Một số giải pháp nhằm mở rộng công tác huy động vốn tại chi nhánh NHNo&PTNT Ba Đình, Hà Nội - Pdf 92

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Hoạt động tiền tệ tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối
với sự ổn định và phát triển kinh tế quốc gia. Ngời ta sẽ không thể thiết lập một
nền kinh tế hiệu quả chừng nào cha xây dựng một chính sách tài chính - tiền tệ,
một hệ thống ngân hàng có khả năng đảm bảo việc thu hút và phân bổ có hiệu quả
các nguồn tài chính.
Trớc đây, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kinh tế kém
phát triển của nớc ta là sự thiếu vốn trầm trọng, nhng cái thiếu lớn nhất là sức huy
động vốn, thiếu thị trờng vốn cùng với môi trờng pháp lý phù hợp và các điều kiện
cần thiết để động viên, thu hút các nguồn vốn tiềm tàng trong nền kinh tế, nhất là
trong dân c. Vốn còn nhiều nhng cần phải tìm ra đợc phơng thức huy động và
lôi vốn ra khỏi những nơi nắm giữ nó. Quản lý và sử dụng tốt số vốn huy động
đợc để đáp ứng nhu cầu vốn đối với nền kinh tế là một vấn đề đang đợc nhiều ngời
quan tâm, sự khơi thông các dòng vốn đang là nhiệm vụ quan trọng trong việc
hoạch định chính sách kinh tế.
Mặt khác, để có thể tồn tại và phát triển, đáp ứng nhu cầu vốn đầu t với tốc
độ nhanh, ổn định, hoà nhập vào sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới, các
ngân hàng thơng mại (NHTM) Việt Nam phải quan tâm nhiều hơn nữa đến công
tác huy động vốn.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, chúng ta không thể thực hiện thành công
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc nếu không huy động đợc nhiều nguồn vốn
và sử dụng chúng một cách có hiệu quả. Vấn đề hình thành thị trờng vốn ngày
càng trở nên bức xúc đối với nền kinh tế, nòng cốt của thị trờng này phải là các
NHTM. Vì thế, ngành ngân hàng đảm đơng nhiệm vụ nặng nề là tiếp tục đổi mới,
tuân thủ những nguyên tắc của cơ chế thị trờng và các thông lệ quốc tế nhằm huy
động và cho vay có hiệu quả đáp ứng vốn cho nhu cầu tăng trởng cao của nền kinh
tế quốc dân. Hoạt động tài chính ngân hàng không chỉ là điều kiện mà còn là động
lực đảm bảo thắng lợi cho công cuộc đổi mới trong nền kinh tế thị trờng theo định
hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta qua hơn một thập kỷ phát triển.
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng đại hội VIII khoá VII đã chỉ

nhánh NHNo&PTNT Ba Đình.
Mặc dù đã hết sức cố gắng, song do thời gian thực tập không dài, kiến thức
thực tế còn hạn chế, nên trong khi nghiên cứu em không thể tránh khỏi những
thiếu sót nhất định. Em mong nhận đợc sự góp ý và giúp đỡ của các thầy cô để em
có thể chỉnh, sửa nội dung bài viết đợc hoàn thiện hơn nữa.

2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng I
những vấn đề cơ bản về công tác huy động vốn tại
NHTM.
I. Vai trò của công tác huy động vốn đối với NHTM.
1. NHTM và chức năng của NHTM.
1.1. Khái niệm NHTM.
Sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trờng là tất yếu dẫn đến sự ra
đời của các trung gian tài chính, trong đó chủ yếu là các NHTM.
ở Việt Nam, từ năm 1988 mới hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp, bao
gồm:
- Ngân hàng Trung ơng: cơ quan quản lý nhà nớc trong lĩnh vực tiền tệ,
tín dụng và ngân hàng.
- Các NHTM: đóng vai trò là các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh tiền
tệ.
Theo luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ tháng 10 năm 1998, NHTM đ-
ợc định nghĩa nh sau: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ m hoạt động chủ
yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi của khác hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng tiện
thanh toán .
Định nghĩa trên đã khẳng định NHTM là một doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực tiền tệ, trong đó có hai mặt cơ bản:
- Nhận ký thác của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức, cơ quan nhà

trung thành định chế ngân hàng hai cấp theo hớng kinh tế thị trờng . Ngày
23/5/1990 nhà nớc đã ban hành hai pháp lệnh về ngân hàng. Ngày 26/12/1997, hai
pháp lệnh trên đợc thay thế bằng hai luật: Luật Ngân hàng Nhà nớc và Luật các tổ
chức tín dụng, tạo đợc một hành lang pháp lý khá đầy đủ cho hoạt động ngân
hàng. Bộ mặt ngành ngân hàng đã thay đổi, hoạt động sôi nổi và đầy ý nghĩa, đánh
dấu một bớc ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển của ngành.
Hệ thống NHTM Việt Nam từ khi ra đời cho tới nay đã dần khẳng định đợc
vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trong việc thực thi chính sách tài
chính tiền tệ nói riêng. Vẫn với chức năng nhận tiền gửi để cho vay đối với nền
kinh tế, với vai trò trung gian tài chính trong hoạt động của mình, NHTM vẫn phải
tuân theo sự quản lý của Nhà nớc mà trực tiếp là sự quản lý của Ngân hàng Trung
ơng. Chính dới sự quản lý này, hệ thống NHTM đã thực hiện đợc chức năng của
mình đối với nền kinh tế. Để hiểu rõ hơn vê NHTM, đặc biệt là tầm quan trọng
của NHTM đối với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nớc, ta sẽ tìm hiểu
chức năng, vai trò của NHTM.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2. Chức năng của NHTM.
Hoạt động kinh doanh của các NHTM trong những năm gần đây thờng
xuyên đổi mới nhằm thích ứng với những điều kiện kinh tế năng động và sự điều
chỉnh của pháp luật. Xét về mặt hình thức, tuy vẫn là những nghiệp vụ cơ bản nh
nhận tiền gửi, cho vay, chi trả hộ nhng ngân hàng đã mở rộng cả về quy mô, ph-
ơng thức đặc biệt là công nghệ. Cho nên các NHTM ngày càng khẳng định đợc vị
thế của mình trong sự phát triển của nền kinh tế đất nớc. Điều này đợc minh họa
thông qua chức năng của NHTM sau đây:
1.2.1. Chức năng trung gian tài chính.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu t, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế đó là: cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi
tiêu cho tiêu dùng và đầu t vợt quá thu nhập; do đó họ là những ngời cần bổ sung

bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lu thông (M
0
) thứ hai là số d
trên tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại các ngân hàng, thứ ba là
tiền gửi trên các khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn
Khi ngân hàng cho vay, số d trên tiết kiệm thanh toán của khách hàng tăng
lên khác hàng có thể dùng để mua hàng hóa và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay
(hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phơng tiện thanh toán (tham ra tạo ra
M
1
).
Toàn bộ hệ thống NHTM cũng tham ra tạo phơng tiện thanh toán khi các
khoản tiền gửi đợc mở rộng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác trên cơ sở cho
vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo
nên khoản thu (tức là tăng số d tiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân
hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một ngân hàng
riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ d thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có
thể tạo ra khối lợng tiền gửi (tạo phơng tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt
động cho vay.
1.2.3. Chức năng trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa,
dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân
hàng đa ra nhiều hình thức thanh toán nh: thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ
thu, các loại thẻ cung cấp mạng l ới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung
cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ
với nhau thông qua Ngân hàng Trung ơng hoặc thông qua các trung tâm thanh
toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử
dụng công nghệ đó ngày càng đợc mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại
qua ngân hàng thờng đợc các nhà quản lý sử dụng rộng rãi. Nhiều hình thức thanh

chế lạm phát thì chức năng tạo tiền đợc lu tâm hàng đầu. Với mục tiêu huy động
vốn cho đầu t phát triển thì chức năng nhận tiền gửi để cho vay của ngân hàng đợc
chú trọng phát huy hơn cả. NHTM còn là trung gian thanh toán thỏa mãn nhu cầu
thanh toán, giao dịch trong nền kinh tế hàng hóa
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.3. Vai trò của NHTM.
1.3.1. NHTM là công cụ quan trọng thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển.
Một doanh nghiệp muốn tồn tại hay tiến hành bất kỳ một hoạt động kinh
doanh nào cũng đều cần phải có vốn, bởi vốn là giá trị của các tài sản xã hội đợc
đa vào đầu t nhằm mang lại hiệu quả trong tơng lai. Chính vì vốn có vai trò quyết
định trong việc tạo ra của cải vật chất và những tiến bộ xã hội nên nó là nhân tố vô
cùng quan trọng để thực hiện quá trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát
triển cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế.
Trong nền kinh tế thị trờng, dù hoạt động ở lĩnh vực nào thì vốn cũng là một
trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả hoạt động của nó. Trong
lĩnh vực thơng nghiệp vốn làm tăng khả năng dự trữ hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ
vận chuyển hàng hóa đến tay ngời tiêu dùng góp phần thúc đẩy việc tiêu thụ sản
phẩm. Trong lĩnh vực tài chính, vốn giúp chính phủ cải thiện đợc tình hình thiếu
vốn của Ngân sách vì thu nhập của Nhà nớc không phải lúc nào cũng đủ để bù đắp
chi phí. Bên cạnh đó, cùng với việc thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, vốn sẽ
góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và các thành phần
kinh tế, đồng thời nó tạo ra quá trình đào thải đối với những doanh nghiệp mà
nguồn vốn tích lũy thấp, sử dụng vốn kém hiệu quả, sản xuất nhỏ, lạc hậu không
đủ sức cạnh tranh.
Từ những lý do trên, ta thấy vốn đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Nhng nguồn vốn đó lấy từ đâu? ai là ngời cung ứng
vốn cho nền kinh tế? Thực tế ở nớc ta cho thấy, do thị trờng chứng khoán cha phát
triển nên NHTM đóng vai trò là tác nhân quan trọng trong việc cung ứng vốn.

góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển ổn định, kiềm chế đợc tốc độ gia tăng của lạm
phát. Muốn điều tiết đợc khối lợng tiền tệ này, Ngân hàng Trung ơng phải thông
qua các công cụ điều tiết trực tiếp và gián tiệp nh: lãi suất cơ bản, hạn mức tín
dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu, hoạt động của thị trờng mở . Nh -
ng phần lớn các công cụ thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Ngân hàng
Trung ơng chỉ đợc thực thi có hiệu quả khi có sự hợp tác tích cực và có hiệu quả
của các NHTM. Đó là việc chấp hành quy chế dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán
không dùng tiền mặt, đến việc nâng cao hiệu quả cho vay và đầu t.
NHTM chịu sự quản lý của nhà nớc mà trực tiếp là sự quản lý của Ngân
hàng Trung ơng nên khi thực hiện các nghiệp vụ của mình NHTM đều phải tuân
theo các quy chế , văn bản do Ngân hàng Trung ơng ban hành.
Từ chức năng, vai trò của NHTM ta thấy NHTM thực chất là tổ chức kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, là một tổ chức trung gian tài chính với
chức năng nhận tiền gửi để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán
2. Vốn và nguồn vốn của NHTM.
Hoạt động của NHTM luôn gắn liền với công tác huy động vốn. Vậy ta hiểu
nh thế nào là vốn?
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, việc tạo nguồn vốn và đầu t
vốn là công việc của Nhà nớc, nghĩa là Nhà nớc đóng vai trò vừa là ngời cấp phát
vốn đầu t cho các thành phần kinh tế, vừa là ngời tiêu thụ các sản phẩm mà các
thành phần kinh tế đó sản xuất. Vốn của các doanh nghiệp chủ yếu do ngân sách
của Nhà nớc cấp hoặc vay tín dụng ngân hàng với lãi suất thấp. Thực tế cho thấy,
nhu cầu vốn của các doanh nghiệp là rất lớn trong khi nguồn vốn ngân sách Nhà
nớc cấp lại có hạn và nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c không thu hút đợc,vì chính
sách huy động vốn cha hợp lý, thủ tục gửi tiền và rút tiền còn rờm rà Nh vậy cơ
chế bao cấp đã làm cho đồng tiền không đợc lu thông và sử dụng có hiệu quả,
không có nơi giao dịch mua bán trên thị trờng. Mặt khác cơ chế huy động vốn và
sử dụng vốn trong thời kỳ này cha đợc quan tâm đúng mức.

Trong NHTM:
T=H-T
Còn trong các tổ chức tài chính trung gian:
T=T-T
Tóm lại từ những nét đặc thù trên ta có thể đa ra khái niệm nh sau: Vốn là
các tài sản trong xã hội đợc đa vào đầu t nhằm mang lại hiệu quả trong tơng lai. Vì
thế trong nền kinh tế thị trờng dù hoạt động trong lĩnh vực nào thì vốn cũng là một
yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của nó. Hoạt động ngân hàng cũng vậy,
muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả mang lại hiệu quả cao thì công tác huy
động cần phải đợc quan tâm đúng mức.
Nớc ta cũng nh bất kỳ nớc nào khác trên thế giới, muốn thực hiện công
nghiệp hóa - hiện đại hóa cũng cần phải có vốn. Vốn là chìa khóa, là điều kiện
hàng đầu để thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Vốn trong nền kinh tế có
thể ví nh máu trong cơ thể. Thiếu vốn nền kinh tế sẽ chậm phát triển. Song vốn đ-
ợc tạo lập từ đâu, bằng cách nào phụ thuộc rất lớn vào cơ chế, chính sách tạo vốn.
Nguồn vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội. Vậy, nguồn vốn của NHTM là gì?
Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền mà ngân hàng tạo lập
và huy động đợc để đầu t cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập và huy động đợc không những giúp cho
ngân hàng tổ chức đợc mọi hoạt động kinh doanh mà còn góp phần quan trọng
trong việc đầu t phát triển sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng
cũng nh sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung. Tuy nhiên,
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nguồn vốn của NHTM đợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nh: vốn chủ sở
hữu, vốn huy động, vốn đi vay và các loại vốn khác.
2.1. Vốn chủ sở hữu.

pháp lý để thành lập ngân hàng, là chỉ tiêu phản ánh quy mô, năng lực hoạt động
của ngân hàng.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.1.2. Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động.
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn chủ theo nhiều phơng
thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng ngân hàng, từng loại hình
ngân hàng, ngân hàng có thể bổ sung từ lợi nhuận để lại hoặc bổ sung từ phát hành
thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm
Nguồn bổ sung từ lợi nhuận: trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không,
chủ ngân hàng có xu hớng gia tăng vốn chủ sở hữu bằng cách chuyển một phần
thu nhập ròng thành vốn đầu t. Tỷ lệ tích lũy phụ thuộc vào quyết định của chủ
ngân hàng về tích lũy và tiêu dùng. Những ngân hàng lâu năm, nguồn vốn tích lũy
từ lợi nhuận sẽ cao hơn so với vốn chủ sở hữu hình thành ban đầu.
Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm để mở
rộng quy mô hoạt động, để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng nhu cầu gia
tăng thêm vốn chủ sở hữu do Ngân hàng Trung ơng quy định Đặc điểm của
nguồn này là không thờng xuyên, song giúp cho chủ ngân hàng có đợc lợng vốn
lớn lúc cần thiết.
2.1.3. Các quỹ.
Ngân hàng có nhiều quỹ, mỗi quỹ có mục đích riêng, các quỹ này thuộc sở
hữu của ngân hàng, nguồn hình thành các quỹ này là từ thu nhập của ngân hàng.
Tuy nhiên, việc sử dụng các quỹ này vào hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào mục
đích sử dụng quỹ.
Ta có thể kể đến một số quỹ của ngân hàng nh sau: Quỹ dự phòng tổn thất,
quỹ này đợc trích lập hàng năm và đợc tích lũy lại nhằm bù đắp những tổn thất sảy
ra. Quỹ bảo toàn vốn nhằm bù đắp hao mòn của vốn dới tác động của lạm phát.
Quỹ thặng d là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênh lệch giữa mệnh
giá và thị giá của cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới. Ngoài ra các ngân hàng
còn có thể có các quỹ sau: quỹ khen thởng, quỹ phúc lợi, quỹ giám đốc

lợng lớn vốn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội để phân phối vào các hoạt động tăng tr-
ởng kinh tế. Bên cạnh việc ngân hàng huy động vốn qua các hình thức tiền gửi,
tiền tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn thì cùng với sự phát triển của khoa học
công nghệ, các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng đợc mở rộng
và đa dạng cũng khuyến khích các cá nhân mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng.
Do đó, nguồn vốn trên các tài khoản tiền gửi của cá nhân mà ngân hàng huy động
đợc cũng không ngừng tăng lên. Với việc huy động vốn tiền gửi của khách hàng
đã đem lại cho ngân hàng một nguồn vốn để kinh doanh, đồng thời giúp cho ngân
hàng có thể nắm bắt đợc những thông tin, t liệu chính xác về tình hình tài chính
của các tổ chức, cá nhân có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Bên cạnh đó, các
NHTM còn đợc phát hành các chứng chỉ tiền gửi , kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu
ngân hàng để huy động vốn. Nhng để đợc phát hành các giấy tờ có giá này thì
NHTM phải lên cân đối toàn hệ thống và nếu đợc Thống đốc Ngân hàng Trung -
ơng chấp thuận thì mới đợc phép phát hành để huy động trên thị trờng vốn. Để thu
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hút đợc khối lợng lớn khách hàng gửi tiền vào ngân hàng thì ngân hàng cần phải
đa ra mức lãi suất hấp dẫn. Do đó, đối với mỗi hình thức huy động với kỳ hạn khác
nhau thì lãi suất cũng khác nhau, thờng thì những tài sản nợ nào có thời hạn ngắn
thì ngân hàng phải trả một khoản chi phí thấp hơn và ngợc lại. Có khoản mục ngân
hàng không phải trả chi phí, bù lại ngân hàng phải thanh toán hộ khách hàng trên
tài khoản của họ tại ngân hàng.
Nh vậy, nguồn vốn huy động có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng vì đây là nguồn vốn cơ bản để ngân hàng cho vay, qua đó
thu lợi nhuận. Chính vì thế, nguồn vốn huy động quy định nét đặc trng của kinh
doanh ngân hàng.
2.3. Nguồn đi vay.
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM. Tuy nhiên, khi cần, NHTM
có thể vay mợn thêm. Tại nhiều nớc, Ngân hàng Trung ơng thờng quy định tỷ lệ
giữa nguồn tiền huy động và vốn chủ sở hữu. Do vậy nhiều ngân hàng vào những

hàng nhng ngân hàng vẫn chấp nhận. Nghiệp vụ này ngời ta hay gọi là vay
nóng.
3. Vai trò của nguồn vốn huy động và sự cần thiết phải huy động vốn.
3.1. Vai trò của nguồn vốn huy động đối với nền kinh tế.
Đối với nền kinh tế của bất cứ quốc gia nào, vốn có vai trò đặc biệt quan
trọng, nhất là trong thời kì đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nớc.
Nớc ta từ khi chuyển sang cơ chế mới, các đơn vị kinh tế đợc tự chủ trong
hoạt động kinh doanh. Họ phải tự mình tạo lập các nguồn vốn khác nhau và sử
dụng có hiệu quả chúng. Muốn hoạt động sản xuất kinh doanh trớc hết mọi thể
nhân, pháp nhân phải có một số vốn mà pháp luật quy định bắt buộc gọi là vốn
pháp định. Hơn nữa, quá trình đầu t phát triển phải tính đến hiệu quả lâu dài, có
nghĩa là không thể đầu t vào công nghệ lạc hậu mà phải có phơng tiện máy móc
kỹ thuật tiên tiến. Nhng thực tế nhu cầu thờng vợt quá khả năng nên các đơn vị, cá
nhân thờng phải vay vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của đơn vị, cá
nhân mình. Đối với Ngân sách Nhà nớc do nhu cầu chi tiêu cho tiêu dùng và đầu t
ngày càng tăng nhng nguồn thu tăng trởng chập hơn nên thờng bị thiếu hụt. Tất
nhiên thiếu hụt đó có thể đợc Nhà nớc bù đắp bằng cách in thêm tiền, nhng cách
này có thể làm gia tăng tỷ lệ lạm phát, ảnh hởng không tốt tới nền kinh tế. Do đó,
nhà nớc cũng cần phải tự tìm cách huy động vốn để bù đắp thiếu hụt Ngân sách.
Chính sách huy động vốn là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc
gia, nó liên quan đến chính sách phân phối thu nhập của quốc gia đó, tác động trực
tiếp đến mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng. Chính sách huy động vốn trong
nền kinh tế thị trờng có ảnh hởng trực tiếp đến các hoạt động tài chính, tình hình
lạm phát và ổn định tiền tệ. Vì nguồn vốn có vai trò to lớn đối với nền kinh tế nh
vậy, nên chúng ta cần phải khơi thông các nguồn vốn cho đầu t phát triển kinh tế,
thông qua các kênh: vốn từ ngân sách nhà nớc, vốn huy động của các tổ chức tín
dụng Trong các kênh trên, vốn từ ngân sách nhà n ớc chỉ đáp ứng nhu cầu của
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
các doanh nghiệp nhà nớc. Nhng hiện nay số lợng doanh nghiệp nhà nớc đã giảm

doanh của mình. Chi phí huy động vốn của ngân hàng liên quan chặt chẽ với lãi
suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và lãi suất các công cụ nợ
do ngân hàng phát hành.
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nguồn vốn huy động không những giúp cho ngân hàng bù đắp đợc thiếu hụt
trong thanh toán, tăng nguồn vốn trong kinh doanh mà thông qua huy động vốn,
ngân hàng nắm bắt đợc năng lực tài chính của khách hàng có quan hệ tín dụng với
ngân hàng. Qua đó, ngân hàng có căn cứ để xác định mức vốn đầu t cho vay đối
với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời tệ tham ô, trốn thuế, lừa
đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng. Từ đó có biện pháp ngăn
chặn và xử lý kịp thời.
Cơ cấu nguồn vốn cũng ảnh hởng trực tiếp tới cơ cấu cho vay của NHTM.
Vốn tự có của ngân hàng chỉ phát sinh khi nhu cầu thanh toán tín dụng cấp bách
còn ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn huy động đợc. Nếu một ngân hàng huy
động đợc vốn trung và dài hạn thì có thể mở rộng nghiệp vụ tín dụng đầu t dài hạn.
Nhng hiện nay việc huy động vốn trung và dài hạn cha đáp ứng đợc nhu cầu đầu t
phát triển kinh tế nên một ngân hàng có thể dùng vốn hoạt động ngắn hạn để cho
vay trung và dài hạn nhng không đợc vợt quá một tỷ lệ nhất định vì điều đó sẽ dẫn
đến nguy cơ mất khả năng thanh toán của ngân hàng.
Bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay hay nguồn vốn ngân hàng huy
động đợc lại là nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên công tác huy động vốn
càng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy,
công tác huy động vốn là một mảng hoạt động lớn của các NHTM và nó quyết
định rất lớn đến thành công hay thất bại của ngân hàng.
3.3. Sự cần thiết phải huy động vốn.
Phải khẳng định rằng việc duy trì, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay là
một tất yếu. Nó bắt nguồn từ yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, cũng
nh từ thực trạng và thực tiễn phát triển của nền kinh tế đất nớc. Kể từ khi nớc ta

có ý nghĩa quan trọng và giữ vai trò quyết định đến sự phát triển lâu dài và vững
chắc của một đất nớc. Trong lúc đó lại là nguồn vốn chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng nguồn vốn của ngân hàng cho nên nếu phát huy tốt công tác này sẽ
tăng cờng đợc một nguồn vốn lớn cho nền kinh tế. Nh vậy công việc đẩy mạnh
công tác huy động vốn là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quyết định đến cả quá
trình phát triển nền kinh tế bởi lẽ:
Trên phơng diện lý luận và kinh nghiệm thực tế của các nớc phát triển, bất
kỳ nớc nào cũng phải sử dụng nguồn lực nội bộ là chính. Sự chi viện, bổ sung từ
bên ngoài dù là viện trợ cho vay hay đầu t nớc ngoài cũng chỉ là tạm thời. Vốn
ODA là vốn vay thì cuối cùng vẫn phải dùng vốn trong nớc để trả gốc và lãi. Vốn
đầu t trực tiếp từ nớc ngoài cũng chỉ là phần bổ sung, không thể thay thế cho đầu t
và sản xuất trong nớc. Vì thế cần phải phát huy tốt công tác huy động vốn.
Thực tế việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài bao giờ cũng phải có vốn đối ứng
bên trong mới có thể phát triển một cách vững chắc. Vì vậy dù là công trình đợc
đầu t từ nguồn vốn bên ngoài thì vốn đầu t trong nớc cũng có ý nghĩa quyết định
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bởi vì nếu không có vốn đầu t trong nớc đầu t vào cơ sở hạ tầng kinh tế: điện nớc,
đờng xá, thông tin liên lạc hay là công trình văn hoá xã hội nh trờng học, bệnh
viện thì hiệu quả sản xuất sẽ giảm sút.
Về lợi ích dân tộc, nếu không có vốn đầu t trong nớc đủ mức cần thiết thì
xét về lâu dài nguồn của cải làm ra (tính thông qua chỉ tiêu GDP) có thể lớn nhng
phần của cải thực mà ta đợc hởng (tính thông qua chỉ tiêu GNP) lại rất ít. Nh vậy,
nền kinh tế nhìn thấy có vẻ phồn vinh nhng thực ra của cải đó không thuộc sở hữu
của nhân dân trong nớc. Tỷ lệ góp vốn của các doanh nghiệp trong nớc chỉ dừng
lại ở mức 30% nh hiện nay chủ yếu là do thiếu vốn đối ứng trong nớc. Không ít
doanh nghiệp trong nớc phải dùng quỹ đất để góp vốn, phần còn lại phải đi vay n-
ớc ngoài để góp vốn liên doanh. Một số doanh nghiệp trong nớc mua thiết bị nớc
ngoài theo hình thức trả chậm nhng do không có vốn nên phải đi vay thơng mại
với những điều kiện bất lợi làm ảnh hởng không tốt đến hiệu quả trong quá trình

trong nớc đồng thời cũng là tiền đề, là điều kiện để đón các nguồn vốn từ nớc
ngoài.
Các NHTM có thể huy động vốn từ các đối tợng sau: các tổ chức kinh tế,
các tầng lớp dân c, các ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác, Ngân hàng Trung -
ơng. Trong đó nguồn vốn huy động từ các doanh nghiệp, các tầng lớp dân c là
quan trọng nhất và nó là nguồn vốn chủ yếu và mang tính chất lâu dài. Mọi
NHTM đều phải biết dựa vào tiết kiệm, tích lũy của các doanh nghiệp và dân c.
Nguồn vốn huy động từ các tổ chức tài chính khác, từ Ngân hàng Trung ơng
không chiếm tỷ trọng lớn nhng nó tạo vốn khả dụng cho ngân hàng, đáp ứng đợc
nhu cầu vốn đột xuất của ngân hàng.
1. Các hình thức huy động.
Do NHTM huy động theo phơng thức đi vay để cho vay mà vốn tự có của
ngân hàng chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động. Do
vậy, để có thể tồn tại và phát triển, NHTM phải quan tâm tới các hình thức tạo vốn
để không ngừng mở rộng, phát triển vốn để cạnh tranh trên thị trờng. Quá trình tạo
vốn đợc thực hiện thông qua các hình thức sau:
1.1. Tạo vốn thông qua tiền gửi thanh toán.
Tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp hoặc cá nhân: đây là khoản tiền mà
khách hàng gửi vào ngân hàng nhờ ngân hàng giữ hộ và thanh toán hộ. Trong
phạm vi số d cho phép, các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều đợc
ngân hàng thực hiện. Các khoản thu của ngân hàng, cá nhân đều có thể đợc nhập
vào thiền gửi thanh toán theo yêu cầu. Nhìn chung đây là một khoản huy động có
lãi suất thấp, có khi bằng không, thay vào đó chủ tài khoản đợc hởng các dịch vụ
ngân hàng với mức phí thấp.
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mặc dù, đối với tiền gửi thanh toán, ngời gửi có thể gửi vào hoặc rút ra bất
cứ lúc nào, song giữa việc gửi vào và rút ra có sự chênh lệch nhất định về thời gian
và số lợng, nên các loại tài khoản này luôn có số d. Ngân hàng có thể huy động số
d đó làm nguồn vốn tín dụng để cho vay. Một số ngân hàng kết hợp tài khoản tiền

22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Để tăng cờng huy động nguồn vốn này, trớc hết các ngân hàng thờng đa ra
nhiều loại thời hạn khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của các loại khách hàng khác
nhau. Thông thờng có các loại kỳ hạn sau: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12
tháng, 2 năm, 5 năm. Với mỗi loại thời hạn, ngân hàng áp dụng một mức lãi suất t-
ơng ứng, với nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
1.3. Tạo vốn thông qua tiền gửi tiết kiệm.
ở các nớc phát triển, trong các loại tiền gửi vào ngân hàng thì tiền gửi tiết
kiệm đứng vị trí số hai về mặt số lợng. Tiền gửi tiết kiệm là khoản để dành của cá
nhân nhằm hởng lãi suất theo định kỳ, loại tiền gửi này thờng chiếm tỷ trọng khá
cao (Mỹ: 25%, Việt Nam: 60 70%). Tiền gửi tiết kiệm bao gồm các loại:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: (bao gồm cả nội tệ và ngoại tệ)
Với loại tiết kiệm này ngời gửi có thể rút một phần hay toàn bộ theo yêu
cầu. Tuy nhiên, khác với tiền gửi thanh toán, ngời gửi không đợc sử dụng các công
cụ thanh toán để chi trả cho ngời khác.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (bao gồm cả nội tệ và ngoại tệ): loại tiền gửi
này có nội dung cơ bản giống nh tiền gửi có kỳ hạn mà chúng ta nghiên cứu ở
trên.
1.4. Tạo vốn thông qua phát hành các giấy tờ có giá.
Giống nh các doanh nghiệp khác ngân hàng cũng huy động vốn bằng cách
phát hành các giấy tờ có giá (hay còn gọi là các công cụ nợ) nh kỳ phiếu, trái
phiếu, tín phiếu ngân hàng để huy động vốn trên thị tr ờng vốn.
Các công cụ nợ của ngân hàng là các giấy nhận nợ mà ngân hàng bán cho
công chúng. Đây là cách thức vay vốn của NHTM, bởi vì những ngời sở hữu các
công cụ này đợc hoàn trả vốn vào thời gian đáo hạn cộng thêm khoản tiền lãi nhất
định. Những công cụ nợ của ngân hàng là:
- tín phiếu ngân hàng: Đây là công cụ nợ ngân hàng dùng để huy động
những khoản vốn ngắn hạn.
- Kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng: Là những công cụ nợ để ngân hàng huy

giá cả hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể để đáp ứng tốt nhất nhu
cầu, mong muốn của khách hàng về chất lợng, chủng loại các sản phẩm của ngân
hàng. Không những thế, công tác marketing ngân hàng còn phải biết kích thích
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
các nhu cầu của khách hàng nhằm lôi kéo khác hàng về với mình để không ngừng
mở rộng thêm các khách hàng mới, ngày càng thu hút đợc nhiều vốn hơn.
Trên cơ sỏ nghiên cứu thị trờng ngân hàng có thể nắm bắt toàn bộ các thông
tin về môi trờng kinh doanh, về khách hàng, đồng thời xây dựng chiến lợc
marketing. Trên cơ sở này, các ngân hàng sẽ sử dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo
các công cụ kỹ thuật của marketing ứng dụng trong hoạt động của ngân hàng để
thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Các công cụ kỹ thuật marketing đợc
tập trung vào 4 chính sách lớn:
- Chính sách thông tin, ngiên cứu, tìm hiểu điều tra.
Thực thi chính sách này cần huy động toàn bộ phơng tiện vật chất cần thiết
để thực hiện việc quan sát, phân tích và tổng hợp các lĩnh vực cơ bản có liên quan
đến thị trờng của ngân hàng. Từ các thông tin có đợc ngân hàng sẽ đa ra các chính
sách kinh doanh nói chung và chính sách huy động vốn nói riêng phù hợp với nhu
cầu của khách hàng và nhu cầu sử dụng vốn của thị trờng.
- Chính sách sản phẩm giá cả.
Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng bao gồm các dịch vụ cơ bản của nghề
ngân hàng là nghiệp vụ huy động vốn, nguồn vốn sử dụng vốn, nghiệp vụ thanh
toán và các nghiệp vụ ngoại vi mang tính chất hỗ trợ nh dịch vụ t vấn khách hàng,
nghiệp vụ thông tin theo nhu cầu, dịch vụ két có những nghiệp vụ ngoại vi
không mạng lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng, song có tác dụng kích thích sự
chú ý, thu hút khách hàng và làm tăng giá trị cung ứng sự thỏa mãn của khách
hàng đối với các dịch vụ cơ bản. Đặc biệt với sự đa dạng hóa các sản phẩm của
nghiệp vụ huy động vốn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng khả năng huy
động vốn. Hiển nhiên, một ngân hàng có các dịch vụ tốt, đa dạng sẽ có nhiều lợi
thế hơn so với các ngân hàng khác mà các sản phẩm dịch vụ không tốt. Một ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status