (X); nhưng vì Y<X, nên E<1. Trong trường hợp này thì trữ

3
)MSY 45 H
F
0 450 (m
3
)
X
0
X
MSY
X
MAX
X (Trữ
lượng)
Hình 3.4. Sản lượng tối đa bền vững (MSY) và tỉ lệ khai thác (E) của rừng
nguyên liệu giấy ở địa bàn nghiên cứu.
Để đảm bảo hàng năm khai thác cây làm nguyên liệu giấy mà không làm suy giảm
khả năng tái sinh rừng, thì sản lượng trung bình không được vượt quá khả năng tái sinh của
rừng, tức là:
+ Sản lượng tối đa bền vững (MSY) sẽ là:
450 : 10 = 45 (m
3
/ha)
+ Tỉ lệ khai thác (E) trong điều kiện sản lượng tối đa bền vững E = 10%
(hoặc 1/10). Có thể được minh hoạ qua Hình 3.4.
Câu10: nguyên lý khai thác với tài nguyên khoáng sản
Hoạt động khai thác khoáng sản có ảnh hưởng từ 2 phía:

+ Sự khai thác quá mức các nguồn TNTN tạo sức ép nặng nề.
+ Khối lượng lớn chất thải, vượt quá khả năng tự hấp thụ, trung hoà của môi
trường.
+ Tình trạng phân hoá sâu sắc mức sống của dân cư giữa hai hệ thống các nước.
Theo ước tính, 20% số dân là người giàu chiếm khoảng 83% tổng thu nhập của thế giới;
ngược lại, 20% số dân nghèo nhất chỉ có 1,5% tổng thu nhập. Từ đó dẫn đến quá trình gây
ô nhiễm môi trường theo sự phân cực giữa hai hệ thống này là:
* Ô nhiễm do nghèo đói ở các nước đang phát triển.
* Ô nhiễm do giàu có ở các nước công nghiệp phát triển.
Chính sự chênh lệch ngày càng lớn mức sống đã dẫn đến tình trạng di dân phổ biến
xảy ra dưới nhiều hình thức. Nguồn cung cấp nước sạch, nhà ở, cây xanh ... không đáp ứng
kịp thời cho sự gia tăng dân số đô thị  ngày càng làm trầm trọng hơn sự ô nhiễm môi
trường ở các thành phố lớn, đặc biệt là các thành phố lớn ở các nước đang phát triển.
Từ giữa thế kỉ XX đến nay, dân số thế giới tăng nhanh. 2 tỉ người năm 1930, đến
nay (năm 2007) đã lên tới 6,6 tỉ người. Do vậy, để duy trì và phát triển cuộc sống, con
người đã khai thác ồ ạt các nguồn TNTN, làm tàn phá và gây ô nhiễm môi trường, phá vỡ
cân bằng sinh thái, đe doạ trực tiếp đến sự sống còn của chính con người.
- Nghèo đói và nguy cơ tàn phá môi trường
Do phải đối mặt với sự tồn tại cuộc sống trước mắt, những người nghèo vừa là
nguyên nhân gây ra các vấn đề tài nguyên - môi trường, vừa là nạn nhân của chính sự tàn
phá tài nguyên - môi trường. Đó chính là hệ thống có liên quan mật thiết, trói buộc lẫn
nhau giữa sự gia tăng nhanh về dân số, sự nghèo đói, sự thấp kém về dân trí và sự tàn phá
về TNTN và môi trường (hình 3.7.)
Những bộ phận dân cư nghèo nhất thường lại sống ở những vùng nhạy cảm nhất,
dễ bị tổn thương nhất về tài nguyên và môi trường. Các vấn đề về tài nguyên và môi
trường thường bị xem nhẹ và bị chi phối bởi những nỗ lực trong việc thoả mãn các nhu cầu
thiết yếu của người nghèo về các nhu yếu phẩm, nhà ở, y tế, giáo dục.
Tàn phá TNTN
Đói nghèo và môi trường
Dân số tăng nhanh Dân trí thấp

- Phân bố lại dân cư và sử dụng hợp lí lao động
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, tình hình chung của nhiều quốc gia trên thế giới
là dân cư phân bố không đều, không hợp lí. Như vậy, rõ ràng các điều kiện TNTN và môi
trường có ảnh hưởng trực tiếp và đặc biệt quan trọng trong sự phân bố dân cư trên thế giới.
Cho đến nay, đã diễn ra quá trình dịch chuyển kinh tế, phát triển mạnh mẽ các khu
công nghiệp, các vùng kinh tế mới để khai thác các nguồn lợi từ tự nhiên. Từ đó đã kéo
theo quá trình di dân dưới nhiều hình thức khác nhau.
Quá trình di dân thường được thể hiện dưới hai hình thức chủ yếu: Di dân tự do và
di dân có tổ chức.
+ Di dân tự do thường diễn ra ở qui mô nhỏ lẻ, thiếu kế hoạch thống nhất và nằm
ngoài sự kiểm soát quản lí của nhà nước. Di dân loại này thường dễ gây ra những tác động
tiêu cực đến TNTN và môi trường. Do vậy, đối với di dân loại này Nhà nước cần phải có
biện pháp cụ thể, một mặt nhanh chóng ổn định cuộc sống của người dân định cư, mặt
khác phải giáo dục và hướng dẫn họ cùng tham gia bảo tồn các nguồn TNTN và môi
trường sống.
1
Di dân từ nông thôn ra thành thị, nhất là ra các đô thị lớn. áp lực về việc làm, về
tăng nhanh các tệ nạn xã hội, về môi trường đô thị xuống cấp... Nhà nước cần phải có các
chính sách, tăng cường chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần đẩy mạnh quá trình đô thị hoá, tạo
ra sự phát triển đồng đều về các mặt để thu hút lao động và dân cư.
+ Di dân có tổ chức là việc Nhà nước bằng các hình thức khác nhau có các chính
sách để đưa dân từ vùng đông dân đến các vùng ít dân, hoặc đưa dân đi khỏi vùng do phải
giải toả xây dựng các công trình quan trọng quốc gia hoặc do phải đảm bảo an toàn dân
sinh.
- Lồng ghép vấn đề dân số và môi trường với các chính sách phát triển kinh tế – xã
hội khác
Vấn đề TNTN và môi trường gắn với vấn đề dân số và chính sách phát triển kinh tế
– xã hội ở mỗi quốc gia. Giữa chúng có mối quan hệ gắn bó mật thiết và tác động tương
lẫn nhau.
Dân số tăng nhanh, nghèo đói và dân trí thấp thường đi liền với nhau; và hậu quả

phải tiếp tục được giải quyết. Đặc biệt, tình trạng khai thác rừng và khoáng sản bừa bãi
chưa được kiểm soát chặt chẽ, tình trạng gây ô nhiễm môi trường các khu công nghiệp và
các khu dân cư tập trung vẫn còn diễn ra khá nghiêm trọng ở nhiều nơi.
Câu12: Tác động gây ngoại ứng tiêu cực đến môI trường
Phần lớn các hoạt động sản xuất và dịch vụ thường gây ngoại ứng tiêu cực đến môi trường.
MC, MR, P
MSC
I
H
P
0
E
B MPC
P
1
MEC
A F
MR

O Q
0
Q
1
Q

Hình 4.1. Tác động gây ngoại ứng tiêu cực đến môi trường
Trên hình 4.1. đường chi phí cá nhân biên (MPC) luôn nằm dưới đường chi phí xã hội biên
(MSC). Độ lớn chênh lệch giữa hai loại chi phí này là chi phí ngoại ứng biên (MEC). Điều
đó có nghĩa là:
MSC = MPC + MEC =

0
=

Qo
dQMR
0
.
= Độ lớn hình OIEQ
0
Tổng lợi ích đạt được của xã hội TB
0
=

Qo
dQMR
0
.
-
dQMSC
Qo
.
0

= TR
0
- TC
0
= Hiệu
số độ lớn diện tích hình OIEQ
0

1
=

1
0
.
Q
dQMR
-

1
0
.
Q
dQMSC
= TR
1
– TC
1

= Hiệu số độ lớn hình OIFQ
1
– OBHQ
1
= Hiệu số độ lớn hình IEB – EFH (2) .
* So sánh tại điểm F với tại điểm E ta có:
TB
1
– TB
0

1
=

1
0
.
Q
dQMSC


1
0
.
Q
dQMPC
hay T
1
= TEC
1
= độ lớn hình ABHF. Sản lượng càng
cao càng phải đóng thuế nhiều hơn và thường với mức thuế suất luỹ tiến theo mức tăng sản
lượng của doanh nghiệp. Hai giải pháp phải thực hiện:
- Doanh nghiệp phải hạn chế qui mô sản xuất tới sản lượng Q
0
: Tối đa hoá lợi ích
xã hội, nhưng doanh nghiệp vẫn có lãi sau khi đã nộp thuế ô nhiễm. - Doanh nghiệp phải
đổi mới công nghệ, giảm thải gây độc hại ô nhiễm môi trường. Từ đó doanh nghiệp cần
phải có sự cân nhắc hài hoà khi trang bị công nghệ mới.
Câu13: Tác động ngoại ứng tích cực đến môi trường
P, MC, MB

Qo
dQMSB
0
.
-
dQMSC
Qo
.
0

= Độ lớn hình IBE.
- Tại điểm F: Q
1
là mức sản lượng đảm bảo tối đa hoá lợi ích của doanh nghiệp.
Khi đó tổng lợi ích xã hội đạt được là:
TB
1
=

1
0
.
Q
dQMSB
-

1
0
.
Q

Trên hình 4.3. Mô hình thoả thuận ô nhiễm được xác định là:
Q
1
: Sản lượng đảm bảo tối đa hoá lợi ích của doanh nghiệp
Q
0
: Sản lượng đảm bảo tối đa hoá lợi ích của xã hội
Q
2
: Sản lượng cân bằng giữa lợi nhuận và chi phí ngoại ứng có hại của
doanh nghiệp
MNPB: Lợi ích ròng biên của doanh nghiệp (có thể được coi là lợi nhuận
của doanh nghiệp).
Bây giờ ta xem xét hai tình huống sau đây:
Tình huống thứ nhất: Quyền sở hữu môi trường thuộc người bị ô nhiễm
(bên B)
Bên B không muốn ô nhiễm, họ muốn mức hoạt động sản xuất trở về điểm 0. Điều
này trái với mục đích của hoạt động sản xuất. Nếu nhà sản xuất (bên A) hoạt động với sản
lượng tại điểm Q
3
; tại mức hoạt động này doanh nghiệp đã gây ra một ngoại ứng (EC) với
mức chi phí bằng diện tích hình OLVQ
3
. Nhưng doanh nghiệp phải sản xuất ở mức cao
nhất để nhằm thu được lợi nhuận nhiều hơn. Như vậy, tất yếu phải dẫn đến việc mặc cả
thông qua thị trường giữa bên A và bên B.
Nếu A đền bù cho B một khoản chi phí tối thiểu phải bằng ngoại ứng có hại gây ra
(độ lớn diện tích hình OLVQ
3
), thì bên A vẫn thu được khoản lợi nhuận (độ lớn diện tích

MSC
I
E
MPC
Hình 4.3. (a) F
MR
A
MEC
O Q
0
Q
1
Q
MR, MC
K N
MNPB
Hình 4.3. (b) MEC
G T M
v
L U

0 Q
3
Q
0
Q
4
Q
1
Q

Nếu bên B bỏ ra một khoản tối thiểu bằng lợi nhuận nhà sản xuất chịu mất đi do
giảm mức sản xuất từ Q
1
xuống Q
4
thì bên A có thể sẵn sàng chấp thuận. Điều đó có lợi,
bởi lẽ bên B bỏ ra một khoản bằng độ lớn hình Q
4
UQ
1
, nhưng họ lại tránh được một tổn
thất lớn hơn rất nhiều (UTMQ
1
) do ô nhiễm môi trường gây ra. Điều này có nghĩa là bên B
bớt đi một tổn thất là:

1
4
.
Q
Q
dQMEC
-

1
4
.
Q
Q
dQMNPB

). Pigou đã đưa nguyên tắc là, mức
thuế ô nhiễm tính cho mỗi đơn vị sản phẩm có giá trị bằng chi phí ngoại ứng do đơn vị sản
phẩm gây ra tại mức sản lượng Q
0
; tức là t
0
= MEC(Q
o
) (xem hình 4.5)

MC, MR, P
MSC
N

G
E MPC
L F
I J
MEC
2
Arthur C. Pigou (1877 – 1959) là một giáo sư kinh tế chính trị tại Trường Đại học Cambridge từ
1908 – 1944. Ý tưởng về thuế ô nhiễm của ông được đề cập lần đầu năm 1920 trong tác phẩm
"Kinh tế học phúc lợi’’.
M H
K MNPB MR

O Q
0
Q
1

giảm. Nhờ cách đánh thuế này doanh nghiệp không tăng thêm sản lượng.
áp dụng thuế Pigou đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi ích xã hội, buộc nhà sản xuất
phải điều chỉnh mức hoạt động của doanh nghiệp về sản lượng tối ưu xã hội. Vì vậy, người
ta thường gọi thuế Pigou là “thuế ô nhiễm tối ưu”.
Điều kiện để tối đa hoá lợi ích xã hội là MB = MSC, hay MR = MSC. Ngoài việc
doanh nghiệp đóng góp khoản thuế T(Q
0
) = Độ lớn hình OKHQ
0
(hay hình ILEJ), xã hội
còn được bù đắp từ lợi nhuận của doanh nghiệp ít nhất bằng độ lớn hình LNE. Hay nói
cách khác, sau khi nộp thuế, thặng dư người tiêu dùng sẽ là độ lớn hình LNE.
4.3.2. Thuế Pigou và mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của nhà sản xuất
Khi chưa thuế, doanh nghiệp sản xuất ở sản lượng Q
1
, tại đây lợi nhuận sẽ lớn nhất
OGQ
1
. Khi áp dụng thuế t
0
, tại mức sản lượng Q
0
, tổng số thuế doanh nghiệp phải nộp là
ILEJ (hoặc hình OKHQ
0
), lợi nhuận sau thuế là MIJ.
Giả sử sản lượng vượt quá Q
0
, MNPB < t
0

Đối với hoạt động sản xuất: SXSH giảm thiểu tác động có hại trong chu trình sản
xuất, từ khai thác nguyên liệu, đến giao sản phẩm.
Đối với dịch vụ: Phòng ngừa ô nhiễm môi trường từ thiết kế, quản lí hoạt động,
đến chọn đầu vào các dịch vụ.
Tuy nhiên, một số loại không được coi là SXSH, như: tái chế ngoài phạm vi xí
nghiệp, di chuyển các chất độc hại sang một môi trường trung gian khác, xử lí chất thải,
làm loãng thành phần chất thải để giảm bớt độ độc hại và nguy hiểm v.v..
Chất thải được coi là “sản phẩm” có giá trị kinh tế âm.
* Như vậy, SXSH có nghĩa là trong quá trình hoạt động sản xuất tránh hoặc giảm
bớt lượng chất thải được sản sinh ra; sử dụng có hiệu quả các nguồn năng lượng và
nguyên nhiên vật liệu; sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ có lợi cho môi trường; giảm
bớt lượng chất thải xả vào môi trường, giảm chi phí và tăng lợi ích đối với hoạt động của
doanh nghiệp.
4.4.1.2. Lợi ích của SXSH (5)
Nâng cao chất lượng mọi mặt môi trường sống.
Môi trường liên tục được cải thiện.
Làm giảm các loại chi phí. Các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để tối ưu hoá quá
trình sản xuất kinh doanh. Việc tránh làm phát sinh chất thải không những tiết kiệm được
chi phí, mà hơn thế nữa còn giúp tái chế hoặc sử dụng lại các chất thải, phế liệu, vì vậy sẽ
giúp làm tăng lợi ích kinh tế cho người sản xuất.
Góp phần nâng cao hiệu quả và năng suất của hoạt động của các doanh nghiệp.
Làm tăng lợi thế của các công ti. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và người
tiêu dùng ngày càng ý thức hơn về vấn đề môi trường, thì các sản phẩm đáp ứng các tiêu
chuẩn môi trường sẽ có lợi thế và do vậy mới có khả năng cạnh tranh được trên thị trường.
4.4.1.3. Các trở ngại chủ yếu trong áp dụng SXSH (2)
- Các trở ngại trong nội bộ doanh nghiệp:
+ Nhận thức về bảo vệ môi trường trong sản xuất kinh doanh còn thấp;
+ Thiếu thông tin và kiến thức chuyên môn;
+ Chỉ coi trọng ưu tiên cho cạnh tranh trong kinh doanh; tức là sức ép về đầu tư
trong ngắn hạn thường lớn hơn nhiều so với đầu tư trong dài hạn (trong đó có ván đề môi

2
W
Hình 4.6. Thị trường côta ô nhiễm
Hình 4.6 là cơ sở phân tích về thị trường côta. Trong đó:
MAC là đường chi phí biên làm giảm ô nhiễm, đường này cũng được coi là
đường cầu với côta ô nhiễm; tức là với mức thải cho phép với giá côta nào đó thì buộc
người sản xuất phải mua số côta tương ứng.
MDC là đường chi phí thiệt hại biên, thực chất đây cũng được coi là đường
chi phí ngoại ứng biên (MEC).
Trên hình 4.6. chỉ ra mức ô nhiễm và số côta ô nhiễm cần được cấp:
OW
2
là số côta tối đa, tương ứng với mức được thải tối đa.
OW* là số côta tối ưu, tương ứng với mức phát thải tối ưu, và với giá côta
tối ưu OP*. Điều này có nghĩa là, theo mục đích tối ưu Pareto, nhà nước cần phát hành
OW* côta.
OW
1
là mức thải các doanh nghiệp thường gây ra, mức này thường cao hơn
mức phát thải tối ưu.
Với qui định số lượng côta, giá côta được thải, nhà sản xuất sẽ lựa chọn một trong
hai giải pháp:
- Mua côta ô nhiễm để được thải với mức thải qui định.
- Tăng chi phí làm giảm ô nhiễm theo yêu cầu kiểm soát ô nhiễm.
4.5.2. Các lợi ích của côta ô nhiễm
Động lực của thị trường này là cả người mua và người bán đều có lợi; đồng thời
tổng chi phí giảm thải của toàn xã hội sẽ giảm xuống.
Người gây ô nhiễm nào có biện pháp giảm ô nhiễm rẻ hơn việc mua côta ô nhiễm
thì họ sẽ bán lại các côta đó cho người gây ô nhiễm khác; còn ngược lại. Bằng cách này,
người gây ô nhiễm sẽ tối thiểu hoá chi phí ô nhiễm và mức phát thải ô nhiễm.Trong trường

đến người ra quyết định” (Các công cụ đánh giá tác động môi trường, NXB KH –
KT, 2001).
Theo Tổ chức Môi trường Liên hợp quốc (UNEP): “Đánh giá tác động
môi trường là quá trình nghiên cứu nhằm dự báo các hậu quả đối với môi trường
của một dự án phát triển quan trọng. Đánh giá tác động môi trường xem xét việc
thực hiện dự án sẽ gây ra những vấn đề gì đối với đời sống của con người tại
khu vực thực hiện dự án, tới hiệu quả của chính dự án và của các hoạt động
phát triển khác tại vùng đó. Sau dự báo đánh giá tác động môi trường phải xác
định các biện pháp làm giảm đến mức tối thiểu các tác động tiêu cực làm cho dự
án thích hợp hơn với môi trường của nó” (UNEP, ROAP, 1988).
ở Việt Nam, việc đánh giá tác động môi trường bắt đầu được chú trọng tới
từ những năm 90 của thế kỷ XX. Tới nay, đánh giá tác động môi trường luôn là
một công cụ quan trọng được sử dụng trong lĩnh vực bảo vệ và quản lý môi
trường. Theo Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam được Quốc hội khoá XI
thông qua vào năm 2005: “Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự
báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện
pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”.
Như vậy, xét cho cùng đánh giá tác động môi trường chính là công việc
thẩm định đảm bảo chắc chắn về mặt môi trường của một dự án đầu tư cụ thể.
5.1.3. Mục đích của đánh giá tác động môi trường
5.1.3.1. Dự báo những tác động có thể có đối với môi trường của dự án
đầu tư
Đây là một công cụ giúp cho sự phòng ngừa và ngăn chặn hữu hiệu các
tác động tiêu cực tới môi trường của những dự án phát triển. Một báo cáo đánh
giá tác động môi trường cần phải được xem xét tất cả những ảnh hưởng đối với
cuộc sống của con người, tới các thành phần của môi trường, đặc biệt là tới các
hệ sinh thái tự nhiên. Báo cáo đánh giá tác động môi trường cần phải xem xét
trong tất cả các yếu tố thành phần của môi trường trong quá trình thiết kế, triển
khai và cả quá trình vận hành dự án được thực hiện.
5.1.3.2. Tìm kiếm các giải pháp khoa học và hợp lí để ngăn chặn hoặc làm

Cũng như ở các nước đang phát triển, đánh giá tác động môi trường là
một hoạt động rất mới mẻ ở Việt Nam. Hơn nữa, hoạt động này khá phức tạp,
bao gồm nhiều công việc khác nhau, liên quan tới nhiều lĩnh vực hoạt động
và lợi ích của nhiều đối tượng khác nhau. Chính vì vậy, đánh giá tác động môi
trường cần phải có sự tham gia của nhiều nhóm công tác, của nhiều chuyên gia
và những người có liên quan. Có thể phân ra làm ba nhóm chủ yếu sau :
- Chủ dự án hoặc các chuyên gia thuộc tổ chức dịch vụ tư vấn có trách
nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường để trình cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phê duyệt.
- Nhóm các nhà khoa học, các chuyên gia có kinh nghiệm và trình độ
chuyên môn về bảo vệ môi trường nơi thực hiện dự án. Đại diện những tổ chức,
cộng đồng dân cư, cá nhân có quyền lợi hoặc có quyền lợi bị ảnh hưởng khi dự
án đầu tư được triển khai thực hiện.
- Đại diện của tổ chức, cá nhân do cơ quan có thẩm quyền thành lập hội
đồng thẩm định quyết định. Đại diện của cơ quan phê duyệt dự án. Đại diện của
cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường của cơ quan phê duyệt dự án. Nhóm
những nhà chức trách có chức năng kiểm tra, kiểm soát quá trình triển khai và
thực hiện dự án
5.1.4.3. Cung cấp thông tin đối với những người ra quyết định về dự án
Việc thu thập thu thập và cung cấp thông tin môi trường cho người ra
quyết định có tầm quan trong đặc biệt. Thông tin môi trường bao gồm một dải
rộng các dữ liệu, các số liệu thống kê trên cả hai phương diện định lượng và
định tính. Việc cung cấp thông tin cho phép người ra quyết định phân tích được
nguyên nhân và hậu quả, trên cơ sở đó đưa ra được chiến lược hành động,
quản lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi
trường.
Các thông tin cung cấp phải được giải thích rõ ràng, phải đảm bảo có tính
định hướng các vấn đề và đáp ứng các nhu cầu của những người ra quyết định,
cho nên trong quá trình lựa chọn các dữ liệu phải đề cập tới các vấn đề then
chốt. Việc cung cấp thông tin về dự án phải được thực hiện trước và phải được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status